Chương II: Thực trạng cho vay hộ nghèo tại NHCSXHVN Chi nhánh TP Hà Nội
2.2. Thực trạng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Hà Nội
2.2.4. Đánh giá khái quát về thực trạng cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Hà Nội
2.2.4.1 Thành tựu đạt được:
- Công tác cho vay hộ nghèo uỷ thác qua các tổ chức Hội đã đạt được những kết quả:
+ Chất lượng của từng món vay tăng lên, việc bình xét mức cho vay đã sát với nhu cầu thực tế sử dụng vốn, tình trạng cho vay chia đều, bình quân giữa các Hội viên đã giảm đáng kể.
+ Dư nợ uỷ thác qua các Hội đoàn thể tăng trưởng đáng kể qua các năm. Qua đó, có thể thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa NHCSXH Hà Nội với các tổ chức Hội các cấp trong quá trình triển khai cho vay hộ nghèo.
+ Ngân hàng đã thành lập được các Tổ giao dịch lưu động tại xã, phường phục vụ hộ nghèo tạo mối liên hệ gắn bó, đồng trách nhiệm giữa NHCSXH với Tổ chức hội, tổ viên và tạo điều kiện thuận lợi cho người vay trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng.
+ Việc cho vay hộ nghèo uỷ thác từng phần qua các tổ chức chính trị - xã hội đã đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội của đồng vốn tín dụng ưu đãi:
Thứ nhất : Vốn vay ưu đãi của Nhà nước được công khai, dân chủ và được gắn kết với các chương trình hoạt động của các Hội đoàn thể. Hơn nữa, qua việc thực hiện chương trình uỷ thác cho vay, Tổ TK&VV được hưởng hoa hồng và các cấp Hội được nhận phí uỷ thác, khoản tiền này tuy không lớn nhưng cũng là nguồn động viện cho cán bộ Tổ TK&VV, cán bộ tổ chức Hội cũng như bổ sung kinh phí hoạt động cho tổ chức Hội.
Thứ hai : Việc quản lý vốn tín dụng được coi trọng, sát sao góp phần nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn vốn của Nhà nước.
Thứ ba : Phương thức uỷ thác bán phần qua các Hội đoàn thể đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để đưa đồng vốn tín dụng ưu đãi đến với người
dân tại các thôn, xóm, cụm dân cư trong điều kiện màng lưới và lực lượng cán bộ của ngân hàng còn hạn chế.
- Ngoài ra, công tác cho vay vốn đối với hộ nghèo của NHCSXH trên địa bàn Hà Nội đã góp phần cùng Thành phố xoá 10.000 hộ nghèo (hộ có vay vốn NHCSXH Hà Nội). Đạt được kết quả trên là do có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị các ban ngành, hội, đoàn thể từ Thành phố đến quận, huyên, xã, phường. Bên cạnh đó Chi nhánh còn phối hợp tốt với Sở tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hôị, Sở Kế hoạch và Đầu tư, quận, huyện…trong việc xây dựng, phân bổ chỉ tiêu, thẩm định, xét duyệt cho vay, kiểm tra đôn đốc thu nợ đến hạn, quá hạn.. của từng dự án vay vốn ở các xã, phường.
2.2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân:
2.2.4.2.1 Hạn chế:
Công tác cho vay vốn đối với hộ nghèo tại các quận nội thành do mới được triển khai thực hiện nên còn nhiều hạn chế trong khâu phối hợp với chính quyền cơ sở cũng như hướng dẫn nghiệp vụ cho các Hội đoàn thể và người vay vốn (từ việc tổ chức họp thành lập tổ đến việc hoàn thiện hồ sơ xin vay vốn…).
Hiệu quả của công tác tín dụng chưa thực sự cao, vẫn tồn tại nhiều món vay nhỏ, lẻ, giàn trải (1 - 2 triệu/người vay) chưa thu hút được nhiều hộ nghèo và làm giảm hiệu quả của đồng vốn tín dụng ưu đãi.
Vốn tín dụng ưu đãi tuy đã tăng trưởng ở mức cao trong những năm gần đây nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vốn có hiệu quả của hộ nghèo; còn tình trạng dàn trải, mang tính “cào bằng”; mức cho vay thực tế bình quân đối với các hộ nghèo còn thấp; một bộ phận chưa tiếp cận với vốn vay này
Cơ chế cho vay vốn đối với hộ nghèo trên địa bàn còn một số bất cập về hồ sơ thủ tục vay vốn, quy trình xét duyệt cho vay, thời hạn cho vay, bảo đảm tiền vay.
Ở những nơi có điều kiện khó khăn vẫn còn nhiều hộ dân chưa được thống kê là hộ nghèo hoặc thuộc diện chính sách nên chưa được vay vốn; làm cho hoạt động xoá đói giảm nghèo của ngân hàng chưa được công khai hoá một cách rộng rãi để nhân dân và các cơ quan chức năng thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát.
2.2.4.2.2 Nguyên nhân:
* Do bản thân NHCSXH Hà Nội:
Do mới thành lập, đi vào hoạt động nên khó khăn lớn nhất hiện nay của ngân hàng là cơ sở vật chất kỹ thuật, trụ sở và phương tiện làm việc; hầu hết trụ sở giao dịch của ngân hàng và các PGD quận, huyện đang phải đi thuê của nhà dân nên không ổn định, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ hoạt động ngân hàng, chi phí thuê cao..; phương tiện vận chuyển tiền đi giải ngân thiếu thốn (đặc biệt tại những nơi có địa bàn hoạt động tương đối rộng lớn như tại Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì), thu nợ, thực hiện Tổ giao dịch lưu động xã, phường đang còn phải đi thuê, mượn nên còn bị động trong việc triển khai nhiệm vụ
Lãi suất cho vay thiếu linh hoạt, ngân hàng áp dụng một mức lãi suất chung cho mọi đối tượng hộ nghèo.
Cơ chế tài chính của NHCSXH tuy đã được bổ sung sửa đổi nhưng vẫn chưa thực sự phù hợp với hoạt động của một tổ chức tín dụng Nhà nước hoạt động công ích không vì mục đích lợi nhuận.
Cơ chế huy động vốn trên địa bàn Hà Nội còn nhiều hạn chế so với các Ngân hàng Thương mại và tổ chức tín dụng khác vì vậy còn hạn chế trong việc huy động vốn trong thị trường để có được nguồn vốn ổn định hơn.
* Do bản thân hộ nghèo:
Kinh tế hộ ở vùng có điều kiện khó khăn phát triển chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo và phát sinh nghèo ở một số nơi còn tiềm ẩn; dẫn đến việc triển khai thực hiện các chương trình phát triển kinh tế gắn với mục tiêu xoá đói giảm nghèo ở một số ngành và địa phương còn chậm.
Chi phí hoạt động của các tổ chức tín dụng ở những nơi có điều kiện khó khăn tăng khá lớn so với các nơi khác; chính sách của Nhà nước chưa khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới hoạt động ngân hàng ở các nơi này; các yếu tố của thị trường tín dụng còn hạn chế dẫn đến dịch vụ ngân hàng còn nghèo nàn, tính cạnh tranh thấp.
Đối với các khoản vay trung và dài hạn khả năng trả nợ của người vay là thấp vào giữa thời hạn vay và tính mùa vụ.
* Do các tổ chức chính trị - xã hội:
Một số cán bộ xã, phường và cán bộ Hội đoàn thể chưa mạnh dạn trong khâu xét duyệt cho vay, sợ vốn cho vay không có khả năng thu hồi nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác tín dụng.
Hoạt động của Tổ TK&VV còn mang tính hình thức, chưa thực sự mang lại hiệu quả. Qua kiểm tra giám sát của BĐD HĐQT Thành phố và các quận, huyện vừa qua cho thấy còn một số tồn tại trong công tác cho vay vốn đối với hộ nghèo trên địa bàn Hà Nội đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác tín dụng như: Một số Tổ trưởng Tổ TK&VV, chủ dự án thu thêm phí của người vay; thu nợ, thu lãi không nộp kịp thời vào ngân hàng; việc ghi chép, lưu trữ sổ sách chứng từ của Tổ không đúng theo quy định; có hiện tượng một người làm Tổ trưởng của nhiều Tổ, hiện tượng vay ké, vay hộ, một hộ vay nhiều suất hoặc đứng tên vay cho hộ khác…
* Do các nguyên nhân khách quan khác: