2.3. Đặc điểm sinh sản của trâu
2.3.4. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của con trâu
Tuổi thành thục về tính là khoảng thời gian đợc tính bằng ngày, tháng tuổi mà ở đó gia súc bắt đầu có hoạt động sinh dục và có biểu hiện muốn giao phối lần đầu. Đây đợc xem là một chỉ tiêu đánh giá tính mắn đẻ của giống.
Gia súc nói chung là có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc. Chính vì thế mà mặc dù đã có khả năng hoạt động sinh sản ở tuổi thành thục về tính, nhiều tác giả vẫn cho rằng không nên sử dụng chúng ngay.
Nếu ta sử dụng trâu đực ngay ở thời điểm này, chất lợng tinh dịch sẽ kém, dẫn tới tỷ lệ thụ thai thấp, sức sống của đàn con sinh ra kém và thời gian sử dụng trâu đực bị giảm sút. Với trâu cái, nếu đợc phối giống và mang thai vào thời
điểm này thì tỷ lệ sảy thai sẽ cao hơn, tỷ lệ đẻ khó tăng lên, sản lợng sữa thấp, con non sinh ra yếu, sinh trởng chậm và khả năng làm việc của trâu giảm xuống. Tuy nhiên, nếu phối giống cho trâu quá muộn sẽ làm cho năng suất sinh sản vốn có của trâu cũng nh khả năng tiết sữa của trâu bị giảm sút. Các ý kiến cho rằng: phối giống cho trâu tốt nhất là vào lúc nó đạt 70% khối lợng tr- ởng thành.
Tuổi thành thục về tính của trâu phụ thuộc vào loại hình, giống trâu và
đặc biệt là chế độ chăm sóc, nuôi dỡng nghé trớc và sau khi tách mẹ. Theo tác giả Mai Văn Sánh (1996) thì trâu Murrah nuôi tại Sông Bé - Việt Nam có tuổi thành thục sinh dục là 33,81 tháng.
Nguyên Đức Thạc (1977) cho biết trâu cái F1 (Murrah x Nội) có tuổi thành thục về tính sớm hơn trâu thuần, trung bình là 34 tháng tuổi. Nh vậy trâu là loài gia súc có tuổi thành thục về tính muộn hơn so với các loài gia súc khác.
Bảng 2.4. Tuổi thành thục về tính của một số loài gia súc (tháng tuổi)
Loài gia súc Con đực Con cái
Tr©u néi VN 18 - 32 18 - 21
Bò 12 - 18 8 - 12
Ngùa 12 - 20 12 - 18
Lợn 5 - 8 6 - 8
(Giáo trình sinh lý gia súc năm 1996)
2.3.4.2. Tuổi đẻ lứa đầu của trâu
Đây là chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của con cái. Nó đợc tính bằng tuổi của trâu khi nó đẻ lứa thứ nhất. Chỉ tiêu này chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố khác nhau nh: giống, điều kiện nuôi dỡng, chăm sóc, kỹ thuật phối giống...
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về chỉ tiêu sinh sản này của trâu và
đã có các công bố khác nhau về vấn đề này. Tác giả Sethi và cộng sự (1996) qua theo dõi 615 trâu Murrah từ năm 1971 - 1994 kết luận rằng: tuổi đẻ lứa
đầu trung bình của chúng là 52,9 tháng. Còn Ashfag (1954) lại cho biết tuổi
đẻ lứa đầu của trâu ấn Độ là 48 tháng, ở Pakistan là 47 tháng (dao động từ 32 - 70 tháng). Khire và cộng sự (1977) trích dẫn bởi Nguyễn Đức Thạc (1983) nghiên cứu trên giống trâu Nagpuri của ấn Độ cho thấy tuổi đẻ lứa đầu của giống trâu này là 1634 ngày tơng đơng với khoảng 53 tháng.
ở Việt Nam Nguyễn Đức Thạc và cộng sự (1985) đã theo dõi trên đàn trâu Murrah nuôi tại Ngọc Thanh cho biết, tuổi đẻ lứa đầu củ trâu là 43 tháng.
Mai Văn Sánh cũng cho biết, tuổi đẻ lứa đầu của trâu Murrah là 45,21 tháng, còn trâu lai F1 (Murrah x cái Nội) là 49,1 tháng. Nguyễn Văn Thanh (1995) cho biết tuổi đẻ lứa đầu của trâu miền Bắc Việt Nam tập trung vào giai đoạn 49 - 60 tháng tuổi (59,3%).
Lê Viết Ly, Lê T, Đào Lan Nhi (1994) cho biết tuổi đẻ lứa đầu và tỷ lệ
đẻ của trâu ở một số xã miền núi tỉnh Tuyên Quang nh sau:
Bảng 2.5. Tuổi đẻ lứa đầu
Tổng số 3 - 4 tuổi 4 - 5 tuổi 5 - 6 tuổi > 6 tuổi
N % N % N % N %
524 57 10.8 178 33.9 177 33.7 112 21.3
(Nguồn: Lê Viết Ly, Lê T, Đào Lan Nhi, 1994) 2.3.4.3. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Đây là chỉ tiêu đợc tính bằng khoảng thời gian từ khi trâu đẻ lứa trớc tới khi đẻ lứa tiếp theo. Nó là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng suất sinh sản của trâu. Chỉ tiêu này phụ thuộc thời gian mang thai và thời gian phối lại sau khi
đẻ. Trong đó, thời gian mang thai là đặc trng của loài và ít biến động. Chính vì
thế khoảng cách lứa đẻ chủ yếu phụ thuộc thời gian phối lại sau khi đẻ và kết quả phối giống. Tức là phụ thuộc nhiều nhất vào chế độ chăm sóc, nuôi dỡng và khả năng phát hiện động dục cũng nh kỹ thuật phối giống.
Đã có nhiều công bố nghiên cứu về chỉ tiêu này trên con trâu. Alim và Ahmed (1954) cho biết khoảng cách giữa hai lứa đẻ của trâu là 550 ± 100 năm ta thấy trâu bò đã đ 25,6 ngày. Ishap và Shah (1975) trích dẫn bởi Tiến Hồng Phúc (2002) công bố chỉ tiêu ấy trên trâu NiLi - RaVi nuôi tại Pakistan là 524 ngày. Theo Nguyễn Đức Thạc và Nguyễn Văn Vực (1985) thì trâu Murrah nuôi tại Ngọc Thanh có khoảng cách lứa đẻ là 632 ngày.
Theo Lê Viết Ly, Lê T, Đào Lan Nhi (1994) cho biết khoảng cách giữa hai lứa đẻ của trâu Tuyên Quang nh sau:
Bảng 2.6. Khoảng cách giữa hai lứa đẻ của trâu
Tổng 3 năm 2 lứa 2 năm 1 lứa 3 năm 1 lứa
N % N % N %
490 117 23.8 215 43.8 158 32.2
(Nguồn : Lê Viết Ly, Lê T, Đào Lan Nhi, 1994) 2.3.4.4. Số con đẻ ra trong một đời trâu cái
Nuôi dỡng tốt, đủ đực giống, cho phối kịp thời, bình quân một trâu cái cho 8 – 9 nghé. Tại trại Ngọc Thanh, nhiều trâu cái 15 - 16 tuổi cho 10 - 11 nghé. Trong nhân dân có trâu cái 22 tuổi đẻ đợc 17 nghé (Lạng Sơn) hoặc 15 nghé (Thanh Hoá, Tuyên Quang).
Nhng trong thức tế, qua điều tra 3247 trâu cái ở Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thanh Hoá, đa số chỉ đẻ 5 - 6 nghé, số đẻ 8 - 9 con rất ít. Lý do là trâu 4 - 5 tuổi mới đẻ, 15 - 16 tuổi đã loại và nhịp đẻ bình quân chỉ 2 năm một lứa, hoặc dài hơn.
Sức đẻ của trâu tốt từ lứa 3 duy trì tới lứa 7 - 8, sau đó giảm dần. Nh vậy, nên lấy đến tuổi 13 - 14. Tuổi sử dụng này tăng hay giảm phụ thuộc vào
điều kiện nuôi dỡng tốt hay xấu. Theo dõi trọng lợng sơ sinh nghé qua 10 lứa
đẻ trên 6 trâu cái, có số liệu sau.
Bảng 2.7. Thể trọng sơ sinh nghé qua 10 lứa đẻ trên 6 trâu cái đẻ
Lứa đẻ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tuổi mẹ (năm, tháng) 3,4 4,8 6,2 7,8 9,4 10,8 12 13,4 14,9 16,3 Bình quân trọng lợng
sơ sinh nghé, kg Cao, kg ThÊp, kg
24,1 27 22
26 29 23
29,1 32,5 27
30,3 33,2 29
32,5 39 28,5
30,4 36,3 27
30,5 37 24
28,6 32 25
28 31 23
26 28 24
Qua bảng 2.7 thấy, trọng lợng nghé đẻ ra tăng dân từ lứa đẻ 1 đến 3, cao nhất ở lứa đẻ 5 - 6 và sau lứa đẻ 8 thì giảm dần.
2.3.4.5. Nhịp đẻ và tỉ lệ đẻ
Đẻ nhiều hay ít, mau hay tha do đặc điểm sinh lý và tác động của ngoại cảnh quyết định. Trâu đẻ tha hơn bò. Nuôi dỡng tốt, đẻ mau hơn,...
ở trâu ta, phân ra 3 loại nhịp đẻ: nhịp đẻ mau (đẻ năm một nghé hoặc hai năm rỡi đôi), nhịp đẻ trung bình (ba năm đôi), nhịp đẻ tha (hai năm và trên hai n¨m mét nghÐ).
Nhịp đẻ mau hay tha quyết định tỉ lệ đẻ cao hay thấp của đàn trâu hàng n¨m.
Tính tỉ lệ đẻ cũng có cách khác nhau, ở đây chúng ta tính tỉ lệ đẻ của trâu hàng năm theo cách lấy số trâu cái đẻ trong năm chia cho tổng số trâu cái
đến tuổi đẻ.
Qua điều tra trên 5 tỉnh miền Bắc (Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Nghệ An), trong 17 điểm với 6055 trâu cái từ 2 răng hoặc 5424 trâu cái từ 4 răng cho thấy:
- Tỷ lệ đẻ của trâu bình quân là 43% nếu tính trên trâu từ 2 răng và 48%
nếu tính từ trâu cái từ 4 răng.
- Vùng có tỉ lệ đẻ cao là 57 - 63,39% nh vùng Hng Nguyên, Thanh Ch-
ơng, Thạch Thành, Hàm Yên; cùng có tỉ lệ đẻ thấp, dới 45% nh vùng Lộc Bình, Ôn Châu, Tràng Định, Yên Sơn, Sơn Dơng, Chiêm Hoá.
Tuy vậy, nơi có đồng cỏ tốt, có tập quán nuôi trâu sinh sản, thì trâu có nhịp đẻ mau nhiều hơn và tỉ lệ đẻ hàng năm cao hơn. Ví dụ xã Thành Trực (Thạch Thành - Thanh Hóa), xã Vĩnh Yên (Lục Yên - Yên Bái),... nhịp đẻ mau chiếm 45 - 55% và bình quân một trâu cái 2 năm rỡi đến 3 năm cho 2 nghé.
2.3.4.6. Tính mùa vụ trong sinh sản của trâu
Hoạt động sinh sản của trâu đực diễn ra liên tục, không mang tính chu kỳ và tính thời vụ. Tuy nhiên chất lợng tinh dịch của trâu có sự khác nhau giữa các mùa trong năm. Vào mùa thu chất lợng tinh dịch của trâu là tốt nhất. Đó là do ảnh hởng của nguồn thức ăn tốt, dồi dào trong mùa hè.
Với trâu cái thì hoạt động sinh sản mang tính thời vụ rất rõ ràng. Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này và các tác giả đã chỉ ra rằng trâu cái thờng
động dục vào mùa Đông, Xuân và đẻ nhiều nhất vào mùa Thu, Đông.
Theo Rife (1959) thì vào những tháng nóng nực trâu cái thờng không
động dục, Villegas (1958) chỉ ra rằng hoạt động sinh dục thờng xảy ra mạnh vào các tháng mùa ma, mát mẻ và vì thế trâu ở Philippin có khuynh hớng sinh sản theo mùa rõ ràng.
Tác giả Mai Văn Sánh (1996) cũng chỉ ra rằng trâu Murrah nuôi tại Sông Bé động dục tập trung vào thời gian từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau (70,27%) và chúng đẻ nhiều vào các tháng mùa Thu và Đông. Cũng có nhiều tác giả cho rằng vụ đẻ có ảnh hởng tới khoảng cách lứa đẻ của trâu. Những trâu đẻ vào mùa ma (tháng 7 - 10) hàng năm có khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn (461 ngày), nếu đẻ vào mùa hè nóng nực thì khoảng cách ấy là 529 ngày.
Phần thứ ba