Quan điểm phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020

Một phần của tài liệu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh cà mau theo hướng phát triển bền vững (Trang 106)

7. Cấu trúc đề tài nghiên cứu

3.1. Quan điểm phát triển kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020

3.1.1. Quan điểm phát triển

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang có những bước nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế trí thức phát triển, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và làm biến đổi nhanh các lĩnh vực xã hội. Toàn cầu hóa, mở cửa và hội nhập đã và đang trở thành xu thế tất yếu, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa gia tăng sức ép cạnh tranh đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá dự báo các yếu tố, điều kiện phát triển, thực trạng phát triển, những cơ hội và thách thức; quan điểm phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau trong thời kỳ quy hoạch đến năm 2020 như sau:

Phát triển nông nghiệp tỉnh Cà Mau đến năm 2020 phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của vùng đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững

Đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn trên cơ sở khai thác, phát huy các thế mạnh và lợi thế so sánh của tỉnh, đồng thời tạo đột phá trong sản xuất sản phẩm chủ lực để phát triển nhanh.

Kết hợp phát huy các nguồn lực tại chỗ với thu hút nguồn lực ngoài tỉnh, thực hiện tốt liên kết phát triển vùng.

Phát triển nông nghiệp phải dựa trên cơ sở công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, bên cạnh đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh còn tạo ra khối lượng hàng xuất khẩu lớn.

Phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới đáp ứng đồng thời các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.

Gắn phát triển nông nghiệp nông thôn với củng cố tăng cường quốc phòng, an ninh, trật tự và công bằng xã hội; giữ vững chủ quyền vùng biển và hải đảo.

Khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài tỉnh để xây dựng ngành nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hóa lớn, tập trung và phát triển toàn diện dựa trên tính hiệu quả và bền vững, đặc biệt đưa tỉnh Cà Mau trở thành địa phương mạnh về kinh tế biển.

Phát triển nông nghiệp nông thôn nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH tỉnh Cà Mau nói chung và góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho cộng đồng dân cư, đặc biệt là nông ngư dân nghèo ven biển và hải đảo. Góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ vững vị trí chiến lược về quốc phòng an ninh của vùng ĐBSCL và cả nước.

3.1.2. Mục tiêu cụ thể

- Diện tích NTTS đến năm 2015 đạt 296.000 ha và ổn định đến năm 2020. - Diện tích gieo trồng lúa đến năm 2015 đạt: 131.900 ha và đến năm 2020 là: 131.500 ha.

- Diện tích rừng tập trung đến năm 2015 là 105.035 ha.

- Diện tích làm muối năm 2015 và duy trì đến năm 2020: 300 ha.

- Sản lượng thủy sản đến năm 2015 đạt 450.000 tấn, trong đó khai thác 130.000 tấn, nuôi trồng 320.000 tấn; đến năm 2020, tổng sản lượng thủy sản đạt 522.000 tấn, trong đó khai thác 130.000 tấn, nuôi trồng 392.000 tấn.

- Sản lượng lúa đến năm 2015 đạt 600.000 tấn (trong đó lúa trên đất nuôi tôm 157.800 - 180.000 tấn); đến năm 2020 sản lượng lúa 630.000 - 700.000 tấn (lúa trên đất nuôi tôm 165.000 - 200.000 tấn).

- Tổng đàn heo đến năm 2020 từ 350.000 - 400.000 con, tổng đàn gia cầm 2.575.000 - 3.000.000 con.

- Sản lượng muối đạt từ 200.000 - 210.000 tấn trong giai đoạn 2011 - 2020. - Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư - diêm nghiệp (gọi tắt là nông nghiệp) theo giá cố định 1994 đạt 14.835,2 – 18.119,0 tỷ đồng năm 2015, đạt 18.037,5 – 22.482,5 tỷ đồng năm 2020.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá hiện hành đạt 25.900,2 – 31.374,9 tỷ đồng năm 2015, đạt 31.194,0 – 38.615,6 tỷ đồng năm 2020.

- Giá trị tăng thêm (VA) ngành nông nghiệp năm 2015 theo giá cố định 1994 đạt 6.996,2 - 8.264,0 tỷ đồng, theo giá hiện hành đạt 11.210,0 - 13.327,0 tỷ đồng; đến năm 2020 theo giá cố định 1994 đạt 8.679,9 - 10.312,0 tỷ đồng, giá hiện hành đạt 14.198,0 - 16.665,0 tỷ đồng.

- Giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) trên 1 ha đất nông nghiệp năm 2015 đạt 55,01- 67,14 triệu đồng; năm 2020 đạt 66,25 - 82,63 triệu đồng.

- Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp/đầu người nông thôn năm 2015 đạt 11,71 - 13,92 triệu đồng (586 - 696 USD/người); năm 2020 đạt 15,78 - 18,52 triệu đồng (790 - 926 USD/người).

3.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Cà Mau theo hướng phát triển bền vững hướng phát triển bền vững

3.2.1. Chuyển dịch cơ cấu theo ngành

Tập trung sản xuất lúa chất lượng cao, trong đó tận dụng lợi thế phát triển “lúa đặc sản - gạo sạch”, đây chính là hàng hóa nông sản thế mạnh của Ngành trồng trọt tỉnh Cà Mau, với lợi thế đất mặn ven biển - cửa sông giàu vi lượng lại canh tác vụ mưa nên các giống lúa đặc sản địa phương như: Một bụi, tài nguyên, tép hành.. hoặc các giống lúa cao sản chất lượng cao như: OM4900, ST5,ST3,…giá bán lúa gạo kể trên thường cao hơn lúa gạo thường; đặc biệt, là thị trường trong nước có nhu cầu tiêu thụ rất mạnh, riêng lúa trồng trên đất nuôi tôm còn có thể tạo ra gạo hữu cơ an toàn vì không sử dụng phân vô cơ và thuốc Bảo vệ thực vật.

Phát triển các loại vật nuôi chủ lực (heo, gia cầm) tại các vùng sinh thái thích hợp để ngành chăn nuôi phát triển bền vững gắn với thị trường tiêu thụ nội tỉnh.

Qua phân tích điều kiện sinh thái và thực trạng chăn nuôi tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2001 - 2009 cho thấy, nên tập trung ưu tiên phát triển chăn nuôi heo hướng nạc và các loại gia cầm, kế tiếp là chăn nuôi trâu thịt, đặc biệt chú trọng tăng

chất lượng sản phẩm chăn nuôi hơn là tăng số lượng vật nuôi.

Từ nay CDCCKT NN huyện U Minh, Thái Bình, Trần Văn Thời cần tập trung vào phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá một cách toàn diện. Trong đó chú trọng phát triển trồng trọt và chăn nuôi thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Hiện tại và tương lai nông nghiệp huyện U Minh, Thái Bình, Trần Văn Thời vẫn là ngành giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế huyện. Vì vậy, phương hướng chuyển dịch ngành nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững là:

- Đẩy mạnh phát triển NN toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, xác định việc đẩy nhanh quá trình CDCCKT ngành NN trên cơ sở tăng nhanh giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích, đẩy mạnh công tác ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao. Tập trung phát triển chăn nuôi.

- Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất NN, đảm bảo an ninh lương thực, xây dựng cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi hợp lý. Phát triển theo chiều sâu cả trồng trọt và chăn nuôi.

- Nâng cao hiệu quả đầu tư, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho nông dân, trên cơ sở đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm giảm dần tỷ trọng lao động NN.

- Tăng nhanh giá trị tổng sản phẩm thu nhập trên một ha đất canh tác thông qua CDCC cây trồng, vật nuôi, cơ cấu vụ mùa và tăng hệ số sử dụng đất.

- Hình thành các vùng sản xuất hàng hóa như vùng lúa chất lượng cao, vùng rau sạch, cây công nghiệp ngắn ngày phục vụ nhu cầu ở các đô thị lân cận trong vùng và nội tỉnh. Chăn nuôi phát triển theo vùng sinh thái: phát triển nuôi bò, dê, ong, lợn, gà. Vùng đồng bằng : trâu, bò, lợn, gà, vịt. Vùng ven biển: lợn, gà, vịt để phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn thức ăn nhằm nâng cao hiệu quả ngành chăn nuôi.

Đối với trồng trọt: Cần phát triển trồng trọt theo hướng toàn diện, xoá thế độc canh cây lương thực, đa dạng hoá sản phẩm, hình thành các vùng tập trung chuyên canh. Dựa vào nhu cầu thị trường để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu

mùa vụ. Hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường, làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đối với huyện U Minh, Thái Bình, Trần Văn Thời cần đầu tư phát triển vào các nhóm sản phẩm:

* Sản xuất lúa:

- Lập, trình duyệt và tổ chức thực hiện dự án đầu tư phát triển vùng lúa Mùa đặc sản địa phương ở 2 huyện: Trần Văn Thời, U Minh.

- Trung tâm giống nông nghiệp tỉnh Cà Mau nên tiến hành thu thập - xây dựng cho được tập đoàn giống lúa đặc sản địa phương, tiến hành thực nghiệm bình tuyển, phục tráng để chọn lựa ra các giống lúa thích nghi với điều kiện sinh thái của từng địa phương chịu mặn - phèn, gạo thơm - dẻo - ngon.

- Xây dựng và quản lý hệ thống nhân giống lúa xác nhận theo hướng từng bước xã hội hóa công tác nhân giống, đảm bảo sản xuất đủ số lượng, đúng chất lượng và bán với giá cả hợp lý.

- Thực hiện quy trình canh tác “3 giảm, 3 tăng” và chương trình thâm canh lúa tổng hợp trên toàn bộ diện tích gieo trồng lúa vào năm 2015.

- Tăng cường đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi khép kín cho vùng lúa thuộc các huyện Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình đảm bảo trữ - giữ được nước mưa, tiêu úng, sổ phèn và kiểm soát mặn, tận dụng nước ngọt tưới bổ sung để đáp ứng yêu cầu tăng vụ, thâm canh tăng năng suất lúa một cách an toàn nhất.

- Đầu tư thêm thiết bị cơ giới khâu thu hoạch và sau thu hoạch lúa, đảm bảo gieo cấy đúng thời vụ, giảm chi phí, giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch, tăng giá trị và lợi nhuận từ sản xuất lúa, triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số: 48/NQ-CP.

* Rau thực phẩm:

- Lập, trình duyệt và tổ chức triển khai thực hiện dự án đầu tư trồng và bảo quản rau an toàn, trong đó ưu tiên dự án rau, màu ở Giồng Trương Phi, ấp Cái Nai, ấp Tân Cang, dự án rau an toàn ở xã Lý Văn Lâm.v.v... theo các nội dung ghi trong Quyết định số: 107/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách

hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau an toàn đến năm 2015.

- Xây dựng các cửa hàng và đại lý cung ứng vật tư cho sản xuất rau an toàn gồm hạt giống rau, lưới, màng phủ, thiết bị tưới phun, khung nhà lưới, thuốc BVTV, phân hữu cơ vi sinh. Đồng thời tổ chức sản xuất rau theo mô hình kinh tế hợp tác liên kết với các thương lái, cửa hàng tiêu thụ rau thực phẩm tại các chợ của tỉnh Cà Mau.

- Xây dựng các mô hình luân canh cây rau thực phẩm với lúa ở vùng Bắc Cà Mau, đưa rau vào hệ thống cây trồng trên đất vườn của nông hộ và chú trọng phát triển các loại rau bản địa.

* Đậu - Dưa hấu:

Mở rộng diện tích trồng cây họ đậu luân canh với lúa ở các đơn vị đất đai có điều kiện thích hợp như ở xã Khánh Bình Tây với những giống đậu năng suất cao. Tiếp tục tăng diện tích dưa hấu trồng rải vụ cân đối theo nhu cầu thị trường bằng giống dưa hấu lai F1 có chất lượng cao.

* Cây lâu năm:

Tập trung cải tạo và áp dụng kỹ thuật thâm canh dừa, chuối cũng như mở rộng diện tích trồng cây ăn trái để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả đầu tư kinh tế vườn theo hướng sản xuất hàng hóa, giảm nhanh diện tích vườn tạp, cây tạp thay thế diện tích dừa đã già cỗi, dừa bị bọ cánh cứng phá hoại không còn khả năng phục hồi, sinh trưởng kém do ảnh hưởng của mặn hoặc đói dinh dưỡng ở các huyện thuộc vùng Nam Cà Mau. Xây dựng mô hình vườn chuối thâm canh đạt năng suất và chất lượng cao (năng suất bình quân > 20 tấn/ha, trọng lượng > 15kg/buồng).

Đối với chăn nuôi: xuất phát từ tình hình thực tế về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi thì phương hướng phát triển ngành chăn nuôi theo hướng phát triển bền vững cần tập trung vào các vấn đề: tăng cường đầu tư vốn, kỹ thuật chăn nuôi, ứng dụng các giống mới nhằm từng bước nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi cho cân đối với ngành trồng trọt. Hướng chuyển dịch của ngành này là:

- Đối với các hộ gia đình cần tăng số lượng và chất lượng đàn lợn và đàn gia cầm nhằm tận dụng nguồn phế phẩm của trồng trọt.

- Tập trung đầu tư vào đàn gà, vịt vì đây là những sản phẩm chăn nuôi dễ tiêu thụ trên thị trường đồng thời cũng là sản phẩm chăn nuôi lâu đời trên địa bàn huyện. Thực tế hiện nay quy mô đàn gà, vịt còn nhỏ, chủ yếu nuôi phục vụ mục đích gia đình và kinh doanh nhỏ lẻ mà chưa chú trọng đến việc chọn giống. Vì vậy cần đầu tư nguồn vốn, kỹ thuật nuôi thả và chọn những giống tốt có chất lượng sản phẩm cao.

- Trên cơ sở các hộ gia đình chăn nuôi có quy mô lớn cần hình thành thêm các chuồng, trại chăn nuôi tập trung có khối lượng hàng hoá lớn. Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, như trang trại chuyên nuôi gà, lợn nạc, lợn giống, vịt siêu thịt. Song song với việc hình thành các chuồng, trại và các trang trại chăn nuôi tập trung thì cần thường xuyên tham khảo ý kiến cán bộ thú y, đưa kỹ thuật chăn nuôi công nghiệp vào sản xuất, các cách phòng tránh dịch bệnh vật nuôi.

- Phát triển chăn nuôi kết hợp công nghiệp chế biến nhằm tận dụng phụ phẩm của ngành trồng trọt.

- Đối với chăn nuôi gia súc lớn cần chuyển sang chăn nuôi chuồng trại. Thực tế hiện nay chăn nuôi gia súc như trâu, bò thường là thả rông đặc biệt ở vùng gò đồi do diện tích lớn và có thức ăn tự nhiên, vì thế năng suất chất lượng thấp.

- Cần tập trung xây dựng các vùng giống, các điểm thụ tinh nhân tạo, các mạng lưới thú y nhằm phát triển chăn nuôi toàn diện.

- Có cơ chế, chính sách phát triển chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ và vừa, hình thành vùng chăn nuôi tập trung ứng dụng kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới, đồng thời đầu tư cơ sở vật chất (trạm thú y, trạm kiểm dịch động vật cả đường bộ và đường thủy) trang thiết bị (phòng thí nghiệm, dụng cụ chuyên dùng, …) cho Chi cục Thú y và cán bộ công chức, viên chức người lao động làm việc trong ngành thú y từ tỉnh đến cơ sở (xã, ấp).

- Tập trung các nguồn lực làm tốt 3 vấn đề quan trọng trong phát triển chăn nuôi là: giống vật nuôi - thức ăn - kỹ thuật chăm sóc, quản lý vật nuôi trong đó việc

sản xuất đủ giống vật nuôi đạt chất lượng, giá bán hợp lý đồng thời làm tốt công tác quản lý giống vật nuôi được xác định có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm tăng năng suất, tăng chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh sản phẩm chăn nuôi và hạn chế dịch bệnh. Đối với giống heo hướng nạc 2 - 3 máu ngoại Yorkshire - Landrace - Pietran phải đạt 100% số lượng vật nuôi vào năm 2020. Đầu tư xây dựng thêm các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi, các đại lý, các cửa hàng bán thức ăn chăn nuôi ở các địa bàn chăn nuôi tập trung.

3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ

Trên cơ sở địa hình tự nhiên và sự khác biệt về đất đai, khí hậu, thủy văn…nên tỉnh chia thành 3 vùng sinh thái. Vì thế phương hướng CDCCKT NN ở

Một phần của tài liệu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh cà mau theo hướng phát triển bền vững (Trang 106)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(145 trang)