2.1. GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC – NGHỆ THUẬT ĐÌNH TRIỀU KHÚC 1. Không gian cảnh quan và bố cục mặt bằng
2.1.2. Các đơn nguyên kiến trúc
2.1.2.1. Nghi môn
Cũng như đình ở các nơi khác, nghi môn là kiến trúc không thể thiếu được của đình. Tuy nhiên, nghi môn của đình Triều Khúc hiện nay là kiến trúc được xây dựng lại trong thời gian gần đây. Theo như lời các cụ cao niên của làng và theo các tài liệu của địa phương thì nghi môn cũ bị bom Pháp bắn phá.
Còn nghi môn hiện nay là một nếp nhà ghạch 3 gian kiểu vì giá chiêng. Chính giữa nhà được xây tường cao tới nóc mái và chạy suốt ba gian nhà. Trên tường mở hai cửa nhỏ và một cửa lớn để làm lối ra vào trong di tích. Trên hai bức tường hồi đắp nổi, con nghê, cột trụ xây gạch to cao, trên mái có hai con rồng chầu mặt trời. Đôi rồng này mới được làm lại, với những nét tạo tác giống với rồng ở nhiều di tích được xây dựng gần đây. Về nghệ thuật, đôi rồng này không có gì tiêu biểu nhưng về ý nghĩa rồng là đại diện cho quyền lực, cho sức mạnh, cho sự linh thiêng, vì vậy nó là đề tài xuất hiện nhiều nhất trong các di tích tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt, làm tăng vẻ linh thiêng cho di tích. Ngoài ra hai bên nghi môn còn được trồng các loại cây thiêng. Tất cả đã góp phần làm nên sự bề thế và cổ kính cho di tích.
Nghi môn ngoài giá trị về giới hạn không gian của kiến trúc nó còn mang nội dung ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những đơn nguyên cấu thành nên di tích. Nghi môn được coi như dấu ấn báo hiệu và khẳng định về vị thế của ngôi đình, nó trở thành một tụ điểm có thể quan sát và nhận thấy từ xa, nó báo
hiệu sự có mặt của di tích, thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người. Nghi môn còn là sự khẳng định vị trí của mảnh đất thiêng. Nghi môn với một cửa chính và hai cửa phụ với chiều cao khác nhau được hiểu như tam sơn. Tam sơn có nghĩa là “núi ba đỉnh”. Gắn vơí ý nghĩa rất thiêng liêng –gạch nối của trời và đất. Nói đến tam sơn ta hiểu ngay là nó chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Nhưng dù sao ý nghĩa cuối cùng của nó vẫn là nơi thu hút sinh lực của tầng trời truyền cho lòng đất, là gạch nối để Trời cha và Đất mẹ giao hoà cho muôn loài sinh sôi, phát triển. Nghi môn với sự hiện diện của nó trong di tích còn mang ý nghĩa giống như một bức bình phong để tránh luồng gió độc từ ngoài thổi vào đình tạo sự tinh khiết linh thiêng cho di tích phía bên trong. Ngoài ra, đình Triều Khúc còn có hai cổng phụ ở hai bên nhưng cổng này nhỏ và ít được sử dụng.
Tóm lại, Nghi môn đình Triều Khúc mới được xây dựng lại trong thời gian gần đây, do đó ít có giá trị kiến trúc, nghệ thuật, song nó vẫn mang đầy đủ những ý nghĩa sâu xa của một công trình tín ngưỡng cổ truyền Việt. Có thể khẳng định rằng, sự hiện diện và tồn tại của Nghi môn là cần thiết và quan trọng tạo nên sự hoàn chỉnh cho một tổng thể kiến trúc đình Việt nói chung cũng như đình làng Triều Khúc nói riêng.
2.1.2.2. Tả vu, Hữu vu
Đây là kiến trúc xuất hiện muộn ở các ngôi đình. Hai ngôi nhà nằm song song hai bên sân đình. Nhà Tả, Hữu vu là hai dãy giải vũ ba gian, được làm đơn giản kiểu vì kèo quá giang.
Tả, hữu vu là nơi để sắp xếp lễ vật dâng lên thành hoàng và để cho bà con nghỉ chân trong dịp lễ hội, là nơi tiếp khách, đặt kiệu.
Theo hồ sơ di tích Đình Triều Khúc được lưu tại ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội và tài liệu ghi chép cho chúng ta biết: Tả - Hữu vu được xây dựng trong 1 lần trùng tu lớn ở thế kỷ 19, đó là vào năm 1839. Đây là một kiến trúc đơn giản xây kiểu tường bao 3 phía bằng gạch, phía trước chỉ có hàng cột đỡ mái tạo thành các ô. Các bộ vì của kiến trúc được gác lên các cột gạch. Về giá trị kiến trúc của Tả vu, Hữu vu không có gì đặc sắc, thậm chí hầu như không
có sự gia công trang trí trên các cấu kiện kết cấu. Tuy vậy, nó vẫn đảm bảo chức năng của mình trong tổng thể di tích.
2.1.2.3. Phương Đình
Qua khu sân lớn ta bắt gặp một công trình kiến trúc mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là một Phương đình được đặt trên một nền cao hơn so với sân đình là 40cm, nền lát gạch lá nem có kích cỡ 20x20 cm. Toà Phương đình được xây dựng trên hệ thống cột gỗ lim, các cột được đặt trên những chân tảng kê bằng đá xanh, riêng 4 cột cái gian giữa là 4 chân tảng kê tròn cổ lượn.
Toà phương đình làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Đỡ các mái nhỏ bên trên là 4 kể dài chạy từ cột cái tới nóc mái, 4 mái dưới được đỡ bằng những kẻ dài ăn mộng vào cột cái qua cột hiên trên kẻ đặt một ván gỗ dày để đỡ hoành.
Các đầu kẻ chạm chìm hình mây, các đầu dư dưới xà thượng được trang trí đầu rồng râu xoắn, mắt lồi dữ tợn là đặc trưng của thời Nguyễn. Các đầu đao của phương đình được uốn cong, trên các bờ dải đắp nổi các hình rồng, phượng hướng về nóc mái, mái được lợp ngói di. Trên cùng ở chính giữa là mặt trời. Hai đầu kìm có đôi rồng chỉ có đầu và đuôi là vân xoắn. Phần cổ diêm đắp lân.
Những linh vật này mới được làm gần đây. Dưới góc mái có lân đội âu tàu (tức đầu tàu mái) đó là lân đắp, đứng trên các trụ góc, ghé vai gánh tàu mái. Con lân trong tư thế nhìn tập trung vào đường chính đạo với ý nghĩa là kiểm soát tâm linh của kẻ hành hương. Lân có mắt giọt lệ, mũi sư tử, trán lạc đà miệng rồng, cổ trước có đốt rắn, thân thú, vẩy cá chép, chân hươu, móng ngựa, đuôi bò.
Bộ khung toà phương đình được tạo bởi 4 hàng chân cột, 2 cột cái và 2 cột quân. Bộ vì ván mê được chạm nổi hoa văn dạng hồi văn cách điệu. Vì nách được kết thành kiểu ván mê có trang trí đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng)
Nhìn về góc độ vị thế toà Phương đình là một ngôi nhà vuông 2 tầng 8 mái. Nó là một kiến trúc phụ được đặt ở vị trí đầu tiên trong tổng vị trí kiến trúc của di tích. Về mặt giá trị ứng xử tâm linh thì nó bao hàm ý nghĩa cầu được mùa của cư dân nông nghiệp lúa nước. Từ ý nguyện của cư dân nông nghiệp, cho nên ở tầng trên của toà nhà bao giờ cũng được xây dựng trên khuôn viên đất hình vuông và một hệ thống mái được thể hiện trên hệ thống 2 tầng 8 mái. Giải thích
ý nghĩa triết học này chúng ta cần giải mã những chuẩn mực trong kết cấu kiến trúc toà Phương đình và hàm nghĩa của nó trong các bộ phận thể hiện. Cả tổng thể Phương đình là một, đây không phải là con số đếm mà là con số khởi nguyên, đó chính là bản thể vũ trụ, 2 tầng là lưỡng nghi, 4 phía là tứ tượng, 8 mái là bát quái. Khi giải mã những con số này là ta đang đặt một hàm nghĩa cầu sinh sôi, được mùa theo nghĩa tĩnh của nó là một kết cấu kiến trúc, còn theo nghĩa động nó bao hàm một giá trị tinh thần của cư dân nông nghiệp.
2.1.2.4. Toà Đại Đình
Tiếp theo toà phương đình được nối liền bởi hệ thống ống máng là toà nhà Đại đình. Đây là toà nhà có kết cấu hoành tráng nhất trong tổng thể kiến trúc của khu di tích.
Toà Đại đình được đặt trên một nền cao hơn toà Phương đình là 20cm, cao hơn mặt sân 60cm. Toà nhà bao gồm 5 gian 2 chái và được làm theo kiểu tường hồi bít đốc, kết cấu hình chuôi vồ trong đó phần nền được lát bằng gạch Bát Tràng. Phần mái toà Đại đình được phủ một lớp ngói di và có tường bao quanh.
Trên nóc mái của toà Đại Đình khoảng giữa có đắp nổi hình 2 đám mây đơn giản không trang trí. Hai đầu nóc mái cũng được đắp bằng vữa hình 2 con long mã có gắn sứ. Ở 2 đầu kìm là những đao cong vút lên theo kiểu hình sừng và phía đỉnh cao là 2 đầu rồng đắp bằng xi măng ... tất cả bờ nóc bờ dải, guội...
đều đắp bằng vôi vữa, ở hai đốc của mái còn có bộ phận vỉ ruồi được lắp ván rốn nhện nhằm che phần thô cứng mặt sau vì hồi. Gian giữa còn giữ được theo lối cổ truyền là thấp hơn với những gian khác.
Tuy nhiên, đối với các kiến trúc cổ truyền việt, xuất phát từ điều kiện tự nhiên và xã hội nên hình thành phần chịu lực chính không phải là nền nhà mà sự vững chắc của công trình là nhờ vào khung kết cấu gỗ nối liên kết các mộng cùng sức nặng của bộ mái đè xuống hệ thống cột. Tất cả sức nặng của công trình được phân tán qua các cột gỗ xuống chân tảng bằng đá xanh. Đường kính chân
tảng cột cái là 40 x 40 cm, đường kính chân tảng cột quân 30 x30 cm, dày 20 cm, chân tảng đá ở đình Triều Khúc cũng như chân tảng đá ở các di tích khác, có dạng trên là hình tròn, phần dưới là hình vuông, tượng trưng cho trời tròn, đất vuông. Trong quan niệm mang tính triết học của người xưa.
Toà nhà Đại Đình có kích thước:
-Chiều rộng 8,5 m -Chiều dài 16,5 m
Đại Đình là một toà nhà lớn với kết cấu 6 hàng chân cột bao gồm 8 cột cái và 16 cột quân. Cột được làm bằng các thân cây gỗ lớn kiểu “thượng thu hạ thách”, cột cái có đường kính 30 cm, cột quân có đường kính 25 cm. Hệ thống cột được bào nhẵn để mộc, chỉ sơn dưới chân cột để chống ẩm mốc và mối mọt.
Mặc dù được làm bằng loại gỗ tốt nhưng do thời gian, các yếu tố khí hậu, thời tiết tác động làm cho hệ thống cột bị mối mọt, nên ảnh hưởng khá nhiều đến khả năng chịu lực của chúng không những thế giá trị thẩm mỹ của kiến trúc cũng bị giảm sút. Hệ thống cột chính là xương sống cho mọi liên kết, là thành phần chính quyết định cho sự tồn tại của di tích vì vậy nó cần được bảo vệ một cách thoả đáng.
Liên kết các cột tạo nên bộ khung của kiến trúc là hệ thống các xà.
Hệ thống xà dọc: gồm hai xà thượng nối từ trụ trốn của gian chái này ăn mộng qua các cột cái đến trụ trốn của gian chái kia. Xà thượng có tác dụng cố định các cột cái. Hai xà trung thay hoành đỡ mái đứng trên đầu các cột quân, 2 xà hạ ăn mộng vào cột quân ở vị trí phía dưới của xà trung. Giữa xà trung và xà hạ là một ván đỡ để mộc không trang trí.
Hệ thống xà ngang: gồm hai xà ngang và xà đai. Hai xà ngang có tác dụng nối 2 cột cái ngoài cùng của hai gian sát chái, xà đai nối hai cột quân ở đầu hồi.
Như vậy hệ thống xà rất quan trọng, chúng được gia công, bào soi vỏ măng đã làm cho kết cấu không những không bị giảm khả năng chịu lực, mà về mặt trang trí nó còn làm giảm phần thô cứng của vật liệu.
Một cấu kiện nữa làm nên kết cấu kiến trúc đó là bộ vì. Bộ vì đó là yếu tố cơ bản liên kết các cấu kiện, nó vừa có tác dụng chịu lực, vừa nâng đỡ mái vừa
là đơn vị cấu thành tổ chức không gian của công trình. Bộ vì ở nhà Đại Đình có kết cấu đa dạng. Vì nóc của tất cả các gian đều có kết cấu theo kiểu vì giá chiêng, riêng bộ vì nách có sự khác biệt, hai bộ vì nách ở gian giữa có kết cấu thượng chồng rường, hạ cốn nách, các gian còn lại vì nách có kết cấu chồng rường đỡ mái hiên là bẩy hiên.
Bộ Vì nóc toà Đại Đình đình Triều Khúc có kết cấu kiểu giá chiêng, dược liên kết nhau qua các đấu vuông thót đáy. Con rường thứ nhất rất ngắn đỡ thượng lương qua một dép hình thuyền. Con rường thứ hai dài hơn đỡ con rường thứ nhất qua hai đấu vuông, con rường thứ ba tỳ lực lên 2 trụ trốn qua hai đấu vuông tương tự. Trụ trốn được đỡ bởi câu đầu qua 2 đấu vuông. Ở mỗi đầu con rường đều khoét lõm để đỡ các hoành của mái, ở kiến trúc này không xuất hiện dép hoành. Các đấu vuông ở đây có kích thước nhỏ 25 x 25 cm, gia công đơn giản. Câu đầu là bộ phận đỡ toàn bộ các con Rường, nó được làm bằng một thân gỗ lớn tỳ lực lên hai cột cái qua hai đấu vuông lớn. Câu đầu còn được đỡ bằng hai đầu dư.
Trang trí trên kiến trúc đình Triều Khúc không dàn đều ở tất cả các đơn nguyên kiến trúc, mà những mảng đề tài trang trí đặc sắc hội tụ chủ yếu ở toà Đại Đình
Trang trí con kê nối thượng lương là đề tài tứ linh (long, ly, quy, phượng) kiểu chạm lộng, to, mập ...
Ở các đầu bảy phía trước được trang trí rất công phu, mỗi đầu bảy là một đề tài trang trí. Nghệ thuật chạm khắc ở đây với chủ đề chủ yếu là những linh vật như: rồng, phượng, chim, cá, rùa, long vật và các con vật khác gắn với tư duy dân dã của người Việt xưa. Các đầu bẩy phía trước toà Đại Đình được trang trí cả hai mặt theo thứ tự từ trái sang phải như sau :
Đầu bẩy thứ nhất: Mặt bên trái trang trí hình rùa với những dải mây cuộn.
Đầu bẩy thứ hai: Mặt bên trái trang trí hình rùa với những dải mây cuộn xen kẽ. Mặt bên phải trang trí hình rồng, đầu rồng nổi những đao mác, với hai mắt mở, miệng ngậm ngọc, xen kẽ là những dải mây cuộn .
Đầu bẩy thứ ba: Là đầu bẩy ở gian giữa được trang trí ở mặt trái là hình long mã đang ở tư thế phi. Con long mã này với hai mắt mở rộng, hai chân choãi ra phía trước, điểm xung quanh là những hoa lá mây mác. Mặt phải: Trang trí đầu rồng tua tủa vây, chân có móng sắc nhọn, đao mác nổi.
Đầu bẩy thứ tư: Ở đầu bẩy này đề tài trang trí dày đặc gồm có mặt trái: Cá chép có vây lớn, rùa, rồng, ba con vật này đang vờn mây rất đẹp với những đường nét mềm mại, mặt bên trái trang trí toàn bộ là đao mác.
Đầu bẩy thứ năm: Trang trí rất đơn giản chủ yếu là mây mác và sóng nước ở cả hai mặt của đầu bẩy.
Đầu bẩy thứ sáu: Trang trí mây mác .
Hai đôi đầu dư của hai bộ Vì gian giữa được tạo tác hai đầu rồng bằng kỹ thuật chạm lộng, hai đầu rồng chầu vào nhau, được chạm đặc biệt tỷ mỉ tinh tế, nó thể hiện tài năng, trí tuệ của người nghệ sĩ dân gian. Rồng có mắt to, mũi hếch mồm ngậm ngọc, râu dài xoắn mang phong cách nghệ thuật thế kỉ XVIII, có thể nói đây là những tác phẩm quý của di tích còn lưu giữ được cho tới ngày nay. Các đầu dư còn lại cũng chạm nổi hình rồng đầu nổi rõ, thân uốn lượn.
Đề tài trang trí trên các bộ Vì cũng rất phong phú, đa dạng, dày đặc các hoa văn, con rường trên cùng ngắn, trang trí hình đầu rồng cách điệu. Con rường thứ hai đỡ con rường thứ nhất qua một đấu. Các con Rường ăn mộng vào cột cái. Con Rường thứ hai của vì nách chạm nổi hình nghê rất linh hoạt, sống động.
Con nghê đang trong tư thế nằm phủ phục, lưng đỡ hoành, miệng ngậm ngọc.
Con Rường thứ ba đỡ con rường thứ hai cũng vẫn bằng cái đấu, trên trang trí rồng rất tinh xảo, tỉ mỉ.
Tại các cốn ở trong Đại đình chủ yếu được chạm rồng, rồng cuốn thuỷ, rồng trông dữ dằn, đầu rời hẳn ra với những đao, mắt kiểu râu cá trê, đang phun nước. Ở góc trên là phượng, dưới rồng là long mã và một lá sen úp xuống, để hoá thân thành rùa. Trên nền các đề tài là văn xoắn, đao và nước làm kín cả mảng chạm. Mặt cốn phía trái trên xà nách là hình tượng lân và rùa nô giỡn cùng đôi sư tử hí cầu. Ở mặt ngoài của các cốn bên chạm văn xoắn và điểm xuyết một con rồng đơn giản trong hình thức chạm lộng nửa nổi. Nhìn chung