MÔI TRƯỜNG BÁCH KHOA
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác tạo động lực lao động trong Công
2.4.1.Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài
- Pháp luật của Nhà nước, chính sách của Chính phủ
Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa và các doanh nghiệp, tổ chức khác nói chung đều hoạt động theo pháp luật, tuân thủ các điều khoản, quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh đối với các Công ty Cổ phần. Bất kỳ sự thay đổi nào về chinh sách pháp luật cũng đều tác động đến hoạt động của công ty.
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, công ty Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của các quy định của pháp luật hiện hành. Các chính sách về Bảo hiểm xã hội, các chính sách về thuế có ảnh hưởng lớn đến Công ty. Người lao động tại công ty chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuế thu nhập cá nhân. Trong số lao động của công ty có không ít lao động là lao động chủ chốt trong gia đình, mặc dù được giảm trừ gia cảnh nhưng vẫn phải chịu một phần thuế thu nhập cá nhân. Hơn nữa, giá cả các mặt hàng thiết yếu, như: nhà, điện, nước, xăng dầu ... đều có xu hướng tăng cao. Vì vậy, luật thuế thu nhập cá nhân tăng sẽ ảnh hưởng đến lao động tại công ty. Bên cạnh đó, các chính sách khác của nhà nước liên quan đều sẽ tác động và chi phối hoạt động của công ty nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung.
- Sự thay đổi của thị trường lao động
Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa với đặc thù hoạt động trong các lĩnh vực như đào tạo và phát triển nguồn nhân lực về công nghệ vật liệu và môi trường; thực hiện tích hợp các hệ thống về công nghệ thông tin, đào tạo Tiếng Anh- Tin học... nên công ty cũng gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các tổ chức, các đơn vị cũng hoạt động trong lĩnh vực này. Hiện nay và trong thời gian tới, thị trường lao động (về nhu cầu việc làm) tiếp tục phát triển theo chiều hướng đổi mới công nghệ, nâng cao quản lý; phát triển quy mô sản xuất kinh doanh, quy mô doanh nghiệp tạo nhiều chỗ làm mới thu hút lao động với nhiều ngành nghề đa dạng, đặc biệt nhu cầu việc làm chất lượng cao. Các nhóm ngành nghề: Công nghệ - Kỹ thuật ngày càng phát triển theo xu hướng công nghệ và toàn cầu hóa. Đây là cơ hội và cũng là thách thức đối với công ty. Bởi theo sự thay đổi của thị trường lao động, nhân lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ ngày một dồi dào hơn. Tuy nhiên sẽ ngày càng nhiều các doanh nghiệp khác cũng sẽ phát triển về lĩnh vực công nghệ thông tin, đồng nghĩa với việc người lao động có nhiều lựa chọn hơn và công ty Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa sẽ ngày càng phải hoàn thiện chính
sách tạo động lực lao động tại công ty.
- Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của cả nước và địa phương
Sự thay đổi về môi trường kinh tế xã hội: mức sống của người dân đang ngày càng cao; thị trường kinh doanh ngày càng được mở rộng. Đối tượng sử dụng các thiết bị công nghệ cao ngày càng nhiều hơn, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và và tiêu thụ các phần mềm công nghệ, dòng thiết bị thông minh được gia tăng nhanh chóng, đồng nghĩa với việc nhiệm vụ của Công ty Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa sẽ nặng nề và áp lực hơn trong việc tìm ra sự khác biệt để tiếp tục tồn tại và phát triển. Điều kiện chính trị xã hội ổn định, và những chính sách hội nhập mở cửa nền kinh tế ra các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức hơn cho công ty. Bởi công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, với điều kiện toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường như hiện nay sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác, phát triển nhưng cũng có sự cạnh tranh gay gắt, nếu không ngừng hoàn thiện và đổi mới thì sẽ tụt hậu và thất bại.
- Chính sách tạo động lực lao động của các doanh nghiệp khác
Lao động chủ yếu của công ty là lao động trình độ cao- lượng lao động luôn khan hiếm trên thị trường, do đó sẽ luôn có nhiều đơn vị tìm cách lôi kéo lao động giỏi trong lĩnh vực công nghệ thông tin về làm việc với mức thu nhập cao hơn, chế độ đãi ngộ tốt hơn. Do đó, công ty cũng chịu ảnh hưởng của các chính sách tạo động lực lao động của các doanh nghiệp khác. Các chính sách thu hút nhân lực, tạo động lực lao động của các doanh nghiệp khác với cùng ngành nghề giống nhau, luôn tìm cách thu hút nhân tài trong lĩnh vực công nghệ. Các doanh nghiệp cạnh tranh cùng ngành luôn muốn tận dụng nguồn nhân lực đã được đào tạo, đã có kinh nghiệm và năng lực ở một số công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn nhất định.
Do đó, công ty Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa phải có chính sách giữ nhân viên đã qua đào tạo hoặc nhân viên nguồn bằng các biện pháp tạo động lực lao động. Đồng thời, do đặc trưng của ngành hoạt động trong môi trường cạnh tranh nên cũng đòi hỏi người lao động phải luôn cố gắng phấn đấu hết mình nếu không sẽ bị đào thải. Vì vậy công ty phải điều chỉnh chính
sách tạo động lực lao động cho phù hợp để giữ chân nhân tài.
2.4.2.Các yếu tố thuộc môi trường bên trong
- Mục tiêu và định hướng phát triển của Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa là xây dựng công ty thành một trong những công ty về công nghệ vật liệu và môi trường hàng đầu tại Việt Nam. Đi đôi với việc phát triển và mở rộng quy mô công ty là việc đảm bảo đời sống của người lao động, xây dựng môi trường làm việc thân thiện và phát huy tối đa năng lực của từng nhân viên.
Công ty chủ trương tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên của công ty. Công ty là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển nền công nghiệp vật liệu của Hà Nội và khu vực miền Bắc, định hướng phát triển thêm khu vực phía Trung và thị trường miền Nam, và vươn tới thị trường quốc tế. Với mục tiêu và định hướng như vậy, công ty chắc chắn sẽ cần xậy dựng chính sách tạo động lực phù hợp để thu hút nhân tài, bởi yếu tố con người là chìa khóa thành công, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ vật liệu và môi trường.
- Khả năng tài chính của tổ chức:Tài chính là một bộ phận cấu thành trong các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Nó có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại với các hoạt động kinh tế khác. Trong hoạt động tạo động lực lao động, khả năng tài chính của tổ chức sẽ tác động không nhỏ, đặc biệt với công ty. Với đặc thù công ty cổ phần , do đó công ty không có nguồn tài chính mạnh cho hoạt động tạo động lực lao động. Bất cứ hoạt động tạo động lực lao động nào được đưa ra đều cần sự phê duyệt của ban giám đốc, cao hơn nữa là hội đồng quản trị ( nếu những hoạt động cần tài chính nhiều). Công ty chủ trương lựa chọn những hoạt động thiết thực, tiết kiệm chi phí, nên thực tế cho thấy ccác hoạt động tạo động lực chưa được phong phú và đa dạng.
- Các điều kiện về môi trường như văn hóa công ty, điều kiện lao động chưa thực sự tốt, do công tác này chưa có người chuyên trách đảm nhiệm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản trị tổ chức, vì đi đôi với các chính sách quản trị nhân lực cần có một môi trường văn hóa tốt, một điều kiện làm việc phù hợp.
- Lãnh đạo công ty tuy cũng thường xuyên quan tâm, theo dõi nhân viên và đang cố
gắng hoàn thiện bộ máy quản trị nhưng do tác phong làm việc và kinh nghiệm quản lý kinh doanh theo thói quen cũ, việc quản lý lao động của công ty không theo một qui định hay cách thức nhất định. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách làm việc hay cách quản lý trong thời gian vừa qua.
- Công ty tuy đã có những khóa đào tạo nhân viên bán hàng và đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân nhưng nhìn chung tính hiệu quả chưa cao, chưa có sự đầu tư hợp lý và chưa mang lại kết quả như mong muốn. Đối với công việc kinh doanh và dịch vụ thì việc phục vụ khách hàng là điều rất quan trọng, chất lượng dịch vụ phải được đảm bảo, nên việc đào tạo đội ngũ bán hàng cũng như đội ngũ kỹ thuật dịch vụ là điều tối quan trọng.
- Người lao động ở bất kỳ đâu đều mong muốn đạt được những mức lương cao, có công việc lâu dài và ổn định, có thể thăng tiến trong công việc. Nhưng ở Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa do qui mô cũng như lĩnh vực kinh doanh, nên hầu như công tác đề bạt hay thăng chức chưa được quan tâm, người lao động giữ một vị trí làm việc rất lâu trong công ty mà không có sự thay đổi, điều này dẫn đến tâm lý chán nản của người lao động.
