Hệ thống các văn bản pháp lý về bảo tồn di tích

Một phần của tài liệu Tìm hiều di tích đình Triều Khúc (Trang 55 - 64)

CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY TÁC DỤNG CỦA DI TÍCH

3.1 Hệ thống các văn bản pháp lý về bảo tồn di tích

3.1.1: Văn bản quốc tế.

Trong thời đại ngày nay việc bảo tồn các di sản văn hoá không chỉ là vấn đề đặt ra trong khuôn khổ một quốc gia, hay một vùng lãnh thổ, nó trở thành một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Vì những di sản đó là những di sản chung của nhân loại từ thời cổ đại xa xưa cho đến những năm gần đây, loài người đã đúc kết được kinh nghiệm rằng không thể thiếu di sản văn hoá trong việc phát triển tri thức. Lênin dạy rằng: “Phải tiếp thu toàn bộ nền văn hoá do chế độ tư bản để lại và dùng những nền văn hoá đó để xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải tiếp thu toàn bộ nền khoa học kỹ thuật, tất cả những kiến thức, tất cả những nghệ thuật, không có những cái đó chúng ta không thể xây dựng cuộc sống xã hội cộng sản được”15

Về thái độ ứng xử với các di sản văn hoá truyền thống, Lênin - người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản đã vạch ra rằng: “giai cấp công nhân giữu gìn di sản những người lưu trữ văn thư giứ gìn những giấy tờ cũ và cùng không có nghĩa là gìn giữ di sản mà bám chặt lấy di sản”16

Đó là cái nhìn đúng đắn, đầy tính khoa học về mặt bảo lưu, tiếp thu và sử dụng những di sản văn hoá. Trên cơ sở đó việc tiếp thu và bảo vệ các di sản văn

15 Lê Nin to n tà ập – Nxb Maxcơva - 1977

16Lê Nin to n tà ập – Tập 2 - Nxb sự thật – 1959 (tr. 693)

hoá với tính chất toàn cầu đã được thể hiện ở một số văn bản quốc tế và quy định của một số nước trên thế giới.

Tại Paris ngày 11/12/1962, Đại hội đồng UNESCO, khoá XII đã phê chuẩn một số khuyến cáo về việc bảo vệ vẻ đẹp và tính chất cảnh quan thiên nhiên với các khu vực. Trong phần trình bầy về nguyên tắc chung khuyến cáo đã đề cập tới một số việc bảo vệ không chỉ giới hạn những khu vực do con người sáng tạo mà còn cần phải đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ phong cảnh, thành phố và những khu vực thành phố thường xây dựng những công trình mới và việc xây dựng những công trình mới chỉ dẫn đến sự cần thiết phải khôi phục di sản và cảnh quan đã bị tổn thất và tuỳ theo khả năng mà phuc hồi lại di tích dưới dạng nguyên gốc.

Ngày 19/11/1968 Đại hội đồng khoá XV lại phê chuẩn một khuyến cáo về việc bảo vệ những di sản văn hoá, do những hoạt động xã hội hoặc cá nhân gây ra. Đại hội đồng đã đề ra việc áp dụng hai loại biện pháp:

a: Đảm bảo tính chất khu vực di tích và các loại di sản văn hoá khác khi tiến hành các công việc xã hội và tự nhiên.

b: Đảm bảo việc cứu thoát những giá trị văn hoá nằm trong các vùng, các cơ quan nhà nước hay tư nhân chiếm giữ, đồng thời tổ chức việc bảo vệ di chuyển nó toàn bộ hay từng phần nếu thấy cần thiết.

Đặc biệt khuyến cáo còn đề cập đến các công việc sau đây được coi là những công việc đe doạ nghiêm trọng những di sản văn hoá. Đó là:

a: Những đề án xây dựng và phát triển lại đô thị.

b: Xây dựng và sửa chữa một cách tuỳ tiện các di tích lịch sử văn hoá.

c: Xây dựng hoặc xây dựng lại những trục đường giao thông vận tải lớn.

d: Xây dựng đường ống và đường dây cao thế.

e: Những công việc có liên quan tới việc phát triển nông nghiệp hay công nghiệp và quá trình kỹ thuật.

Khuyến nghị đề cập tới “những nước thành viên của UNESCO cần phải áp dụng mọi biện pháp, có thể để bảo vệ tất cả các loịa di sản văn hoá ở dạng nguyên gốc…. Trong trường hợp vì những nguyên nhân kinh tế hay xã hội cần

thiết mà phải di chuyển hay từ bỏ hay xoá đi những đối tượng là tài sản văn hoá thì cần phải áp dụng mọi biện pháp để cứu nó bằng cách nghiên cứu tỉ mỉ đo đạc chi tiết”. Sau khi đã nghiên cứu kỹ những sự thực đe doạ và gây ra những thiệt hại không thể sửa chũa được đối với tài sản văn hoá, các chương trình phải cứu nó, phải bao gồm những biện pháp, pháp lý cần thiết, ngân sách và những người có trình độ cao nghiên cứu cách giải quyết.

Năm 1972 UNESCO lại đưa ra một công ước về vấn đề bảo vệ các di sản văn hoá thế giới, trên cơ sở công ước này đem lại tình đoàn kết giữa các dân tộc các quốc gia, góp phần tạo nên ý thức kế thừa những công trình văn hoá cho nhân loại.

Hội nghị toàn thể khoá họp thứ XIX của UNESCO tại Nairobi ngày 26/10/1976 đã thông qua khuyến nghị“ về trao đổi quốc tế các tài sản văn hoá”.

Hội nghị toàn thể đã nhắc lại rằng: “tài sản văn hoá là yếu tố căn bản của nền văn hoá, của các dân tộc” khuyến nghị đề cập tới thết chế văn hoá là cơ quân thường trực được giao quyền quản lý tài sản văn hoá, và được nhà cần quyền chấp nhận vì lợi ích chung giữ gìn nghiên cứu khai thác hợp với trình độ công chúng. Tài sản văn hoá là những hiện vật biểu thị hay chứng thực sự sáng tạo của loài người hay sự sáng tạo của thiên nhiên và theo ý kiến của các cơ quan thẩm quyền của mỗi nước, hoặc có thể có giá trị về lịch sử, nghệ thuật khoa học, hay khoa học kỹ thuật, các nước thành viên sẽ áp dụng các điều khoản trong bản khuyến nghị và thông báo cho chính quyền và các cơ quan chức năng được biết, đồng thời báo cáo về hội đồng về việc triển khai thực hiện bản khuyến nghị này.

Ngoài các văn bản do UNESCO đưa ra còn có các công ước quốc tế được ký kết giữa các nước về bảo vệ di tích văn hoá như công ước LaHay ngày 14/05/1954, đại diện của 43 quốc gia Vaticăng ký công ước và một số văn bản kèm theo về việc bảo vệ tài sản văn hoá trong trường hợp có xung đột quân sự xảy ra. Công ước được soạn thảo dưới sự bảo trợ của UNESCO trù định:

a: Dự thảo những biện pháp đề phòng (chỉ thị riêng cho các cơ quan chỉ huy quân sự nhằm mục đích bảo vệ văn hoá)

b: Nhất thiết không được phá làm hỏng các di tích văn hoá.

c: Nhờ đến các cấp trọng tài trong trường hợp các giá trị văn hoá bị tổn thất do xung đột vũ trang.

Trong lời căn dặn đảm bảo áp dụng có ghi:

Soạn thảo và giải thích danh mục quốc tế các giá trị văn hoá được bảo vệ đặc biệt thành lập cơ quan kiểm soát nhằm đảm bảo cho việc bảo vệ tài sản văn hoá. Tổ chức phương tiện và cơ chế kiểm soát về việc bảo đảm về các giá trị văn hoá trong trường hợp phải vận chuyển các thứ tự đó. Một văn bản được soạn thảo riêng cấm chuyên trở các giá trị văn hoá ra khỏi lãnh thổ bị xâm chiếm.

Năm 1964 Đại hội quốc tế II của các kiến trúc sư và các kỹ thuật gia từ ngày 31/05/1964 về việc bảo vệ các kiến trúc lịch sử đã mở rộng hiến chương Athene năm 1931 và thông qua bản hiến chương quốc tế về bảo tồn, phục hồi các công trình kiến trúc.

Luật Washingtơn - Luật về bảo vệ di sản khảo cổ học đã được uỷ ban điều hành và được đại hội đồng Liên hợp quốc và tổ chưc ICOMOS phê chuẩn tại Lausanne năm 1990. Như vậy trên thế giới đã có rất nhiều các văn bản khuyến nghị các công ước … của rất nhiều các tổ chức của Liên hợp quốc đưa ra mục đích chính là nhằm giữ gìn bảo tồn phát huy giá trị các di sản văn hoá chung của toàn nhân loại. Ngoài những văn bản mang tính chất pháp lý quốc tế ra thì riêng từng quốc gia lại có những văn bản của mình góp phần giữ gìn, bảo vệ, phát huy tác dụng của di sản văn hoá của quốc gia mình, đóng góp vào khối di sản văn hoá thế giới ngày càng phong phú, đa dạng.

3.1.2: Văn bản Việt Nam:

+ Trước cách mạng tháng Tám

Vào thời kỳ phong kiến, triều đình có ban hành các điều lệ luật pháp để bảo vệ thành quách, đình, đền, chùa, miếu … các công trình tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, các công trình liên quan tới hoàng tộc.

Thời Lê Thánh Tông đã ban hành luật Hồng Đức trong đó ghi rất rõ và chi tiết từng loại tội vi phạm tới di tích.

Chế độ phong kiến cũng thể hiện rõ vai trò của mình qua việc sắc phong, điều lệ nghi thức cho công trình tôn giáo, với đình thì sắc phong cho thần và các vị thần hầu hết là gắn với một thần tích, có vị còn gắn với hai ba thần tích, theo thống kê của viện Hán Nôm còn lưu giữ được 568 cuốn thần tích của 2821 xã thôn của nước ta. Với các ngôi chùa thì đượcc xếp vào ba hạng như sau: Đại danh lam, Trung danh lam, Tiểu danh lam (thường là các ngôi chùa nhỏ của dân) Ngoài ra để góp phần bảo tồn di tích, thì nhà nước cho các di tích một số ruộng hoa lợi, còn với những ngôi đình thì có ruộng làng. Đây cũng là nguồn thu duy trì bảo bệ di tích dưới các triều đại phong kiến ở nước ta. Việc bảo vệ di tích thời phong kiến thường giao cho Lễ bộ trông coi việc điều lệ của nhà nước, đồng thời có nhiệm vụ theo dõi các di tích để cấp sắc cho các di tích ở các địa phương.

Vào thời Pháp thuộc, chính quyền địa phương có ban hành “luật bảo tồn di sản văn hoá” năm 1913 và được bổ sung vào năm 1925, song vào thời Pháp thuộc dân ta không có chủ quyền nên các di tích hầu như không có được bảo tồn chỉ chú ý vào việc bảo tồn các di tích kiến trúc nghệ thuật.

Như vậy trước cách mạng tháng 8 việc bảo tồn, tôn tạo các di tích ở nước ta đã được các triều đại chú ý đến, song vẫn còn có rất nhiều di tích có giá trị nhưng so với tổng thể thì vẫn không được là bao. Và hầu hết như các di tích có niên địa sớm và có gía trị do rất nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan:

thời tiết khí hậu nước ta (đa phần các di tích đều làm bằng gỗ) và sự tàn phá của cuộc chiến tranh xâm lược mà di tích nước ta còn lại đến ngày nay không nhiều, Đó cũng là một tổn thất đối với nền văn hoá nước nhà.

+ Sau cách mạng tháng 8:

Ngay sau khi giành được chính quyền Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đến việc bảo vệ và sử dụng di tích ch của dân tộc. Một loạt các văn bản pháp lý làm cơ sở cho công tác bảo vệ di tích đã được ban hành.

Ngày 23/11/1945 Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh 65 SL/CTP ấn định của nhiệm vụ Đông Phương Bác Cổ học viện, sắc lệnh đã nhấn mạnh việc bảo tồn cổ tích là việc cần thiết của nước Việt Nam. Đồng thời tuyên bố bãi bỏ tổ chức

của Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ, cơ quan văn hoá nô dịch của thực dân Pháp ở nước ta và quyết định Học viện Đông Phương Bác Cổ (tên mới của cơ quan) có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích ở Việt Nam. Sắc lệnh coi toàn bộ di sản văn hoá là tài sản chung của toàn dân. Trong sắc lệnh ghi rõ “cấm phá huỷ đền, chùa, đình, miếu và những nơi thờ tự khác như: cung điện, thành quách, lăng mộ chưa được bảo tồn, nghiêm cấm phá huỷ các bia quý, văn bằng giấy má sách vở có tính chất tôn giáo có lợi cho lịch sử nhưng chưa được bảo tồn. Đồng thời sắc lệnh còn quy định việc nhà nước phải chi nhân sách cho việc bảo vệ, tu sửa di tích và công nhận các khoản trợ cấp cho học viện Đông Phương Bác Cổ.

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ban hấp hành TW Đảng đã ra thông tư số 38 TT/TW ngày 28/06/1956, thủ tướng chính phủ ra thông tư số 954/TTg ngày 7/7/2956 quy định rõ những điều khoản về bảo vệ di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh.

Bước vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội để có được văn bản pháp lý với hiệu lực cao hơn. Nghị định 519/TTg của thủ tướng chính phủ đã ký tháng 10/1957 về bảo tồn cổ tích. Văn bản đã xác định rõ đối tượng và nhiệm vụ cơ bản của công tác Bảo tồn, Bảo tàng, quản lý di tích phục vụ sự nghiệp cách mạng. Nghị định này có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn to lớn đối với ngành bảo tồn bảo tàng và công tác bảo vệ di tích lịch sử văn hoá.

Đây cũng chính là văn bản khác thay thế nghị định 519/TTg gồm 7 mục và 32 điều khoản:

Mục I: Xác định “tất cả những bất động sản và động sản có giá trị lịch sử hay nghệ thuật (kể cả bất động sản nằm dưới đất hay dưới nước) bất cứ thuộc quyền sở hữu của ai nay đặt dưới sự bảo vệ của nhà nước.

Mục II: Nói về liệt hạng.

Mục III: Sưu tầm và khai quật Mục IV: Bảo quản.

Mục V: Trùng tu và sửa chữa:

Mục VI: Xuất khẩu những di vật có giá trị.

Mục VII: Khen thưởng và kỷ luật.

Với tính pháp lý nghị định 519/TTg đã trở thành cơ sở phát triển cho sự nghiệp bảo tồn bảo tàng ở nước ta, đồng thời đã ngăn chặn được nhiều biểu hiện do vô hình hay cố ý phá huỷ các di tích lịch sử văn hoá.

Giai đoạn chống Mỹ cứu nước, chính phủ đã ra nhiều chỉ thị quan trọng về công tác bảo tồn bảo tàng trong tình hình chiến tranh như chỉ thị quan trọng về quản lý các tư liệu Hán Nôm sử dụng các di tích lịch sử nghệ thuật liên quan tới công tác phòng không và chỉ thị về phát huy tác dụng di tích trong thời kháng chiến chống Mỹ cùng việc bảo tồn di tích lịch sử trong thời kỳ này.

Sau di tích lịch sử văn hoá nghệ thuật, hội đồng nhà nước đã ban hành pháp lệnh ngày 31/3/1984 và được công bố ngày 4/4/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh do đồng chí Trường Chinh ký.

Pháp lệnh gồm 5 chương và 27 điều. Ngay trong lời mở đầu pháp lệnh đã khẳng định rõ “di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh là tài sản lâu đời của dân tộc Việt Nam” Để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục tinh thần yêu nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, yêu chủ nghĩa xã hội và tự hào dân tộc nâng cao kiến thức phục vụ công tác nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới.

Nội dung pháp lệnh gồm 5 chương:

Chương I: Những quy định chung. Gồm 6 điều trong đó nêu được vài vấn đề như sau: khái niệm về di tích lịch sử văn hoá, xác định sự quản lý thống nhất đối với các di tích, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, nghĩa vụ của công dân.

Chương II: Công nhận di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh (gồm 5 điều).

Chương III: Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh (gồm 13 điều).

Chương IV: Việc khen thưởng và xử phạt.

Chương V: Điều khoản cuối cùng

Ngày 31/12/1985 Hội đồng bộ trưởng đã ra nghị định số 288/HDBT với 18 điều quy định việc thi hành pháp lệnh về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh.

Để thực hiện pháp lệnh và nghị định của hội đồng bộ trưởng bộ văn hoá đã ra thông tư 20b/VH-TT ngày 22/7/1986 về việc hướng dẫn thi hành pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh. Hướng dẫn giải thích từng điều khoản và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan hữu trách phương pháp tiến hành cho từng nhiệm vụ bảo vệ và sử dụng di tích.

Thông tư liên bộ số 54/TT-LB ngày 11/8/1992 của bộ văn hoá thông tin và thể thao, bộ tài chính. Về chế độ cấp phát quản lý tài chính đối với các bảo tàng và di tích lịch sử văn hoá.

Ngoài ra trong các bài báo chính trị của các nhiệm kỳ đại hội đại biểu Đảng toàn quốc đều đề cập đến như một lĩnh vực quan trọng của công tác văn hoá.

Báo cáo chính trị Đại hội Đảng khoá VI đã nêu ra: “nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho văn hoá nghệ thuật giữ gìn tôn tạo và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của di tích, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại”.

Tại công văn số 71/BTBT về kế hoạch 5 năm (1996 - 2000) ngày 25/2/1995 của nghành bảo tồn bảo tàng nêu rõ ”xây dựng hồ sơ khoa học cho các di tích đã được công nhận từng bước di tích lịch sử văn hoá để thống nhất quản lý, nghiên cứu lâu dài phục vụ khai thác trong tương lai” Với sự cố gắng của ngành văn hoá thông tin cùng với sự cố gắng của ban ngành có liên quan, công tác bảo tồn di tích đã thu được nhiều thành tích trong công việc giữ gìn và khai thác các di tích.

Luật di sản văn hoá ra đời đã được nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2001 và chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố ngày 1/1/2002. Luật gồm 7 chương và 74 điều. Đây là bộ luật có ý nghĩa rất lớn đối với ngành văn hoá nước ta.

Chương I: Những quy định chung.

Một phần của tài liệu Tìm hiều di tích đình Triều Khúc (Trang 55 - 64)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(77 trang)
w