Phương hướng xây dựng và nâng cao đạo đức công chức

Một phần của tài liệu Đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay (Trang 64 - 73)

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ

3.1. Phương hướng xây dựng và nâng cao đạo đức công chức

3.1.1. Xây dựng và phát triển đạo đức công chức phải gắn liền và đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là cơ sở kinh tế của lối sống công nghiệp, trên cơ sở đó hình thành các chuẩn mực và quy phạm đạo đức công chức trong xã hội công nghiệp. Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã đề ra chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào khoảng năm 2020. Để thực hiện được chiến lược đó vấn đề quan trọng, có tính chất quyết định là phải có một đội ngũ cán bộ, công chức tương xứng phù hợp với lộ trình và bước đi của các giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tức là xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Một đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực, nắm bắt được những yêu cầu của thời đại, có đủ tài năng, đạo đức và ý chí để thiết kế và tổ

64

chức những kế hoạch của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên mọi lĩnh vực.

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triển, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất đồng thời thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế và xuất hiện kinh tế tri thức. Đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây là đưa yếu tố thông tin, tri thức trở thành nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, làm cho sự vận hành của các quan hệ kinh tế từ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, đến sản xuất và tiêu dùng được rút ngắn.

Bất kỳ một nước đang phát triển nào, nếu biết coi trọng yếu tố “tri thức” và “thông tin”, kết hợp phát triển tuần tự với nhảy vọt, tập trung phát triển ngành công nghệ cao thì đều có thể rút ngắn thời gian của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Cơ chế thị trường tạo ra hàng loạt vấn đề phức tạp mới. Đó là sự thay đổi quan niệm về giá trị con người, thay đổi lối sống của mọi bộ phận dân cư (kể cả cán bộ, công chức). Trong đó lối sống hưởng thụ, chạy theo đồng tiền với bất kỳ giá nào đã trở thành một nguy cơ lớn trong xã hội. Chính môi trường này đã tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm và nghị lực của mỗi cán bộ, công chức đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có những kiến thức mới về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cái quyết định là tri thức, là trình độ tay nghề được đào tạo bài bản để không chỉ thích nghi mà còn làm chủ được nền kinh tế thị trường biết phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong phát triển kinh tế, xã hội. Nền kinh tế công nghiệp sẽ góp phần xoá bỏ những quan hệ đạo đức bảo thủ, lạc hậu của nền sản xuất nhỏ kìm hãm sự phát triển.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo cơ sở kinh tế - xã hội hiện thực cho đạo đức mới xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách

65

mạng được hình thành củng cố và phát triển. Phát triển kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân phải nỗ lực học tập, trau rồi tri thức, kinh ghiệm trong mọi hoạt động lao động sản xuất, quản lý, giao tiếp và ứng xử để có được những năng lực thực tế, những giá trị tự thân, thích ứng với những yêu cầu mới, những thước đo giá trị mới. Sự phát triển của cá nhân về năng lực, trình độ nhận thức và kinh nghiệm xã hội là điều kiện phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức, năng lực thực hiện hành vi đạo đức của cá nhân. Cơ chế thị trường đã gắn việc thực hiện lợi ích với trách nhiệm cá nhân. Từ đó, ý thức trách nhiệm đạo đức và năng lực chịu trách nhiệm đạo đức của mỗi người được nâng lên, làm cho hoạt động của con người trong các mối quan hệ xã hội của mình, sáng tạo ra các giá trị đạo đức một cách tự giác. Điều đó biểu hiện sự tiến bộ của đạo đức, phát triển kinh tế thị trường đã góp phần đem lại sự tiến bộ đạo đức từ những tác động tích cực của nó. Kinh tế thị trường cũng đòi hỏi sự hình thành và phát triển những giá trị đạo đức tương ứng, trong đó có những giá trị chuẩn mực và giá trị đạo đức phù hợp với nó.

3.1.2. Xây dựng đạo đức công chức theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không thể bỏ qua một giá trị đặc biệt quan trọng đó là tư tưởng đạo đức của Người. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã và đang có một vị trí to lớn trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Hơn thế nữa trong bối cảnh trên thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, có những vấn đề ảnh hưởng lớn tới hệ giá trị về đạo đức khiến người ta càng phải đi tìm những tiêu chí mới để kịp thời bổ sung cho sự thiếu hụt và đưa ra những chuẩn mực đạo đức mới. Cũng chính trong thời đại ngày nay, nhịp độ cuộc sống đã và đang thay đổi nhanh chóng dẫn tới làm thay đổi nhiều thể chế, nhiều hệ giá trị đạo

66

đức vốn được xem là truyền thống của nhiều dân tộc cũng đang bị lung lay.

Ngay ở Việt Nam cũng đã xuất hiện lối sống và cách sống xa lạ trái với đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trong bối cảnh đó, việc bàn tới tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là điều cần thiết, ở đó có những giá trị tích cực mà ảnh hưởng của nó không nhỏ tới sự lựa chọn cách sống, lối sống và quan niệm sống của cán bộ, công chức hiện nay.

Tiếp tục cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán bộ công chức; Bác Hồ là tấm gương sáng về đạo đức, lối sống của người cộng sản. Đạo đức, lối sống của Bác Hồ là đạo đức cách mạng: “trung với nước, hiếu với dân”, là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, là tình yêu thương con người, luôn sống có tình nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung, bao dung, rộng lượng, là tinh thần cao cả trong sáng, sống vì mọi người, sống vì nhân loại; đạo đức lối sống là gốc, là nền tảng của cách mạng, làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn. Bác Hồ đã dạy: Trăm sự thành bại của cách mạng đều do đạo đức lối sống của người cán bộ cách mạng mà nên.

Bên cạnh cần, kiệm, liêm, chính, Người còn nói tới Nhân - Trí - Dũng - Liêm - Trung, tinh thần hy sinh, lòng dũng cảm, khí tiết đạo đức cao quý của ông cha ta, sự đề cao chí tuệ, phẩm giá con người. Điều quan trọng và thiết thực là ở chỗ, Người chỉ rõ: phải thực hành đạo đức cách mạng trong công việc, trong tổ chức, trong phong trào thi đua yêu nước, trong lối sống và hành vi của công chức đặc biệt là những người lãnh đạo có chức có quyền. Chú trọng bồi dưỡng tình cảm cách mạng, đem những nội dung mới, tinh thần đổi mới và quyết tâm xây dựng đạo đức cách mạng. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cán bộ phải tích cực gần gũi mật thiết với quần chúng như máu với thịt, như cá với nước. Làm điều lợi cho dân, tránh điều hại cho dân dù chỉ là một cái hại nhỏ. Không đảm bảo công bằng làm cho lòng

67

dân không yên thì đó là điều nguy hại cho chế độ. Công chức nhà nước phải tận tận tâm tận lực với công việc, chấp hành luật pháp, tôn trọng kỷ luật công vụ, thi hành đạo đức công chức.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên để chỉ những phẩm chất đạo đức cách mạng thì Hồ Chí Minh đã khái quát ở 8 chữ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Bởi vì trong điều kiện đảng cầm quyền, cán bộ nào cũng thực hiện được tám chữ vàng đó thì sẽ làm cho bộ máy Nhà nước được trong sạch vững chắc, không có bệnh tham ô, quan liêu, tham nhũng.

Hồ Chí Minh thường xuyên kêu gọi giáo dục mọi người thực hiện cần, kiệm, liêm, chính và đưa vào những khái niệm đó nội dung mới cho phù hợp với phẩm chất Cách mạng của cán bộ, Đảng viên ta.

Chữ cần được Hồ Chí Minh phân tích nó không chỉ là sự cần cù, siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai mà phải là làm việc có kế hoạch, khoa học, biết cải tiến kỹ thuật để đem lại năng suất lao động cao để xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp.

Chữ kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, tiết kiệm chỉ là những yếu tố vật chất mà theo người cần tiết kiệm cả về mặt thời gian, làm công việc phải cho nhanh không nên chậm rãi. Tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn, keo kiệt. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu sức cũng vui lòng. Tiết kiệm cần đi đôi với chống xa xỉ, ăn sung mặc đẹp khi đồng bào còn thiếu thốn đó là xa xỉ, cần phải hạn chế nhu cầu này.

Liêm là trong sạch, không tham lam, không tham tiền, của, địa vị, danh lợi. Bác dạy cán bộ luôn phải giữ lấy chữ liêm làm đầu. Nếu tham tiền của, danh lợi, địa vị đó là bất liêm, bất liêm sẽ dẫn tới làm bậy, xã hội sẽ loạn. Từ đó Hồ Chí Minh còn đưa ra những biện pháp để trừng trị bất liêm như: Phải sử dụng pháp luật để trừng trị kẻ bất liêm. Cán bộ thi đua thực hành liêm

68

khiết, một dân tộc mà biết cần, kiệm, liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ.

Chính quyền là thẳng thắn, đúng đắn, là người làm việc công phải có công tâm, công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư, chớ đem người tư dùng vào việc công. Việc gì cũng phải công minh chính trực, không nên tư ân, tư huệ, tư thù, tư oán. Đấy là những đức tính xấu của con người, phải dùng người tài năng, làm được việc, phải trung thành với Chính phủ và đồng bào. Không được lên mặt làm “quan Cách mạng”.

Chí công vô tư có nghĩa là hết sức lo cho công việc chung, không màng tư lợi. Hết sức vì sự công bằng, biết đặt lợi ích của Đảng, của Cách mạng, của nhân dân, của Tổ quốc, của tập thể lên trên lợi ích của riêng tư. Thực hiện được đạo đức này theo Hồ Chí Minh cũng có nghĩa là đã thực hiện được trách nhiệm mình vì mọi người, mọi người vì mình, thực hiện được đạo đức này cũng chính là đã chối được chủ nghĩa cá nhân, đấy là kẻ thù nguy hiểm nhất của đạo đức Cách mạng, nó sẽ dẫn người ta đi đến những căn bệnh tham lam, ích kỉ, quyền hành, tự kiêu, tự tại, coi thường tập thể. Từ đó thiếu ý thức, thiếu tổ chức, tinh thần trách nhiệm không cao, tính kỷ luật kém làm hại đến nhân dân, Đảng và Cách mạng.

Bên cạnh những chuẩn mực đạo đức như cần, kiệm, liêm, chính chí công vô tư. Hồ Chí Minh còn bày tỏ một số phạm trù đạo đức nữa như nhân, nghĩa, trí, dũng, tín để khái quát những phẩm chất cơ bản của đạo đức Cách mạng.

Đó là những phẩm chất không thể không có ở những người cộng sản.

Từ sự khái quát đó Hồ Chí Minh chỉ ra mọi người cần thực hiện đạo đức trên ba mặt:

Một là, đối với bản thân mình chớ tự kiêu, tự đại. Tự kiêu, tự đại tức là thoái bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, sông to, biển rộng thì bao nhiêu

69

nước cũng chiếm được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn một chút thừa nếu tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn. Do đó ai cũng phải luôn luôn cầu tiến bộ, tự kiểm điểm, tự phê bình để cùng tiến lên với người khác.

Hai là, đối với người chớ nịnh hót người trên, chớ khinh người dưới.

Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, giúp người tiến tới, phải thực hành bác ái.

Ba là, đối với công việc phải để công việc nước lên trên việc nhà. Đã làm việc gì thì phải hoàn thành, vượt khó khăn, nguy hiểm không kể việc to hay nhỏ.

Việc thiện thì nhỏ mấy cũng phải làm. Việc ác thì nhỏ mấy cũng tránh.

Từ đó Bác rút ra nhận định: Một dân tộc mà biết cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư sẽ là một dân tộc văn minh, đây là những yếu tố để chỉ một xã hội hưng thịnh. Nếu đi trái với những chuẩn mực này xã hội sẽ mục nát, suy vong.

3.1.3. Xây dựng, phát triển đạo đức công chức gắn liền với công cuộc cải cách hành chính và dân chủ hoá đời sống xã hội ở nước ta hiện nay

Trong các nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, nội dung đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là cơ bản và có tính chất quyết định. Bởi vì, cải cách hành chính là vấn đề rất quan trọng của việc củng cố, hoàn thiện bộ máy công quyền, có quan hệ trực tiếp đến lợi ích của nhân dân mà công chức là nhân tố bảo đảm cho sự vận hành của bộ máy công quyền đó. Chất lượng đội ngũ công chức thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, ở đạo đức, tác phong và thái độ phục vụ nhân dân.

Để thực hiện tốt chủ chương cải cách hành chính nhà nước, công chức phải hiểu sâu sắc nội dung của công cuộc cải cách hành chính trong từng giai đoạn. Cán bộ, công chức phải luôn là người đi đầu trong sự nghiệp cải cách hành chính và phải được đào tạo một cách bài bản để có chuyên môn, nghiệp

70

vụ vững vàng và được trang bị các phương tiện, điều kiện vật chất, kỹ thuật tác nghiệp. Các hoạt động cải cách hành chính phải được công khai, thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đồng thời phải tăng cường trách nhiệm của công chức đối với công việc và nhiệm vụ được giao, tăng cường tính chủ động, sáng tạo cho công chức trong xử lý, giải quyết công việc. Nói về tinh thần trách nhiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở cán bộ công chức: Tinh thần trách nhiệm... là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Người nhấn mạnh: Tinh thần trách nhiệm là nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ [41, tr. 133 - 134].

Cải cách hành chính đồng thời phải nâng cao ý thức trách nhiệm của công chức, qua đó đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính.

Cải cách hành chính là nhằm bảo đảm quá trình hiện thực hoá quyền lực Nhà nước luôn đúng bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

để người dân thực sự thực hiện quyền làm chủ của mình trong hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mỗi công chức trong bộ máy hành chính nhà nước phải thực sự là

“công bộc” của dân. Công chức thực hiện trách nhiệm của mình với nhân dân cũng là thực hiện trách nhiệm của Đảng, của Chính phủ với nhân dân.

Kiện toàn hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chủ động phòng ngừa, giảm thiểu các kẽ hở để công chức khó sa vào tham nhũng, tiêu cực; xây dựng chế độ trách nhiệm công chức; xác định rõ trách nhiệm của mỗi công chức, nhất là người đứng đầu cơ quan tổ chức trong việc để xảy ra tiêu cực, tham nhũng. Mỗi công chức phải được giao chức trách, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể với những quyền hạn nhất định và phải có những quy định cụ thể về chức

Một phần của tài liệu Đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay (Trang 64 - 73)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(103 trang)