- Tính chất công việc tại công ty phải thường xuyên tiếp xúc với khách hàng nên thái độ của nhân viên là vô cùng quan trọng, tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái, thái độ phục vụ tốt thì mới thu hút được đông khách hàng tới với công ty vì mặt hàng mà công ty kinh doanh hiện nay có rất nhiều đối thủ cạnh tranh.
- Ngoài ra, công ty cũng cần một đội ngũ lao động quản
lý và công nhân kỹ thuật có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu công việc ngày càng khó khăn, việc giữ chân những lao động giỏi ở công ty cũng là vấn đề rất nan giải vì nếu có nơi khác trả mức lương cao hơn người lao động sẵn sàng hủy bỏ hợp đồng với công ty. Do vậy, điều quan trọng để cạch tranh với cá công ty khác chính là các chính sách đãi ngộ, các chính sách quản trị hợp lý để người lao động cảm thấy gắn bó với công ty hơn là đi làm chỉ vì tiền lương.
- Hiệu quả kinh doanh của công ty:Trong các năm vừa qua, tình hình hoạt động kinh doanh của công ty nhìn chung là khá ổn định, do dòng sản phẩm kinh doanh của
công ty là dòng sản phẩm uy tín trên thị trường, cùng với sự cung cấp dịch vụ cho khách hàng một cách khá tốt, với các chế độ hậu mãi bảo đảm quyện lợi cho khách hàng, công ty ngày càng có uy tín trên thì trường cạnh tranh.
2.5.ĐánhgiácôngtáctạođộnglựcchongườilaođộngtạiCông ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa
2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu:
Để tìm hiểu thực tế công tác tạo động lực cho người lao động tại Công ty Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách Khoa , em sử dụng phát phiếu điều tra đến cán bộ công nhân viên trong Công ty. Cuộc điều tra nhằm thăm dò ý kiến mọi người về việc thực hiện công tác tạo động lực làm việc tại Công ty.
Mẫu phiếu điều tra gồm 12câu hỏi liên quan đến các vấn đề tạo động lực cho người lao động trong Công ty. Đó là những thông tin liên quan đến tiền lương, thưởng, phúc lợi và các yếu tố thuộc về môi trường, điều kiện làm việc, quan hệ lãnh đạo. Có những câu hỏi trực tiếp vào nội dung quan tâm, có những câu hỏi mang tính trắc nghiệm để kiểm tra độ chính xác của các thông tin chính cần thu thập. Chi tiết bảng hỏi có trong phần phụ lục của chuyên đề.
Kết quả thu thập được thông qua điều tra bằng bảng hỏi. Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên mẫu phiếu điều tra phát ra cho 40 đối tượng đại diện cho cán bộ công nhân viên trong Công ty (các bộ phận phòng ban ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau). Do tâm lý người lao động là tương đối rụt rè và do không có thời gian nên họ không muốn đưa ra ý kiến của mình nên các thông tin về cá nhân hầu như không có được. Bảng câu hỏi này chỉ xin đi phân tích những nội dung chính mà người lao động đã trả lời chứ không đi phân tích phần thông tin chung.
2.5.2.KếtquảđánhgiácôngtáctạođộnglựcchongườilaođộngtạiCôngty.
- VềTrình độchuyên môn nghềnghiệp của người lao động
Qua khảo sát cho thấy trình độ chuyên môn nghề nghiệp của người lao động tại Công ty như sau:
Biểu đồ 2-1: Trình độ chuyên môn
Kết quả cho thấy có 40% đạt trình độ đại học, cao đẳng, 30% trình độ trung cấp chuyên nghiệp, 18% trình độ sau đại học và chỉ có 12% là khác.
Qua đây , ta thấy số nhân viên có trình độ chuyên môn của công ty khá là cao. Bởi đây là công ty chuyên về công nghệ nên chủ yếu là tuyến nhân viên đạt trình độ cao để họ có thể làm việc tốt hơn trên các thiết bị làm việc.
Trong những năm qua, Công ty đã xây dựng được một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có thái độ làm việc tận tâm, có đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn ngày càng được cải thiện chính là yếu tố giúp cho công ty lập được uy tín trên thị trường, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Về tuổi đời của người lao động
Qua khảo sát cho thấy trên 1/3/ lao động của Công ty có tuổi đời từ 30 tuổi trở xuống. Cụ thể như sau:
Biểu đồ 2-2: Tuổi
Câu hỏi này giúp xác định được độ tuổi của công nhân viên trong công ty.
