4.2.1.1. Tình hình sử dụng đất ở Vân Hoà
Bảng 4.2. Tình hình sử dụng đất của xã Vân Hoà (2008)
Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 3290,98 100%
+ Đất nông nghiệp 1004,46 30,52%
+ Đất trồng lúa 372,99
+ Đất cỏ dùng chăn nuôi 123,77
+ Đất trồng cây hàng năm khác 116,66
+ Đất trồng cây lâu năm 391,04
2. Đất lâm nghiệp 1722,48 52,33%
+ Đất rừng sản xuất 511,18
+ Đất rừng đặc dụng 1211,30
3. Đất nuôi trông thuỷ sản 22,67 0,70%
4. Đất phi nông nghiệp 541,37 16,45%
+ Đất ở 105,71
+ Đất chuyên dùng 164,55
+ Đất trụ sở cơ quan 6,33
+ Đất sản xuất kinh doanh 20,77
+ Đất có mục đích công cộng 137,45
+ Đất tôn giáo tín ngỡng 0,13
+ Đất nghĩa địa 18,89
+ Đất suối mặt nớc chuyên dùng 87,54
Qua bảng 4.2 cho thấy, Vân Hoà có tổng diện tích tự nhiên là 3290,98 ha. Trong đó đất dùng cho canh tác nông nghiệp là 1004,46 ha chiếm 30,52%, tăng so với các năm trớc do ngời dân đã biết tận dụng đất cha sử dụng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác và trồng các giống cây trồng mới thích hợp với từng loại đất. Diện tích đất nông nghiệp đợc mở rộng không chỉ đủ để
đảm bảo cho nhu cầu tiêu dùng của địa phơng mà còn có sản phẩm hàng hoá
cung cấp cho thị trờng khu vực khác, đồng thời tạo ra một lợng lớn phụ phẩm nông nghiệp nh: rơm, thân cây ngô, dây lạc... Đây là là nguồn thức ăn trực tiếp và có thể chế biến dự trữ để dành cho thời kì khan hiếm thức ăn.
Đất lâm nghiệp có 1722,48 ha chiếm tỉ lệ lớn nhất 52,33% cũng tăng so với các năm trớc. Với diện tích rừng lớn nh vậy, không chỉ giúp bảo vệ môi tr- ờng, chống xói mòn, lũ lụt mà còn đợc khai thác theo hớng du lịch và đã đem lại nguồn lợi không nhỏ cho xã. Đặc biệt cỏ tự nhiên ở trong rừng là nguồn thức ăn xanh dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển dàn gia súc ăn cỏ trong đó có trâu với quy mô lớn.
4.2.1.2. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt ở xã Vân Hoà
Kết quả sản xuất của một số cây trồng ở Vân Hòa đợc trình bày ở bảng 4.3
Bảng 4.3. Kết quả sản xuất một số cây trồng xã Vân Hoà năm 2008 Loại cây
trồng
Diện tích (ha)
N¨ng suÊt (tÊn/ha)
Sản lợng (tÊn)
Phô phÈm (tÊn)
Lóa 500 5,30 2650,00 2120,00
Ngô 75 4.50 337,50 803,25
Đậu tơng 14 1,10 15,40 119,00
Lạc 80 1,8 144,00 680,00
Sắn 65 1,62 105,30 635,40
Cá voi 40 200,00 8000,00 0
Tổng 774 214,32 11252,2 4357,65
Theo bảng 4.3, chúng ta nhận thấy lúa là loại cây lơng thực chủ yếu.
Tổng diện tích trồng lúa năm 2008 của xã là 500 ha, sản lợng thóc thu đợc trong năm là 2650 tấn. Theo Nguyễn Xuân Trạch khi nghiên cứu ở Đông Anh cho biết tỉ lệ rơm so với thóc là 0.8 vậy hàng năm vùng này có lợng rơm ớc tính khoảng 2120 tấn. Đây là nguồn phụ phẩm lớn và quan trọng đối với trâu bò, đặc biệt là trong vụ Đông Xuân thời tiết khô hanh, nguồn thức ăn cho trâu bò cạn kiệt.
Cây ngô đợc trồng chủ yếu vào vụ Đông Xuân, năm 2008 tổng diện tích trồng ngô của xã là 75 ha, sản lợng đạt 337,5 tấn. Theo Vũ Duy Giảng và Tôn Thất Sơn thì tỷ lệ thân, lá cây ngô sau thu bắp trên sản lợng ngô hạt là 2,38.
Vậy với 337,5 tấn ngô hạt Vân Hoà sẽ có khoảng 803,25 tấn thân và lá ngô,
đây cũng là nguồn thức ăn quan trọng cho trâu bò trong thời vụ Đông Xuân thời kì khan hiếm thức ăn.
Theo số liệu của trạm thống kê xã Vân Hoà năm 2008, tổng diện tích trồng đậu tơng là 14 ha, sản lợng là 119 tấn, lạc là 80 ha, sản lợng đạt 144 tấn.
Cũng theo Vũ Duy Giảng và Tôn Thất Sơn thì lợng phụ phẩm thu đợc từ lạc và
đậu tơng là 8 - 8,5 tấn/ha. Vậy ớc tính toàn xã năm 2008 có khoảng 119 tấn thân đậu tơng và 680 tấn thân lá lạc. Nếu biết các chế biến thì đây cũng là nguồn thức ăn giàu chất đạm cho trâu bò.
Cây sắn ở đây đợc trồng khá nhiều 65 ha do tận dụng đợc diện tích triền
đồi, sản lợng đạt 105,3 tấn, lợng phụ phẩm ớc tính khoảng 635,4 tấn. Đây là nguồn thức ăn giàu năng lợng và đạm, tuy nhiên lại có độc tố HCN gây độc cho gia súc nếu sử dụng quá nhiều, nhng nếu biết cách chế biến thì nó trở thành một nguồn thức ăn lớn cho trâu, bò.
Đặc biệt với 40 ha cỏ voi và sản lợng 8000 tấn, đây là nguồn thức ăn dành riêng cho trâu bò, dễ trồng và sản lợng rất cao. Góp phần chủ yếu vào cung cấp thức ăn cho trâu bò.
Nh vậy, ngành trồng trọt xã Vân Hoà đã cung cấp nguồn phụ phẩm lớn, rẻ tiền, có thể chế biến và bảo quản làm thức ăn dự trữ. Với tiềm năng phụ phẩm nh vậy Vân Hoà có đủ mọi thế mạnh để phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc, trong đó có con trâu góp phần nâng cao đời sống của ngời dân.
4.2.2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi
Với những biến động thất thờng của thời tiết, dịch bệnh và giá cả thị tr- ờng mà đàn gia súc ở xã Vân Hòa có sự tăng giảm thất thờng. Ta sẽ thấy rõ đ- ợc điều đó qua bảng sau.
Bảng 4.4. Diễn biến của đàn gia súc, gia cầm từ năm 2005 - 2008 N¨m
Gia sóc 2005 2006 2007 2008
Tr©u 1143 1104 932 985
Bò thịt 852 966 1189 1320
Bò sữa 147 153 140 320
Lợn 3392 4197 3376 2800
Gia cÇm 40137 40300 60370 25000
Qua bảng 4.4, chúng tôi thấy duy chỉ có đàn bò của xã có tốc độ phát triển khá nhanh đặc biệt là đàn bò thịt. Năm 2005 cả xã 852 con bò thịt, đến năm 2008 tổng đàn bò của xã là 1320. Trung bình trong 4 năm từ 2005 đến 2008 đàn bò thịt của xã mỗi năm tăng 13,73%. Không chỉ có sự tăng trởng về quy mô mà đàn bò thịt còn có sự phát triển về chất. Đàn bò đang có sự phát triển theo hớng nâng cao tầm vóc, tăng số bò cái sinh sản. Tỷ lệ bò Sind chiếm trên 70% và nó đang tăng dần hàng năm.
Đàn bò sữa của xã có sự tăng trởng khá tốt. Duy chỉ năm 2007 có giảm nhẹ so với mấy năm trớc do thời kì này giá sữa giảm, nhng đến năm 2008 đàn bò sữa lại tăng đột biến, toàn xã có 320 con bò sữa, so với năm 2007 có 140 con bò sữa thì đàn bò sữa đã tăng 128,6% và mức tăng trung bình trong 4 năm trở lại đây là 29,4%. Chăn nuôi bò sữa ở Vân Hoà đang có tốc độ phát triển nhanh nh vậy do ở đây hội tụ đủ điều kiện thuận lợi nh gần nơi cung cấp giống và kỹ thuật là Trung Tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Trung Tâm
Moncada, gần nơi thu nhận sữa là nhà máy sữa Nestley và diện tích đất trồng cá rÊt lín.
Vậy đâu là động lực thúc đẩy để đàn bò có tốc độ tăng trởng cao nh vậy. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân thúc đẩy để đàn bò có sự tăng trởng mạnh mẽ nh vậy. Trong đó yếu tố có tác động lớn nhất là hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò. ở thời điểm hiện nay một con bê đực lai Sind 6 - 7 tháng tuổi giá từ 5 đến 6 triệu đồng, nếu là bê cái có ngoại hình đẹp thì giá có thể lên tới 7 triệu. Thông thờng bò có khoảng cách giữa hai lứa đẻ là từ 1 tới 1,5 năm và giá sữa hiện nay rất cao tầm 7500 đồng/lít. Dễ nhận thấy hiệu quả từ nuôi bò là rất lớn. Ngoài ra các chơng trình khuyến nông của tỉnh nh cho vay vốn, hỗ trợ công tác thụ tinh nhân tạo... cho ngời nông dân cũng là nguồn động lực mạnh mẽ thúc đẩy đàn bò phát triển. Với ngời dân ở Vân Hoà con bò đã đợc xem là đối tợng nuôi chủ chốt và đang đợc chú trọng phát triển.
Cũng qua bảng 4.4 chúng tôi thấy đàn lợn trên toàn xã có sự biến đổi thất thờng. Nếu xét 4 năm gần đây đàn lợn có xu hớng giảm. Năm 2005 cả xã
có 3392 con lợn, đến năm 2006 có 4197 con tăng 23,7% so vơi năm 2005.
Năm 2007 Vân Hòa có 3376 con lợn, giảm 19,56% so vơi năm 2006. Đến năm 2008 cả xã có 2800 con lợn, giảm 17,06% so với năm 2007. Nh vậy trong vòng 4 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm đàn lợn giảm 4,4%. Nguyên nhân là do mấy năm gần đây dịch nở mồm long móng, bệnh tai xanh xảy ra trên toàn quốc đặc biệt là các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng nên ngời dân không dám mở rộng quy mô chăn nuôi. Mặc dù vậy với giá thịt lợn trên thị tr- ờng trong nớc luôn ổn định và ở mức cao (12000 tới 14000 đồng một kg lợn hơn), với mức giá ấy ngời nuôi có lãi khá cao. Đây chính là động lực khuyến khích ngời nông dân đầu t phát triển chăn nuôi lợn, nhất là lợn thịt.
Nhìn chung nghề nuôi lợn đang có đợc những điều kiện thuận lợi để phát triển và nó sẽ còn tiếp tục tăng trởng trở lại trong những năm gần đây.
Gia cầm là đối tợng chăn nuôi đòi hỏi mức độ đầu t thâm canh cao nhất trong các loài vật nuôi, khả năng chống chịu bệnh thấp đã vậy khả năng lây dịch cao. Chính vì thế mà hiệu quả chăn nuôi cha cao, ngời dân chăn nuôi gia cầm chỉ mang tính tận dụng là chính, những hộ nuôi công nghiệp thì lại đang giảm xuống. Qua bảng 4.4 chúng tôi thấy, năm 2005 và 2006 đàn gia cầm của xã có tầm 40000 con, đến năm 2007 đột ngột tăng cao cả xã có 60370 con, tăng 50% so với mấy năm trớc. Nhng đến năm 2008 đàn gia cầm của xã giảm mạnh chỉ còn 25000 con, giảm 58,59%. Sở dĩ đàn gia cầm của xã giảm mạnh nh vậy, vì năm qua đại dịch cúm gia cầm xảy ra trên toàn quốc. Hàng vạn gia
cầm bị tiêu huỷ, ngời dân không còn giám dùng thịt gia cầm và xã Vân Hoà không thoát khỏi điều đấy. Nhng hiện nay do Cục Thú y đã phòng dịch kịp thời nên ngời dân đã có nhu cầu sử dụng thịt gia cầm trở lại, và trong nay mai
đàn gia cầm của xã sẽ khôi phục đợc đà phát triển nh trớc đây.
Nhìn chung trong những năm gần đây đàn gia súc, gia cầm của Vân Hoà có sự phát triển không ổn định, duy chỉ có đàn bò là có sự phát triển đều.
Tuy nhiên cũng chỉ là bề nổi vì trong sự giảm sút ấy có sự phát triển mạnh mẽ về chất và do ảnh hởng của dịch bệnh. Với nhu cầu về thịt gia súc và gia cầm lớn nh hiện nay, cùng sự giúp đỡ của các trung tâm nghiên cứu ở xung quanh ngành chăn nuôi của Vân Hòa sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về chất lợng và số lợng trong năm tới.