1. Sự hợp tác kinh doanh củaViệt Nam và Đức trong thời gian qua
Ngày 23/9/1975, Việt Nam và Đức đặt quan hệ ngoại giao với nhau. Hơn 37 năm qua, mối quan hệ đó ngày càng tốt đẹp.
Trong suốt 37 năm quan hệ hợp tác song phương cùng phát triển giữa Việt Nam và Đức, có rất nhiều lĩnh vực được cả hai nước chú trọng như: Đào tạo nhân lực, nghiên cứu các dự án, kinh tế, văn hoá… Ngày 23/05/1985, hội Hữu nghị Việt – Đức được thành lập, hỗ trợ và thúc đẩy hơn nữa mối bang giao của 2 nước.
Kỷ niệm 35 năm thành lập, năm 2010 – “Năm Đức tại Việt Nam” và “Năm Việt Nam tại Đức”, đã có nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ được tổ chức ở 2 nước, thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ thân thiết giữa hai nước.
Năm 2011 được coi là bước chuyển lớn cho mối quan hệ của 2 nước khi thủ tướng Đức lúc bấy giờ là Angela Merkel sang thăm Việt Nam, và vào ngày 11/10/2011, 2 nước đã ra tuyên bố chung Hà Nội: Việt Nam – Đức, chính thức nâng cấp quan hệ 2 nước thành quan hệ đối tác chiến lược.
Đức tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam tại Liên minh châu Âu. Năm 2011 kim ngạch thương mại Việt Nam-Đức vẫn tăng 33%, đạt gần 5,6 tỷ USD. Trong sáu tháng đầu năm, trao đổi thương mại hai nước đạt 2,8 tỷ USD; trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Đức đạt 1,9 tỷ USD.
Không chỉ là đối tác thương mại lớn, Đức còn là cửa ngõ trung chuyển hàng hóa của Việt Nam sang các nước châu Âu và còn là nhà tài trợ cung cấp một lượng lớn vốn ODA (khoảng 1 tỷ euro) cho Việt Nam.
Có vị thế quan trọng trong hợp tác thương mại Đức hiện đứng thứ 24 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với 184 dự án, vốn đăng ký trên 900 triệu USD.
Tính riêng trong 9 tháng đầu năm 2012, các nhà lãnh đạo chính trị 2 nước đã có những chuyến viếng thăm quan trọng, khẳng định mối băng giao của 2 nước, thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác về mọi mặt của 2 nước:
Tháng 9/2012, bằng chuyến thăm của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Công nghệ Liờn bang TS. Philipp Rửsler thỏng 9.2012 cựng với 50 doanh nghiệp rất quan tõm đến môi trường kinh tế Việt Nam
Trong chuyến thăm lần này, chiều 17-9, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) đã tổ chức trao tặng danh hiệu tiến sĩ danh dự cho Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Công nghệ CHLB Đức Philipp Roesler. Việc làm này là để ghi nhận những đóng góp nổi bật của ông Philipp Roesler trong hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Việt Nam và Đức.
Tiếp đó là chuyến viếng thăm Đức của bộ trưởng bộ ngoại giao Phạm Bình Minh, và Thủ hiến Bang Hessen đến Việt Nam, thúc đảy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Bang Hessen - một trung tâm tài chính, kinh tế, giáo dục quan trọng hàng đầu của Đức và châu Âu.
2. Cơ hội và thách thức:
1. Cơ hội:
Nước Đức là một thị trường có qui mô rộng lớn và tiềm năng rất cao, vì vậy việc các công ty Việt Nam thành lập và mở rộng các cơ sở kinh doanh tại đây là hết sức cần thiết. Ta biết rằng, nền văn hóa vật chất của Đức rất phát triển, ở vị trí hàng đầu thế giới về cơ sở hạ tầng kinh tế, giao thông, thông tin liên lạc, giáo dục, khoa học kỹ thuật... Vì thế, đây là một cơ hội lớn để các nhà đầu tư Việt Nam đưa doanh nghiệp của mình tiếp cận với nền văn kinh và kinh tế bậc
nhất châu Âu, nhằm học hỏi các kinh nghiệm và kiến thức để cắt giảm chi phí, gia tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh.
Trong mối bang giao ngày càng phát triển của 2 nước, các nhà đầu tư và các doanh nghiệp Đức đã bắt đầu kinh doanh ở thị trường Việt Nam. Đây là một cơ hội lớn để các doanh nghiệp, người lao động Việt Nam học hỏi các kỹ năng quản lý, làm việc và tiếp xúc với những kỹ thuật công nghệ hiện đại từ Đức.
Người Đức nói chung vốn có tính cách khá bảo thủ. Tuy nhiên, nếu như bạn đưa ra lý lẽ hợp lý và chặt chẽ thì vẫn có thể làm cho họ thay đổi suy nghĩ của mình. Vì vậy, các chiến lược tung ra sản phẩm mới tại thị trường này phải hết sức thận trọng. Nếu sản phẩm của chúng ta có tính độc đáo, mới mẻ cũng như gây ấn tượng mạnh, thì đó là một trong những động lực để người Đức sử dụng nó.
Hệ thống giá trị và tiêu chuẩn của một nước có ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh của nước đó. Không chỉ trong môi trường kinh doanh mà ở tất cả các lĩnh vực khác, người Đức luôn đặt vấn đề đúng giờ là ưu tiên số một. Thời gian đối với họ phải được sử dụng một cách tối ưu nhất, không được để lãng phí bất kì giây phút nào. Và nếu như chúng ta học tập được tác phong làm việc chuyên nghiệp đó thì sẽ là một lợi thế lớn để giảm chi phí kinh doanh.
Đặc trưng đề cao chủ nghĩa cá nhân và sự độc lập trong suy nghĩ, hành vi là một lợi thế để các doanh nghiệp có thể tiến hành phân khúc khách hàng cụ thể và hợp lý hơn. Dựa theo sở thích, nhu cầu, thị hiếu của từng phân khúc mà các doanh nghiệp đề ra các sản phẩm nhằm thỏa mãn cao nhất mong muốn của khách hàng.
Sự quản lý không được quan tâm như là một môn học riêng rẽ tại Đức, mà họ chủ yếu tập trung vào chuyên môn của quản trị doanh nghiệp hoặc một cấp độ quản lý cao hơn. Do đó, nhà kinh doanh có thể tiếp cận và học hỏi rất nhiều kiến thức bổ ích về quản trị doanh nghiệp từ các công ty Đức.
Bên cạnh đó, chúng ta phải biết hợp tác để tận dụng nền tảng giáo dục tiên tiến của Đức đào tạo những nhân viên, nhà quản lý toàn cầu cho doanh nghiệp Việt, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai, và đó cũng là một hướng đầu tư vô cùng đúng đắn.
Người tiêu dùng Đức rất quan tâm đến thương hiệu của sản phẩm. Vì thế, một số doanh nghiệp của Việt Nam đã có được sự công nhận trên thị trường quốc tế phải biết tận dụng lợi thế này để tiến hành chiến lược xâm nhập thị trường. Chúng ta có thể bắt đầu bằng hình thức nhượng quyền thương mại, sau khi đã gầy dựng thương hiệu trên thị trường thì tiến hành đầu tư mới hoàn toàn hoặc liên doanh với một công ty nội địa.
2. Thách thức:
Điều đầu tiên và quan trọng nhất đối với một sản phẩm khi muốn đặt chân vào một thị trường mới, không chỉ riêng ở Đức mà hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, thì chất lượng phải là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Đặc biệt, với những nước có nền văn hóa vật chất cao như Đức thì người tiêu dùng không bận tâm quá nhiều về giá cả mà họ quan tâm nhất đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm. Tất cả các sản phẩm muốn đưa vào thị trường Đức đều phải trải qua những qui trình kiểm tra chất lượng vô cùng nghiêm ngặt và khắt khe, mà đó cũng chính là điểm yếu của các sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam. Người Đức luôn nói không với những sản phẩm có yếu tố độc hại, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của họ.
Hiện nay, thói quen mua sắm trên thị trường Đức đang có những thay đổi như: không thích sử dụng đồ nhựa và thích dùng đồ gỗ, thích ăn thuỷ hải sản hơn thịt, yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hoá thay đổi nhanh. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sở thích và thói quen tiêu dùng trên thị trường này thay đổi rất nhanh. Người tiêu dùng Đức cần nhiều chủng loại hàng hoá với số lượng lớn và có vòng đời ngắn, giá rẻ hơn với các điều kiện về dịch vụ bán hàng cũng như sau bán hàng tốt hơn, thay vì sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao, giá đắt, vòng đời sản phẩm dài như trước đây. Tuy nhiên, chất lượng hàng hoá vẫn là yếu tố quyết định đối với phần lớn các mặt hàng được tiêu thụ trên thị trường này.Ngoài ra, xu hướng tiêu dùng “xanh” ngày càng trở nên phổ biến. Khách hàng quan chú trọng đến các khía cạnh về môi trường và xã hội liên quan đến sản xuất hàng hóa. Thị phần hàng thực phẩm
thân thiện với môi trường trên cả hai phương diện (giảm lượng hoá chất trong thực phẩm và không gây ô nhiễm môi trường) tăng lên nhanh chóng. Bao bì có khả năng tái sinh và ngay cả việc quảng cáo được tiến hành theo cách thân thiện môi trường luôn giành được sự ưu ái của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, người Đức còn trở nên khắt khe hơn trong việc lựa chọn hàng hoá xuất khẩu từ quan điểm đạo đức. Hàng hoá có được sản xuất với sự phân chia thu nhập công bằng cho người lao động thực sự, trong những điều kiện lao động phù hợp, không lạm dụng lao động trẻ em… đang là mối quan tâm lớn của thị trường.
