Chương 2 ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Về đội ngũ công chức và thực trạng đạo đức công chức
Ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, cùng với việc xây dựng chính quyền cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chăm lo xây dựng đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy chính quyền đó. Hơn nửa thế kỷ hoạt động và phát triển, đội ngũ công chức nước ta ngày càng lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Khi mới xây dựng năm 1945, cả nước mới có khoảng 44.620 công chức, đến năm 1959 là 106.533 người, năm 1999 là 1.253.000 người, đến nay là 1.778.734 công chức từ cấp huyện trở lên cùng công chức cấp xã là 192.438 người.
Đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay được hình thành từ nhiều nguồn, có người bắt đầu từ tham gia kháng chiến trong cách mạng dân tộc, dân chủ;
có người tham gia cách mạng cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở niềm Bắc; có người được đào tạo từ nước ngoài (trước đây là ở các nước xã hội chủ nghĩa, sau đó là nhiều nước trên thế giới); cũng có một số của chế độ cũ ở miền Nam (trước năm 1975) để lại; phần lớn được tuyển dụng là những người sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp xuất thân từ nhiều thành phần xã hội.
Qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ đất nước, đội ngũ công chức ngày càng thể hiện và phát huy bản chất công chức của chế độ mới. Khi đất nước đổi mới, chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, công chức thực sự đã có những chuyển biến, bắt nhịp kịp và đáp ứng được những yêu cầu của nhiệm vụ mà quá trình đổi mới đặt
34
ra. Tư tưởng, tác phong thụ động do cơ chế bao cấp tạo ra đã dần dần được khắc phục, trong thực thi nhiệm vụ đã thể hiện sự năng động sáng tạo hơn;
không khí và ý thức thực hiện dân chủ của công chức trong hoạt động ở các cơ quan từ Trung ương đến địa phương và mỗi cơ sở ngày càng cao hơn. Quá trình cải cách hành chính Nhà nước, công chức đã đóng vai trò tích cực trong cải cách tổ chức bộ máy, thay đổi thể chế hoạt động và xây dựng đội ngũ công chức lớn mạnh, đặc biệt là phát triển về chất lượng. Trong những năm qua, đội ngũ công chức đã được nâng cao một bước rõ rệt về mọi mặt như trình độ văn hoá, lý luận chính trị, pháp luật, kiến thức về kinh tế, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, và nhất là, nâng cao về nghiệp vụ hành chính, tin học, ngoại ngữ để bảo đảm tính chuyên nghiệp ngày càng cao.
Tại Hội nghị triển khai công tác ngành Tổ chức Nhà nước, ngày 23 tháng 1 năm 2008, Bộ Nội vụ đã thông báo kết quả công tác Tổng điều tra đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ công chức hành chính Nhà nước và cán bộ công chức cấp xã trong cả nước. Cuộc tổng điều tra bước đầu đã xây dựng được cơ sở dữ liệu thông tin về trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính ngoại ngữ, tin học, kiến thức quốc phòng an ninh. Trong số 1.778.734 cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên biên chế hành chính thuộc Chính phủ là 237.654 người; biên chế hành chính thuộc Văn phòng Quốc hội là 467 người; biên chế hành chính thuộc Văn phòng Chủ tịch nước là 86 người; biên chế thuộc Toà án nhân dân là 12.024 và Viện kiểm sát nhân dân là 11.840; biên chế cán bộ thuộc cơ quan Đảng và đoàn thể do Ban Tổ chức trung ương quản lý là 82.003 người. Biên chế đội ngũ viên chức sự nghiệp công là 1.434.660 người.
Theo kết quả điều tra, trong công chức hành chính cả nước: có 56 người có trình độ tiến sĩ khoa học, 1.044 người có trình độ tiến sĩ, 4.775 thạc sĩ, 120.140 người có trình độ đại học. Về trình độ lý luận chính trị: 10,43% có
35
trình độ cao cấp, 30,21% có trình độ trung cấp. Về trình độ ngoại ngữ:
30,32% có chứng chỉ từ trình độ A trở lên. Về trình độ tin học: 1,98% có trình độ C, 40,22% có trình độ B, 25,4% chưa học tin học.
