- Lao động để tạo ra các giá trị cho sự thỏa mãn Thông qua lao động sản xuất, bằng lao động của mình, con người sẽ nhận thức, suy nghĩ, cảm nhận về quá trình sản xuất
6. Các trường hợp khác
6.1. Về phương diện ngữ nghĩa, N2trong kết cấu gây khiến - kết quả thường chỉ đối tượng bị tác động. Do đó, kết cấu gây khiến - kết quả dễ dàng được cải biên thành kết cấu tượng bị tác động. Do đó, kết cấu gây khiến - kết quả dễ dàng được cải biên thành kết cấu bị động.
6.2. Trong kết cấu gây khiến – kết quả hành động của chủ thể gây ra một kết quả hiện thực dù là tích cực hay tiêu cực. Vị từ 2 (V2)biểu thị kết quả ấy. Nó có thể được phủ hiện thực dù là tích cực hay tiêu cực. Vị từ 2 (V2)biểu thị kết quả ấy. Nó có thể được phủ
định bằng không, chưa, chẳng...
6.3. Có thể có nhiều hơn một động từ hoặc tính từ, hoặc cả hai làm vị từ thứ hai trong cùng một câu. trong cùng một câu.
Bao nhiêu đau đớn trong tâm can làm Sinh thổn thức, nghẹn ngào.
(Đói, Thạch Lam)
Tiếng guốc ngoài hè làm Sinh ngửng lên trông ra cửa: vợ chàng về. (Đói, Thạch Lam)
6.4. Có thể có nhiều hơn một cụm N2 V2 trong cùng một câu
6.5. Trong kết cấu gây khiến – kết quả, đôi khi ở N2có mối quan hệ giữa chỉnh thể với bộ phận. với bộ phận.
6.6. Trong một số ngữ cảnh nhất định có thể lược bỏ V2 mà người đọc vẫn có thể hiểu
được.
7. Tiểu kết
Sau khi khảo sát trong một số tác phẩm văn học từ trước Cách mạng tháng 8 đến sau năm 1975, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:
Dạng thức thứ nhất N1 V1 N2 V2 (chủ ý) xuất hiện nhiều nhất, trong số 93 câu tư liệu loại 1 có tới 30 câu, chiếm đến 32% số tư liệu.
Nếu so sánh các dạng nguyên bản và biến thể, ta có thể thấy là dạng nguyên bản thì có nhiều hơn dạng biến thể.
Cụ thể dạng thức thứ hai N1 V1 N2 V2 (không chủ ý) là nguyên bản có 15 trường hợp trong khi dạng thức thứ ba N1 V1 V2 (không chủ ý) N2 là dạng biến thể chỉ có 5 trường hợp. Tương tự, dạng thức thứ tư N1 V1 N2 A là dạng nguyên bản có 15 trường hợp trong khi dạng thức thứ 5 N1 V1 A N2 là biến thể chỉ có 6 trường hợp.
Trong số các dạng đặc biệt, dạng bị động ít xuất hiện nhất, chỉ có duy nhất một câu trong tổng số tư liệu có dạng này. Lý do của kểt quả này có lẽ là do trong tiếng Việt, ý nghĩa chủ động – bị động ít khi được thể hiện rõ ràng.
Trong số các dạng đặc biệt, dạng thức có hơn một động từ hoặc tính từ hoặc cả hai làm vị từ thứ hai là có nhiều nhất. Trong 22 câu thuộc dạng đặc biệt thì có tới 10 câu có dạng này, chiếm 45% số tư liệu
Động từ làm, làm cho, khiến, khiến cho là những động từ thường xuyên xuất hiện trong kết cấu gây khiến – kết quả. Trong số tư liệu chúng tôi sử dụng để làm báo cáo khoa học này, chúng tôi không tìm thấy một động từ gây khiến nào khác ngoài bốn động từ trên.
Và trong 4 động từ làm, làm cho, khiến, khiến cho, động từ làm và làm cho xuất hiện nhiều hơn động từ khiến, khiến cho. Trong số tư liệu này, có tới 79 lần động từ làm
và làm cho xuất hiện, chiếm đến 85 %.
C. KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tìm hiểu bản chất ngữ pháp và ngữ nghĩa của loại kết cấu này. Chúng tôi đã chỉ ra mối quan hệ giữa hành động chuyển tác và hành động gây khiến. Chúng tôi đã chỉ ra sự khác biệt giữa kết cấu gây khiến – kết quả với kết cấu cầu khiến và kết cấu khiên động. Chúng tôi đã miêu tả cấu trúc gây khiến - kết quả về mặt hình thức và mô hình của nó.
Trong nghiên cứu, dựa vào những mô hình của cấu trúc gây khiến – kết quả, chúng tôi đã khảo sát một số kết cấu gây khiến – kết quả trong các tác phẩm văn học cả cũ và mới, và đã thu được những kết luận nhất định.
Việc nghiên cứu này cho phép người nghiên cứu thấy được hiện trượng ngữ pháp hoá diễn ra ở một số động từ tiếng Việt. Đó là trường hợp của những động từ "đánh", "làm"... Trong Tiếng Việt có một số kết cấu mang dáng dấp một kết cấu gây khiến - kết quả.
Cấu trúc gây khiến - kết quả là cấu trúc có tính phổ niệm, tuy nhiên mỗi một ngôn ngữ lại thể hiện cấu trúc này theo cách riêng của mình. Việc khảo sát cấu trúc này trong tiếng Việt, vì vậy, cũng sẽ góp phần làm rõ một số đặc điểm loại hình của tiếng Việt, với tư cách là một ngôn ngữ đơn lập phân tích tính điển hình.
Tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian, tư liệu cũng như kiến thức và kinh nghiệm làm báo cáo khoa học nên nghiên cứu này vẫn còn nhiều thiếu sót, chỉ có thể chỉ ra được một phần nhỏ trong các vấn đề liên quan đến kết cấu gây khiến – kết quả trong tiếng Việt. Chúng tôi hy vọng rằng sẽ có thể tiếp tục nghiên cứu kết cấu – gây khiến kết quả trong những báo cáo sắp tới.
NHẬP KHẨU SONG SONG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ NÀY VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ NÀY
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Kim Nhung
Lớp: K49 B Khoa học Quản lý
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Đỗ Khắc Chiến
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới chuyển sang thời kỳ mới trình độ phát triển thay đổi về chất, với hàm lượng chất xám ngày càng cao, khi quyền Sở hữu công nghiệp (SHCN) ngày càng thể hiện rõ rệt được những đặc tính thương mại của nó và trở thành một loại tài sản, hàng hoá đặc biệt, có giá trị kinh tế cao. Vậy nên trong sự lựa chọn giữa việc “bảo vệ nguyên tắc tự do cạnh tranh” hay “bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp” người ta bàn nhiều đến việc thừa nhận hay không thừa nhận về sự hợp pháp đối với hoạt động “nhập khẩu song song”. Vấn đề này tại mỗi Quốc gia khác nhau có những quan điểm, quy định khác nhau. Ở Việt Nam, chưa có một khung pháp lý hoàn chỉnh và chính thức cho hoạt động này chính vì vậy dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, đặc biệt gây nên sự hạn chế cho các chủ thể trong quá trình thực hiện.
Tạo lập được môi trường cạnh tranh lành mạnh để thúc đẩy hoạt động sáng tạo và sản xuất kinh doanh nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho chủ thể trong quá trình thực hiện là mục tiêu hướng đến của pháp luật Việt Nam. Xuất phát từ lý do đó tác giả chọn đề tài: “Nhập khẩu song song và quy định của Pháp Luật Việt Nam về vấn đề này”.