Cách thức quản trị của chúng ta vẫn chưa có được sự nhất quán, chuyên nghiệp, mà đó là điều mà các nhà kinh doanh của Đức rất quan tâm. Doanh nhân Đức họ rất cẩn thận và chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhất. Các doanh nghiệp Đức rất quan tâm đến cạnh tranh, nhưng không phải để chiếm lĩnh thị trường mà chủ yếu là mở rộng thị phần- một điều có vẻ trái ngược với triết lý kinh doanh của người Việt Nam. Cũng như khi đàm phán kinh doanh với các công ty Đức, thì họ thường xem thường sự cạnh tranh về giá, mà thay vào đó, họ muốn cạnh tranh dựa trên chính đặc tính và sở trường trên sản phẩm của mình.Nhà quản lý Ðức và êkip làm việc của họ có xu hướng thiên về sản phẩm, và tin tưởng rằng một sản phẩm tốt thì khách hàng sẽ tự tìm đến nó. Các nhà lãnh đạo người Đức không cần nhìn thấy một bản báo cáo tài chính thật đẹp, mà điểm cốt yếu là họ muốn thấy sự thành công trong sản xuất của nhà máy. Một quản lý người Ðức tin tưởng rằng một dây chuyền sản xuất chất lượng tốt và một sản phẩm tốt sẽ làm được nhiều điều cho điểm cốt yếu hơn bất cứ điều gì . Giữa các quản lý người Ðức và công nhân thường gần gũi vì họ tin rằng họ đang làm việc cùng với nhau để tạo ra một sản phẩm.
Một bất lợi lớn khác là chi phí để thâm nhập vào thị trường lớn nhất châu Âu này là rất cao vì nơi đây có một nền văn hóa vật chất phát triển, đồng thời chi phí nhân công và chi phí sản xuất khác cũng nằm ở mức cao. Vì vậy doanh nghiệp cần phải có nguồn tài chính vững mạnh và có kế hoạch huy động đầu tư trên thị trường hiệu quả.
3. Cơ hội và thách thức đối với 2 ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào EU 3.1. Thuỷ hải sản:
Thói quen tiêu dùng thuỷ sản nhiều hơn thịt của người Đức là cơ hội lớn cho ngành xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam, nhất là khi Đức luôn là nước dẫn đầu trong khối EU về nhập khẩu tôm của Việt Nam, và là nước có lượng lớn nhập khẩu các mặt hàng thuỷ sản khác.
Tuy nhiên, cũng chính điều này là thách thức to lớn cho các doanh nghiệp thuỷ hải sản của Việt Nam khi các yêu cầu về chất lượng thực phẩm ngày càng tăng. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém về cách chế biến, bảo quản.
3.2. May mặc
Đức là thị trường tiềm năng cho hàng dệt may Việt Nam nói riêng và các nhà xuất khẩu từ các nước đang phát triển khác nói chung do dân số Đức đông và thu nhập đầu người rất cao.
Đức là mảnh đất tiềm năng nhất trong Liên minh Châu Âu (EU) vì nó có tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất khu vực. Đặc biệt, người dân Đức chỉ chú trọng đến chất lượng thành phẩm và sự kỳ công của nhà sản xuất được thể hiện qua mũi kim đường chỉ. Còn kiểu cách, mẫu mã đối với họ không quá khắt khe. Trong khi đó, Việt Nam lại có nhiều lợi thế về điều này nên chắc khi xuất khẩu hàng dệt may vào Đức sẽ hút khách.
Mặc dù hàng Trung Quốc nhập khẩu vào Đức tuy có mẫu mã đa dạng nhưng chất lượng thành phẩm vẫn chưa làm hài lòng người tiêu dùng nơi đây. Mặt khác, người Đức không muốn lệ thuộc hoàn toàn vào hàng của Trung Quốc, do đó đã chuyển xu hướng thích sử dụng hàng hóa của các quốc gia khác. Vì thế, đây sẽ là cơ hội mới cho doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam để thâm nhập sâu hơn.
Một thuận lợi khác là mức tiêu thụ hàng may mặc của người dân Đức rất lớn.
Từ năm 2004 trở về trước, khi EU còn áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, thị phần hàng dệt may Việt Nam tại Đức đạt khoảng 30%, trong khi Trung Quốc chỉ bằng một nửa. Trong hệ thống siêu thị Metro tại Đức, hàng dệt may của Việt Nam cũng chiếm thị phần rất lớn. Doanh số bán cũng luôn cao hơn so với các nước trong khu vực. Nhưng kể từ ngày 1/1/2004 khi EU chính thức gỡ bỏ hàng rào hạn ngạch thì Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn do giá thành sản phẩm của Trung Quốc rất cạnh tranh và người Đức rất quan tâm đến vấn đề giá.