Trong tổng số 192.438 cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn, người dân tộc thiểu số chiếm 21,79%, đảng viên chiếm 84,67%. Về trình độ văn hoá, 75,45% có trình độ trung học phổ thông, trung học cơ sở chiếm 21,48%. Về chuyên môn nghiệp vụ: có 9 người có trình độ tiến sĩ, 41 thạc sỹ, 14.244 người có trình độ đại học, 3.147 người có trình độ cao đẳng, 93.816 người chưa qua đào tạo (chiếm 48,75%). Về trình độ lý luận chính trị 4,08%
có trình độ cao cấp, 38,15 có trình độ trung cấp, 22,94 có trình độ sơ cấp.
Trong tổng số công chức cấp xã, số người chưa học ngoại ngữ chiếm 94,22%, chưa học tin học chiếm 87,30%.
Số lượng, chất lượng đội ngũ công chức ở nước ta ngày càng được nâng cao nhưng so sánh đội ngũ công chức giữa các vùng, miền, khu vực, các tỉnh, thành, các ngành trong phạm vi cả nước có sự chênh lệch về trình độ trên nhiều lĩnh vực. Do đó việc triển khai và thực hiện những nhiệm vụ được giao cũng không đồng đều, có nơi tốt, nhưng cũng có nơi còn nhiều tồn tại, ách tắc.
2.1.2. Thực trạng đạo đức công chức
Từ hệ thống nguyên tắc đạo đức cơ bản của công chức như đã xác định ở phần trên, cho phép nhận thức một cách tương đối đầy đủ hơn về thực trạng đạo đức công chức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
2.1.2.1. Những mặt tích cực
Đối với công chức Việt Nam hiện nay, trung thành với Tổ quốc, với chế độ chính trị, bảo vệ danh dự quốc thể và lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc là lương tâm, nghĩa vụ, trách nhiệm đồng thời đó cũng là vinh dự, hạnh phúc, là giá trị hướng tới và phấn đấu. Tình cảm thiêng liêng đối với Tổ quốc là
36
nhân tố cơ bản chuyển hoá ý thức về nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với chế độ thành hành vi trong đời sống đạo đức cá nhân cũng như đạo đức công vụ của công chức. Những công chức đảm nhiệm những công việc, chức vụ ở những vị trí ngoại giao hoặc tiếp xúc với người nước ngoài, việc bảo vệ danh dự quốc thể nằm trong tiềm thức của mỗi người, đa phần được dư luận xã hội đánh giá cao.
Hầu hết đều thể hiện sự vinh dự khi trở thành công chức và mong muốn qua vị trí công tác của mình được cống hiến cho Tổ quốc, cho chế độ, cống hiến cho Đảng và Nhân dân. Thực tế đó là một động lực to lớn thúc đẩy sự vận hành của cả hệ thống chính trị, bộ máy hành chính đồ sộ từ Trung ương đến các địa phương và mỗi cơ sở. Thiếu ý thức và hành vi đạo đức đó của công chức, chắc chắn chế độ và Nhà nước chúng ta không thể tồn tại và phát triển vững vàng như những năm qua.
Trung thành với Tổ quốc, với chế độ, bảo vệ danh dự quốc thể, lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc không phải là khẩu hiệu khô cứng mà trong tâm thức của người dân Việt Nam nói chung, mỗi công chức Việt Nam nói riêng đều nhận thức, hành động tuân thủ một cách tự nguyện, tự giác. Lòng nhiệt thành, sự trăn trở và quan tâm sâu sắc mỗi khi lãnh thổ của Tổ quốc bị xâm phạm, tài nguyên của đất nước bị sử dụng lãng phí, lạm dụng và thiệt thòi trong hợp tác đầu tư. Đó là biểu hiện của ý thức trách nhiệm và lòng yêu Tổ quốc.
Gốc của Tổ quốc là Nhân dân. Nhân dân là người sáng tạo, xây dựng và bảo vệ sự tồn vong của Tổ quốc. Do đó, yêu Tổ quốc, yêu nước là yêu nhân dân. Thực hiện công vụ là phục vụ nhân dân. Công chức là “công bộc”
của dân. Phần lớn công chức Việt Nam đều nhận thức và thực hiện được giá trị đạo đức đó.
Đại bộ phận công chức dù làm bất kỳ việc gì cũng làm đến nơi đến chốn, vượt qua khó khăn, thử thách, cố gắng thực hiện và phấn đấu hoàn
37
thành nhiệm vụ, giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân. Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chịu sự tác động phức tạp trong điều kiện chuyển đổi của nền kinh tế - xã hội, nhưng về cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức đã góp phần đóng vai trò quyết định cho những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Có thể nói, nhìn chung công chức ở nước ta là lực lượng xã hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, hoạt động có mục đích, có tinh thần trách nhiệm cao, có ý chí phấn đấu mạnh mẽ thực hiện những mục tiêu, chương trình đã định; trung thực, không cơ hội, không vụ lợi, dám đấu tranh phê bình, có khả năng đoàn kết, quy tụ mọi người và có trách nhiệm trong cuộc sống gia đình, với cộng đồng.
Thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước hơn 20 năm qua, trong đó có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ công chức. Nhiều tấm gương sáng về đạo đức, lối sống trung thực, liêm khiết, năng động sáng tạo góp phần tích cực thúc đẩy công cuộc cải cách, đồng thời, là những tấm gương cho các thế hệ mai sau. Hơn thế nữa, nhiều nhân tố tích cực còn đi đầu trong cuộc đấu tranh chống và ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, làm lành mạnh hoá môi trường xã hội.
Phần lớn công chức giữ vững phẩm chất chính trị, trong sáng về đạo đức, công tâm trong công việc. Nhờ có phẩm chất chính trị tốt, tinh thần độc lập tự chủ và ý thức trách nhiệm cao mà phần lớn công chức đã hăng hái trong hoạt động thực tiễn, có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm cao trong công vụ, tuyệt đối phục tùng nhiệm vụ được lãnh đạo phân công. Đoàn kết nội bộ, tinh thần hợp tác chặt chẽ với đồng nghiệp, với cơ quan tổ chức có liên quan để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đội ngũ công chức luôn luôn học tập để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý, rèn luyện phương pháp làm việc theo pháp luật, có tính khoa học và sáng tạo đạt
38
hiệu quả cao. Có ý thức tu dưỡng, xây dựng lối sống lành mạnh, giản dị, tiết kiệm, thực hành đầy đủ trách nhiệm công dân.
“Nhân dân Việt Nam có truyền thống tốt đẹp là yêu nước, đoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, nhân ái... và những truyền thống đó vẫn đang được giữ gìn, phát huy. Cái “nền xã hội” ấy là khởi nguồn vô tận sinh ra những người tài, là cái nôi sinh ra lớp lớp cán bộ cách mạng Việt Nam. Con người Việt Nam hiện nay và đội ngũ cán bộ nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc truyền thống tốt đẹp của dân tộc”[55, tr 230 - 231].
Đội ngũ công chức đã đóng vai trò tích cực trong công cuộc cải cách hành chính trên các lĩnh vực về thể chế, tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ công chức. Trong đó, đáng kể là đã có những tiến bộ về tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân, các thủ tục hành chính và đặc biệt là thực thi nhiệm vụ đã dựa vững chắc hơn trên cơ sở pháp luật.
Công chức nước ta trong những năm qua đã được nâng cao một bước rõ rệt về trình độ lý luận chính trị, văn hoá và kiến thức về kinh tế thị trường, quản lý nhà nước, pháp luật; đặc biệt là được nâng cao về nghiệp vụ hành chính, ngoại ngữ và tin học. Do tích cực học tập và trình độ mọi mặt được nâng cao nên đội ngũ công chức hành chính điều hành công việc một cách nhanh nhạy, ngày càng có hiệu quả hơn. Nhất là trong bước đầu của cuộc cải cách hành chính, đội ngũ công chức đã bám sát luật pháp, chính sách của Nhà nước để điều hành xử lý công việc. Đạo đức cao nhất của mỗi công chức là sống, làm việc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Mỗi công chức biết kế thừa truyền thống đạo đức của dân tộc và coi đó là yếu tố nội sinh. Họ biết kết hợp chuẩn mực đạo đức với tri thức pháp luật, giáo dục đạo đức đối với giáo dục pháp luật. Trong công việc có trách nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng lẽ phải và pháp luật.
39
Một quan niệm mới về đạo đức hình thành nhờ sự thay đổi về định hướng giá trị và lựa chọn giá trị trong môi trường mới, đó là bước tiến tích cực trong đội ngũ công chức. Bước tiến trong quan niệm về đạo đức công chức thể hiện nổi bật ở chỗ, giá trị đạo đức hướng tới hành động, hướng vào hiệu quả công việc, hướng vào sự hình thành và phát triển nhân cách công chức. Đó là những con người vươn tới khẳng định cá nhân, cá tính, ý thức về vai trò chủ thể, làm quen với lối sống thiết thực, khẩn trương, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm, có trách nhiệm cao trong công vụ. Đạo đức hành động, đạo đức thực tiễn là đạo đức hướng tới hoàn thiện cá nhân, là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Những mặt tích cực trên đây, có ở hầu hết các thành phần, các bộ phận từ trung ương đến địa phương và đến các cơ sở. Mỗi bộ phận có mức độ và biểu hiện khác nhau, nhưng qua thành tựu của công cuộc đổi mới, cho phép ta khẳng định, đội ngũ công chức ở nước ta đã phát triển ngày càng vững mạnh.
2.1.2.2. Mặt tồn tại, yếu kém
Những ưu điểm đã được nêu trên đây là mặt cơ bản nhưng cũng không vì thế mà chúng ta không nhận thấy những tồn tại yếu kém, những khuyết điểm; hiện tượng suy thoái về đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức ở nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều ngành, nhiều cấp; nếu không kịp thời sửa chữa sẽ có nguy cơ lan rộng ảnh hưởng tới chất lượng của đội ngũ công chức và suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân. Về vấn đề này, trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã lưu ý: “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên (trong đó có công chức- theo tác giả) gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng vẫn đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn có hiệu quả” [9, tr.22].
“Năm biểu hiện chủ yếu của tình trạng đó là:
- Suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có xu hướng tăng cả về số lượng và phạm vi.
40
- Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng.
- Tệ nói nhiều làm ít, nói nhưng không làm, làm không đến nơi, đến chốn còn diễn ra ở nhiều nơi.
- Tệ quan liêu, xa dân thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật còn tồn tại ở các cấp, các ngành.
- Tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân, gây hậu quả nặng nề trên nhiều mặt, làm thất thoát tài sản, tiền của của Nhà nước, của nhân dân, cả tiền vay của nước ngoài, gây nhiều bức xúc trong nhân dân” [3, tr.50].
Tổ quốc là một hình ảnh trọn vẹn, tổng hợp của nhiều yếu tố; Nhân dân, người chủ trong ngôi nhà Tổ quốc lại là một tập hợp gồm những con người cụ thể với những lợi ích hết sức đa dạng phong phú. Từ đó dẫn tới những thái cực hoặc tách rời lợi ích của dân với lợi ích của những con người cụ thể, hoặc đồng nhất hoàn toàn lợi ích của một con người cụ thể với lợi ích của nhân dân nói chung. Vì vậy, trong khi giải quyết một số công việc cụ thể, có công chức không xác định đúng đối tượng hoặc cố ý nhầm lẫn nguỵ biện, gây khó khăn cho dân để trục lợi.
Quan hệ của công chức với nhân dân còn mang nặng dấu ấn cai trị kiểu ban phát, xin - cho, thiếu bình đẳng, thiếu tôn trọng. Họ chưa thực sự lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, làm thước đo cho kết quả hoạt động nhiệm vụ của mình. Từ đó dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, về phẩm chất đạo đức, lối sống nảy sinh tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức. Làm cho nhân dân bất bình, lo lắng, giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước là nhân tố kìm hãm bước tiến của công cuộc đổi mới.
Trong những biểu hiện như: thái độ thờ ơ với công việc, thiếu trách nhiệm, thiếu tính tích cực thì căn bệnh nan y của cán bộ, công chức hiện nay là bệnh vô trách nhiệm với dân là phổ biến và nguy hiểm nhất. Bệnh vô trách