Kết quả điều tra cho thấy có 16% nhân viên trong độ tuổi 20-25, 20% trong độ tuổi 26-30, 32% từ 31-35 tuổi, 20% tuổi từ 36-40 và ngoài 40 tuổi là 12%.
- Vềmức độcần thiết của tạo động lực cho lao độngtrong Công ty
Đại đa số người lao động trong công ty cho rằng tạo động lực cho người lao động tại công ty là những hoạt động rất cần thiết cho sự phát triển công ty. Kết quả khảo sát cụ thể như sau:
Biểu đồ 2-3:Mức độ cần thiết của tạo động lực cho lao động
- Đánh giá về công tácxác định mục tiêu tao động lực cho lao động trong Công ty Đa số người lao động cho rằng công tác xác định mục tiêu tạo động lực cho lao động ở công ty thực hiện khá tốt. Kết quả khảo sát cụ thể như sau:
Biểu đồ 2-4: Mục tiêu tạo động lực cho lao động
- Công tác xác định mục tiêu tao động lực cho lao động trong Công ty: Tùy theo vị trí công việc và điều kiện bản thân, người lao động tai Công ty có những quan tâm (nhu cầu) khác nhau đến các vấn đề của bản thân cũng như của công ty.Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy, sự quan tâm của người lao động tập trung vào một số vấn đề như có thu nhập cao, được đại ngộ tốt; được đối xử công bằng; được làm việc trong một môi trường làm việc tốt… Tuy nhiên, giữa các nhóm lao động, trật tự các ưu tiên này có khác nhau. Cụ thể như sau:
Biểu đồ 2-5: Nhu cầu của nguồn lao động
Mỗi người đều có những lý do khác nhau khi làm việc, nhưng tất cả chúng ta đều làm việc bởi vì có thể đạt được điều mình cần từ công việc. Những thứ chúng ta đạt được ảnh hướng tới tinh thần, động lực và chất lượng cuộc sống của chính chúng ta. Ở mỗi cá nhân, mỗi nhóm có những mức độ nhu cầu khác nhau và trong những thời điểm cụ thể thì chủ thể cần thoả mãn những loại nhu cầu nhất định.
những nhu cầu mà người dưới quyền mong muốn.
Cách đơn giản nhất của sự phân chia mức độ nhu cầu là phân chia thành:
Những nhu cầu ở mức độ thấp - Nhu cầu vật chất và những nhu cầu ở mức độ cao - Những nhu cầu tinh thần.
Các nhu cầu vật chất là những nhu cầu có trước và là nền tảng cho hoạt động sống của con người. Các nhu cầu vật chất cơ bản nhất là: ăn, mặc, ở. Trong lịch sử nhân loại, cuộc đấu tranh của con người với thiên nhiên, của con người với con người trước hết là nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất.
Các nhu cầu tinh thần cơ bản của con người bao gồm: mong muốn có được địa vị, được mọi người chú ý, tôn trọng, được đảm bảo nghề nghiệp, an ninh, có cơ hội thăng tiến, nhu cầu nhận thức, giao tiếp, lao động, hoạt động xã hội, v.v...
- Về điều kiện làm việc tại Công ty
Đa số người lao động đánh giá điều kiện làm việc tại Công tư Cổ phần Công nghệ Vật liệu và Môi trường Bách khoa là khá tốt so với mặt bằng chung hiện nay của các doanh nghiệp tương tự. Cụ thể như sau:
Biểu đồ 2-6: Điều kiện làm việc tại Công ty
Như vậy, để tạo được niềm tin và sự yên tâm cho người lao động làm việc trong môi trường tốt hơn. Tổ chức phải không ngừng cải tiến hệ thống trang bị điều kiện và môi trường làm việc để đảm bảo vệ sinh an toàn lao động như đưa thêm các thiết bị thông gió, chiếu sáng, thiết bị chống ồn rung, bụi, chống hơi khí độc...là cơ sở cải thiện sức khoẻ cho người lao động tốt hơn và nâng cao thể lực giúp người lao động hoàn thành tốt công việc
- Về mối quan hệ trong tập thể tại Công ty
Trong điều kiện KT-XH hiện nay, người lao động cho rằng các mối quan hệ trong tập thể tại Công ty là khá tốt, người lao động có thể yên tâm làm việc. Cụ thể như sau: