1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực hành mô học

50 36 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 4,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chính của kính hiển vi là phóng đại hình ảnh của vật hay tiêu bản khảo sát giúp ta nghiên cứu được cấu trúc chi tiết của các tế bào, mô, cơ quan mà không thể thấy được bằng mắt

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

PHẦN I MỘT SỐ KIẾN THỨC CẦN CHUẨN BỊ TRONG THỰC HÀNH MÔ HỌC 3

II Vài phương pháp thông thường dùng trong mô học và giải phẫu bệnh 6

cuu duong than cong com

Trang 2

MỞ ĐẦU

Tài liệu thực hành Mô Học này dùng cho sinh viên ngành Chăn Nuôi và Thú Y, trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Trong phòng thực tập, sinh viên tự học là chính nên giáo trình này có mục đích hướng dẫn cho sinh viên tự trang bị cho mình phương pháp quan sát, tư duy hình ảnh, và ghi nhận lại hình ảnh

3 Biết sử dụng, điều chỉnh và bảo quản kính hiển vi

4 Sau khóa học, sinh viên phải có khả năng nhận dạng được một cơ quan và nắm vững cấu tạo mô học của nó dưới kính hiển vi

5 Giáo trình cũng giúp cho sinh viên có thể so sánh phân biệt một số cấu trúc mô và cơ quan trên những loài động vật khác nhau

cuu duong than cong com

Trang 3

PHẦN I MỘT SỐ KIẾN THỨC CẦN CHUẨN BỊ TRONG THỰC

HÀNH MÔ HỌC

I CẤU TẠO VÀ CÁCH SỬ DỤNG KÍNH HIỂN VI

Kính hiển vi là một dụng cụ rất hữu ích trong việc học tập và nghiên cứu Phần lớn các bài thực tập

mô học đều cần sử dụng kính hiển vi, do đó sinh viên cần phải làm quen với các cơ cấu của kính, các công dụng, cách điều chỉnh và bảo quản

1 Những bộ phận của kính hiển vi

Sơ đồ cấu tạo của kính hiển vi quang học

Kính hiển vi gồm có các phần chính như sau:

1 Đế kính

2 Thân kính

3 Bàn mang vật, ở giữa có lỗ để ánh sáng chiếu lên

4 Kẹp giữ tiêu bản, nằm trên bàn mang vật, giúp giữ chặt tiêu bản tại chỗ

Trang 4

Vật kính có độ phóng đại lớn dài và nhỏ, vật kính có độ phóng đại nhỏ lớn và ngắn

10 Thấu kính để hội tụ ánh sáng

11 Màng chắn sáng dùng để điều chỉnh cường độ ánh sáng

12 Đèn hoặc giá mang gương ánh sáng

13 Ốc điều chỉnh cường độ ánh sáng của đèn hoặc tắt mở đèn

2 Công dụng

Mục tiêu chính của kính hiển vi là phóng đại hình ảnh của vật hay tiêu bản khảo sát giúp ta nghiên cứu được cấu trúc chi tiết của các tế bào, mô, cơ quan mà không thể thấy được bằng mắt thường

Độ phóng đại của kính tùy thuộc vào các thấu kính của thị kính và vật kính

Thấu kính của thị kính thường có độ phóng đại là: 6X, 8X, 10X, 12X

Thấu kính của vật kính thường có độ phóng đại là: 4X, 10X, 40X, 63X, và 100X

Khi ta gọi thị kính 10X nghĩa là vật xem được phóng đại kích thước gấp 10 lần Độ phóng đại của tiêu bản hay chi tiết thấy được qua sự kết hợp giữa các thấu kính được biểu diễn như sau:

Vì thường sử dụng màng chắn sáng nên ta cần phải hiểu rõ cấu trúc của màng Trước hết nên xác định hướng di chuyển của cần điều khiển làm tăng và giảm ánh sáng Không nên đẩy cần điều khiển tới sát mức giới hạn để tránh hư hỏng

Cần điều chỉnh hình ảnh thế nào để mối liên hệ giữa các thấu kính đối với vật xem cho tốt và qua thị kính, nhìn thấy được ảnh của vật rõ ràng Ảnh của vật sẽ không thấy được nếu vật kính ở cách vật

cuu duong than cong com

Trang 5

một khoảng không thích hợp Do đó ta phải vặn ốc điều chỉnh vật kính Không để vật kính chạm vào tiêu bản vì có thể làm hư tiêu bản, hư thấu kính hoặc cả hai

4 Thực hành điều chỉnh kính hiển vi để xem tiêu bản

1 Đặt kính hiển vi ngay ngắn trước mặt, tay cầm hướng về phía sinh viên (một số kính hiển

vi có tay cầm quay về phía trước)

2 Xoay vật kính có độ phóng đại nhỏ (10 X) vào vị trí ngay giữa bàn mang vật Nhìn một bên vật kính vặn ốc điều chỉnh vật kính để hạ thấp vật kính xuống cách bàn mang vật khoảng 1.25 cm

3 Mở̉ màn chắn sáng

4 Hướng mặt lõm của gương về nguồn phát ánh sáng và nhìn qua thị kính, điều chỉnh gương cho tới khi thấy được một thị trường rõ Trường hợp kính hiển vi sử dụng điện thì mở công tắc đèn và điều chỉnh cường độ dòng điện tăng dần cho đến khi thấy rõ thị trường

5 Đặt tiêu bản lên mâm, dùng kẹp để giữ chặt tiêu bản ở vị trí cố định Điều chỉnh vật kính cho tới khi nhìn thấy rõ ảnh trong tiêu bản Nếu muốn quan sát kỹ một bộ phận nào của tiêu bản dưới độ phóng đại lớn, ta xê dịch bàn mang vật để phần đó nằm ngay thị trường ta quan sát

6 Xoay sang vật kính có độ phóng đại lớn, điều chỉnh ánh sáng và vặn ốc vi cấp để thấy rõ hình ảnh tuyệt đối Không nên vặn ốc điều khiển vật kính vì dễ làm vỡ tiêu bản Bộ phận cần quan sát đôi khi lệch sang trái hay sang phải của thị trường do đó phải điều chỉnh để lấy lại hình

7 Nếu kính hiển vi chỉ có một thị kính thì khi nhìn ta vẫn phải mở cả hai mắt Mắt nhắm lại khi dùng để xem không thấy rõ hình ảnh và mau mệt Để bớt mệt khi xem kính nên đổi mắt trong trường hợp kính có một thị kính Tuy nhiên hai mắt không hoàn toàn giống nhau Khi mắt này nhìn rõ thì mắt kia nhìn lại mờ Thông thường nên dùng mắt trái để xem và mắt phải nên dùng để vẽ hình hay làm việc khác

Nếu kính có hai ống nhìn, ta phải nhìn tiêu bản bằng cả hai mắt Một bên thị kính ta thấy có sợi tóc, bịt mắt đó lại, nhìn vào ống kia và điều chỉnh tầm nhìn của kính đến khi mắt hoa cũng nhìn thấy rõ sợi tóc Lúc đó ta nhìn ảnh vật ở cả hai mắt rất rõ

8 Trước tiên nên quan sát tiêu bản qua mắt thường để biết các điều cần chú ý, xong mới nghiên cứu qua kính hiển vi và cần phải quan sát trên tiêu bản với ống kính có độ phóng đại thấp vì phạm vi quan sát trên tiêu bản sẽ rộng, ở độ phóng đại cao vùng quan sát sẽ hẹp hơn, nhưng dĩ nhiên là ta sẽ thấy chi tiết tế bào rõ hơn

Một số sinh viên vẫn thường quan sát với độ phóng đại lớn ngay, đây là điểm không tốt vì rất khó xác định vị trí mà mình muốn quan sát so với việc sử dụng ống kính có độ phóng đại nhỏ Hơn nữa lại rất dễ làm vỡ tiêu bản

Chỉ dùng vật kính dầu (100X) khi cần thiết và chỉ nhỏ một hai giọt dầu soi kính (immersion oil) lên đúng phần muốn xem trên tiêu bản Dùng xong lau dầu ngay bằng giấy lau kính tẩm vài giọt dung dịch lau kính, sau đó lau phần dầu còn lại trên tiêu bản

Sau khi xem xong, lấy tiêu bản ra và đặt vào hộp chứa tiêu bản

cuu duong than cong com

Trang 6

5 Bảo quản kính hiển vi

1 Kính hiển vi là một dụng cụ chính xác có các bộ phận tinh xảo, phải được giữ gìn cẩn thận, không được mạnh tay đối với bất cứ bộ phận nào Khi di chuyển kính thì sinh viên nên cầm kính hiển vi cẩn thận, một tay nắm chặt tay cầm, tay kia đỡ dưới đế kính

2 Nếu kính có trục trặc kỹ thuật, nên nhờ người phụ trách phòng thí nghiệm xem và điều chỉnh

3 Không được để các chất lỏng, nhất là acid và alcool tiếp xúc với bất cứ bộ phận nào của kính, nhất là thấu kính

4 Luôn luôn sử dụng phiến kính mỏng khi khảo sát các vật hay vi sinh vật trong nước hoặc trong các chất lỏng khác

5 Lau các thấu kính bằng giấy lau kính hiển vi đặc biệt và các bộ phận còn lại bằng vải mềm sạch

6 Không bao giờ dùng ngón tay chạm vào thấu kính Một ít mồ hôi trên tay có thể làm hỏng thấu kính

II VÀI PHƯƠNG PHÁP THÔNG THƯỜNG DÙNG TRONG MÔ HỌC VÀ GIẢI PHẪU BỆNH

Muốn nghiên cứu về mô học hay bệnh học thì tiêu bản vi thể (vi mẫu) là cột trụ chính của vấn đề

Vậy tiêu bản vi thể là gì Đó là một miếng cắt mỏng gần như trong suốt từ một mẫu nhỏ của mô đặt lên trên kính dày được nhuộm màu thích hợp, cho thêm chất lỏng có chiết suất tương tự, cuối cùng là một phiến kính mỏng được ép chặt lên hàn keo xung quanh rìa Với tiêu bản, chúng ta khảo sát được cơ cấu tạo vi thể của mô

Phương pháp tiêu bản vi thể này cũng áp dụng được trong cơ thể bệnh học nhằm mục đích xác định phần nào nguyên nhân gây ra bệnh hoặc chết, nhất là các loại tân bào độc

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CẮT MỎNG MẪU MÔ

Làm sao có thể cắt được một miếng mô mềm và chỉ mỏng vài micrometre (m) (1m = 1/1000 mm) Với máy cắt lát mỏng (microtome) vấn đề đã được giải quyết bằng hai phương pháp, một là làm đông đặc các mô mềm với dung dịch cố định, sau đó ngâm với chất thấm vào mô và làm nó cứng để cắt thành lát mỏng Hai là làm đông lạnh phần mô muốn cắt

1 KỸ THUẬT PARAFFIN

Đây là phương pháp thường dùng nhất trong phòng thí nghiệm Kỹ thuật này gồm các giai đoạn:

1 Lấy mẫu: Nên lấy ngay sau khi thú chết hay ngay khi cơ quan được lấy khỏi cơ thể để

tránh sự biến hóa sau khi chết Bề dày của mẫu mô không quá vài mm với mục đích làm cho chất cố định ngấm vào nhanh

2 Cố định mẫu: giai đoạn này có tác dụng:

a Ngăn chặn sự thoái hóa của tế bào

b Làm cho mẫu mô cứng rắn để dễ cắt thành miếng mỏng

c Tiêu diệt vi khuẩn hay tác nhân gây bệnh chứa trong mẫu

cuu duong than cong com

Trang 7

Có thể cố định mẫu bằng nhiệt (ví dụ luộc chín trứng với nước nóng) hay bằng hóa chất như dung dịch chứa formol 10% và các hóa chất khác (dung dịch Bouine)

3 Làm mất nước: Nước chiếm khoảng 65% thành phần của mô do đó làm mất nước sẽ

giúp cho paraffin lỏng ngấm vào mô dễ hơn trong giai đoạn vùi mẫu Thực hiện bằng cách ngâm mẫu mô vào dịch cồn có nồng độ 70% rồi tăng dần nồng độ cồn, sau cùng chuyển sang cồn nguyên chất, cồn sẽ thay thế nước trong mô

4 Làm trong mẫu: giai đoạn này cần vài hóa chất đặt biệt hòa tan cả trong cồn và paraffin

nóng chảy như xylene để vừa thay thế cồn và sẽ được paraffin thay thế

5 Đúc khuôn mẫu: Tiếp theo đem mẫu ngâm vào paraffin nóng chảy và chất này sẽ ngấm

vào mô thay cho xylene Lấy mẫu mô đặt vào khuôn và đổ paraffin nấu chảy lỏng vào để

đúc thành khối

6 Cắt mẫu: sau khi paraffin nguội và cứng lại lấy ra khỏi khuôn, đưa vào cắt từng miếng

thật mỏng bằng microtome

7 Dán vi mẫu lên phiến kính dày: tách rời các miếng mô cắt mỏng và đặt lại trên phiến

kính dày, tránh không để gấp nếp, nhăn nheo và dùng lòng trắng hột gà hay keo gelatin để dán dính nó vào kính

8 Nhuộm màu: Trước tiên phải khử paraffin trong vi mẫu vì nó không hòa tan trong nước

nên nhuộm màu không thấm vào miếng mô cắt mỏng được Muốn làm mất paraffin thì làm ngược lại các giai đoạn 4 và 3 trên, nghĩa là ngâm vào xylene, cồn tinh chất dung dịch cồn pha nước và cuối cùng là nước Vi mẫu được làm khô và nhuộm hóa phẩm thích hợp với cấu tạo của mô Nếu đem quan sát vi mẫu vừa cắt xong, sự tương phản giữa các những phần tử của mô sẽ không thấy rõ dưới kính hiển vi quang học Sự dùng hóa chất màu để nhuộm vi mẫu giúp cho sự quan sát rõ ràng hơn

Hầu hết vi mẫu dùng để giảng dạy được nhuộm lần lượt với thuốc nhuộm base và thuốc nhuộm acid Ví dụ như nhuộm hematoxylin và eosin Nếu cấu trúc của tế bào bắt màu eosin thì sẽ có màu

từ hồng đến đỏ và nếu bắt màu thuốc nhuộm hematoxylin thì sẽ có màu xanh chàm đến tím

9 Hoàn thành tiêu bản: sau khi nhuộm xong lại ngâm vào cồn tăng dần độ tinh và xylene

để làm mất cồn đi, cuối cùng đặt lên đó một miếng kính mỏng (lammel, chú ý tránh nhốt bọt không khí và dán kín bằng keo Canada (baume de Canada)

2 KỸ THUẬT ĐÔNG LẠNH:

Dùng máy cắt đặc biệt trang bị dụng cụ chứa và xịt tuyết CO2 dưới áp suất cao vào mẫu mô

và làm đông lạnh mẫu ấy Phương pháp này nhanh và tránh được sự hòa tan chất béo nếu dùng cồn và xylene, tuy vậy phương pháp này bất lợi vì vi mẫu dày, không quan sát rõ dưới kính hiển vi

3 KỸ THUẬT CELLOIDIN:

Phương pháp này tương tự như kỹ thuật dùng paraffin thường dùng để cắt các cơ quan có kích thước lớn như não hoặc cơ quan cứng như sụn, gân và vi mẫu ít nhăn nheo Bất lợi là làm lâu hơn và vi mẫu cắt dày hơn

cuu duong than cong com

Trang 8

PHẦN II NỘI DUNG THỰC TẬP

Bài 1 BIỂU MÔ

Yêu cầu: sau khi hoàn tất bài thực hành này, sinh viên phải có khả năng:

 Phân biệt các dạng biểu mô khác nhau dưới kính hiển vi

 Nhận dạng được các tế bào đài

Biểu mô đơn tế bào có nhiều hình dạng khác nhau, đặc điểm để xác định chính là nó chỉ có

một lớp tế bào

Biểu mô lát đơn (hình 1)

Trên tiêu bản là hình của gan cắt ngang ở độ phóng đại lớn, có thể dễ dàng thấy được lớp biểu mô lát đơn bao phủ bên ngoài (1) Tế bào chất thì gần như không quan sát được vì quá mỏng, chỉ có nhân là rõ do nhô lên trên Bên dưới biểu mô là một lớp mô liên kết mỏng (2) Hầu như ở bất kỳ tiêu bản nào cũng đều có thể thấy được phần nhu mô bao bên ngoài, do đó lúc nào cũng sẽ thấy được loại biểu mô này

Biểu mô khối đơn (hình 2)

Quan sát mặt cắt dọc của một ống góp thận ta thấy một lớp tế bào hình vuông với chiều rộng

và chiều cao bằng nhau Nhân tròn nằm giữa tế bào

Biểu mô trụ đơn (hình 3)

Trong hình là niêm mạc của một đoạn ruột non ở độ phóng đại lớn (x 40) với các tế bào hình trụ cao (3) và một dải vi nhung mao phía trên (4) Bên cạnh những tế bào trụ ta còn thấy các

“tế bào đài”(5) nằm xen lẫn với các tế bào trụ Tế bào có dạng hình giống cái chén với nhân nằm bên dưới, phần phình lớn phía trên chứa các hạt tiết dịch nhờn không bắt màu

Hình 1 Biểu mô lát đơn Hình 2 Biểu mô vuông đơn

1: Biểu mô lát đơn 2: Mô liên kết

cuu duong than cong com

Trang 9

Hình 3 Biểu mô trụ đơn

3: Tế bào trụ 4: Vi nhung mao 5: Tế bào đài

Hình 5 minh họa cho biểu mô lát kép hóa sừng (2), với lớp tế bào trên cùng (3) trở nên cứng, chết đi và bong ra

Hình 4 Biểu mô lát kép không hóa sừng Hình 5 Biểu mô lát kép hóa sừng

1: Biểu mô lát kép không hóa sừng 2: Biểu mô lát kép hóa sừng

Lu: Lòng thực quản 3: Lớp sừng

cuu duong than cong com

Trang 10

Biểu mô vuông tầng (hình 6)

Gồm hai lớp tế bào hình khối, nhân tròn nằm giữa tế bào, thường thấy khá rõ ở các ống tuyến lớn, chẳng hạn như tuyến vú, ống dẫn của tuyến thực quản chó (4),…

Biểu mô trụ kép (hình 7)

Quan sát trong hình mặt cắt ngang lòng ống thoát tiểu dê, ta thấy biểu mô lót bên trong là

dạng trụ kép khá rõ (5) với nhiều hàng tế bào đơn, đặc biệt lớp trên cùng là dạng trụ đơn

Hình 6 Biểu mô vuông tầng Hình 7 Biểu mô trụ kép

4: Biểu mô vuông tầng 5: Biểu mô trụ kép

Biểu mô trụ giả kép (hình 8)

Hình 8 là dạng biểu mô trụ giả kép có lông rung Đa số các ống dẫn khí ở hệ hô hấp là loại biểu mô này Nó thường được xếp thành một loại riêng biệt, mặc dù sự thật nó chỉ là tập hợp của 1 lớp tế bào mà thôi Tất cả các tế bào đều nằm trên một màng đáy (6), nên thực sự đây chỉ là dạng trụ đơn Trong tiêu bản ta quan sát thấy các tế bào trụ (7), các tế bào đáy (8), một

số tế bào đài (9) chứa đầy dịch nhày nên đẩy nhân xuống phía dưới

Biểu mô chuyển tiếp (hình 9)

Quan sát mặt cắt ngang của bàng quang ở độ phóng đại 100 lần Biểu mô lót bên trong là dạng chuyển tiếp (10), với lớp tế bào dưới cùng có dạng khối hay trụ; trong khi lớp trên cùng

tế bào có vẻ lớn hơn, nhạt màu và nhân nhỏ

Hình 8 Biểu mô trụ giả kép có lông rung Hình 9 Biểu mô chuyển tiếp

6: Màng đáy 7: Tế bào trụ 10: Biểu mô chuyển tiếp

8: Tế bào đáy 9: Tế bào đài

cuu duong than cong com

Trang 11

Bài 2 MÔ LIÊN KẾT

Quan sát mặt cắt ngang vùng chân bì ở gang bàn chân gà ở độ phóng đại thấp Đây là loại

mỡ nâu, nằm rải rác, rất thường gặp trên những loài gặm nhấm ngủ đông Chúng là những tế bào mỡ đa thùy (2), một nhân ở trung tâm và chứa nhiều không bào lipid

Tương bào (hình 13)

Rất thường gặp trong mô liên kết Quan sát ở độ phóng đại 625 lần lớp đệm vách không tràng chó, ta thấy có nhiều tương bào (5), một số bạch cầu lympho (6) và các tế bào sợi (7) Tương bào là thành phần thường gặp nhất trong niêm mạc dạ dày – ruột Tế bào chất bắt màu kiềm, nhân lớn với nhiễm sắc thể dễ bắt màu

Tế bào Mast (hình 14)

Các hạt trong bào tương đổi màu và bắt màu tím với toluidine xanh (8) Rất khó quan sát thấy chúng khi nhuộm H&E bình thường Trong tiêu bản ta còn thấy được một số tế bào sợi non (7)

cuu duong than cong com

Trang 12

Hình 12 Tế bào liên kết Hình 13 Tế bào liên kết

1: Tế bào mỡ 3: Sợi colagen 5: Tương bào 6: Lympho bào

4: Đại thực bào 7: Tế bào sợi

Sụn đàn hồi (hình 16)

Quan sát tiêu bản sụn tiểu thiệt ở độ phóng đại 250 lần, ta thấy ngoài các tế bào sụn (1) thì

nó chỉ khác sụn trong ở bản chất của loại sợi trong chất căn bản Đó là những sợi đàn hồi (5) bắt màu hồng chạy khắp xung quanh các tế bào sụn

cuu duong than cong com

Trang 13

Bài 4 MÔ XƯƠNG

Quan sát tiêu bản màng xương mũi chó ở độ phóng đại thấp Các tế bào xương (1) có hình thoi, nằm trong chất căn bản (2) Tạo cốt bào (3) là những tế bào có nhân bắt màu tím đậm, nằm dọc theo rìa của chất căn bản Trong hình ta cũng quan sát thấy hủy cốt bào (4) là những tế bào đa nhân khổng lồ

cuu duong than cong com

Trang 14

Hình 18 Mô xương

1: Tế bào xương 2: Chất căn bản 3: Tạo cốt bào 4: Hủy cốt bào

Bài 5 MÔ MÁU

Yêu cầu: sinh viên phải biết nhận dạng và vẽ lại các thành phần tế bào trong máu gia súc, gia cầm

Máu loài có vú (ngựa, bò, thỏ) (hình 19 - 24)

Trong tiêu bản mô máu ta có 3 loại tế bào: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu:

- Hồng cầu hình tròn, kích thước trung bình, không có nhân, ăn màu hồng, chiếm đa số trong tiêu bản

- Tiểu cầu kích thước rất nhỏ, thường tụ thành đám (mũi tên)

- Bạch cầu là loại tế bào lớn nhất và được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa vào đặc tính của nhân và loại hạt có trong tế bào chất

+ Bạch cầu đa nhân có nhiều hạt trong tế bào chất và nhân có nhiều thuỳ

Trong số này, bạch cầu ưa acid (E) có hạt lớn màu đỏ, bạch cầu ưa base (B) có các hạt nhuộm màu tím đậm, kích thước khác nhau, nhân chia ít thùy nhất, bạch cầu trung tính (N)

có các hạt mịn ăn màu tía hồng

+ Bạch cầu đơn nhân: trong tế bào chất của bạch cầu đơn nhân chỉ có ít hay không có hạt và

có một nhân tròn hay hình quả thận Bạch cầu đơn nhân gồm 2 loại chính: lympho bào (L)

và bạch cầu đơn nhân lớn (M)

+ Lympho bào có hình tròn hoặc hình trứng, nhuộm màu đậm, tế bào chất ăn màu kiềm, thường không có hạt

+ Bạch cầu đơn nhân lớn có nhân hình tròn, trứng hoặc hình quả thận, nhuộm màu lợt hơn Tế bào chất hơi ăn màu kiềm và có nhiều hạt mịn, kích thước lớn hơn lympho bào

cuu duong than cong com

Trang 15

Hình 19 Máu gia súc Hình 20 Máu gia súc

N: Bạch cầu trung tính N: Bạch cầu trung tính

L: Bạch cầu lympho E: Bạch cầu ưa acid (ái toan)

M: Bạch cầu đơn nhân lớn

N: Bạch cầu trung tính E: Bạch cầu ưa acid (ái toan)

L: Bạch cầu lympho

B: Bạch cầu ưa base (ái kiềm) Mũi tên: Tiểu cầu

cuu duong than cong com

Trang 16

Máu Gà (hình 25 - 28)

Quan sát các hồng cầu hình bầu dục, có nhân, bào tương bắt màu cam lợt hay hồng lợt Bạch cầu trung tính (3) của gia cầm được gọi là bạch cầu dị nhiễm hay bạch cầu giả toan vì chứa những hạt bắt màu acid giống như bạch cầu ưa acid (2) Tuy nhiên hạt của bạch cầu dị nhiễm có hình que hoặc hình thoi, bào tương trong suốt trong khi bạch cầu ưa acid có hình tròn, bào tương bắt màu xanh dương nhạt Bạch cầu ưa base (1), lympho bào (5) và bạch cầu đơn nhân lớn (6) giống như của gia súc Trong tiêu bản còn quan sát được các hồng cầu chưa trưởng thành (4) hay bạch cầu bị vỡ (7)

2: Bạch cầu ưa acid 7: Bạch cầu trung tính bị vỡ

3: Bạch cầu trung tính

6: Bạch cầu đơn nhân lớn 6: Bạch cầu đơn nhân lớn

3: Bạch cầu trung tính 1: Bạch cầu ưa base

cuu duong than cong com

Trang 17

Bài 6 MÔ CƠ

Mô cơ vân (hình 29)

Trong hình có thể thấy một bắp cơ vân bị cắt ngang, trong đó chứa vài bó cơ ngăn cách nhau bởi mô liên kết (CT) Trong mỗi bó cơ chứa các sợi cơ bắt màu hồng (S) nằm song song nhau bị cắt ngang Giữa các sợi cơ có các mao mạch nhỏ (mũi tên) Trong mô liên kết có thể thấy rõ các tế bào sợi (F) nằm xa nhau Cũng có thể quan sát thấy một động mạch nhỏ bị cắt dọc (A)

Mô cơ tim (hình 30)

Trong hình là một lát cắt cơ tim theo chiều dọc , độ phóng đại 344 lần Có thể quan sát rõ các sợi cơ tim có hình trụ dài, hai đầu sợi cơ nối nhau theo cách gảy khúc tạo thành vân bậc thang (I) Nhân (N) của tế bào cơ tim có hình trứng và nằm giữa sợi cơ, các tiểu sợi cơ cũng sắp xếp theo chiều song song tạo thành vân ngang (S) rất rõ

Hình 29 Mô cơ vân Hình 30 Mô cơ tim

S: Sợi cơ vân F: Tế bào sợi S: Vân ngang I: Vân bậc thang

CT: Mô liên kết A: Động mạch N: Nhân

Mũi tên: Mao mạch

Bài 7 HỆ THỐNG THẦN KINH

Tiểu não (hình 31-32)

Tiểu não gồm 2 lớp, lớp chất trắng (15) ở trong và chất xám ở ngoài, bọc phía ngoài có màng não tủy (10 & 14) Chất trắng có cấu tạo đồng nhất gồm các sợi thần kinh có myelin, phân nhánh làm cho tiểu não có nhiều nếp nhăn Chất xám là vùng vỏ tiểu não, phân làm 3 lớp:

+ Lớp chấm(lớp phân tử) (7) : tương đối có ít tế bào và có nhiều sợi chạy nằm ngang Ta có thể thấy được thân các tế bào hình sao và một số thụ trạng của tế bào Purkinje (3)

+ Lớp tế bào Purkinje (11) : những tế bào Purkinje hình giống trái đào và có nhiều thụ trạng mọc xuyên vào trong lớp chấm

cuu duong than cong com

Trang 18

+ Lớp hạt (5) : có rất nhiều tế bào hạt nhỏ của tiểu não, một số tế bào hình sao lớn hơn và có nhiều tế bào chất hơn, có những vùng tế bào thần kinh thưa hoặc không có, đó là nơi tiếp hợp của thần kinh

Trang 19

Võ não (hình 33 – 34)

Hình 33 là lát cắt ngang của bán cầu não, độ phóng đại 200 lần Đa số những tế bào trong hình là những tế bào thần kinh chính thức hình tháp (mũi tên lớn), rải rác có thể quan sát được các tế bào thần kinh đệm (mũi tên nhỏ)

Bào tương của tế bào thần kinh chính thức thường chứa rất nhiều lưới nội bào có hạt

(ribosome) nên thường bắt màu tím của thuốc nhuộm Trong khi đó bào tương của tế bào

thần kinh đệm rất ít, và được phân bố thành các nhánh nên thường chỉ quan sát thấy nhân của nó

Hình 34 (độ phóng đại 400 lần) cho thấy một tế bào thần kinh đa cực tiêu biểu trong vỏ não

Ở một cực của tế bào ta có thể thấy một sợi trục (A), phía đối diện là một nhánh bào tương

đi về hướng khác, đây là một phần của sợi gai, sau đó sẽ chia nhánh thành thụ trạng

Nhân của tế bào thần kinh chính thức thường rất trong Ở́ phía trái và bên dưới của sợi trục

ta có thể thấy sự tích tụ của những hạt màu đỏ đậm, đó là các hạt lipofuscin (L), thường gặp

ở phần lớn tế bào thần kinh với những mức độ khác nhau Bên cạnh là hạt nhân khá rõ(Nu)

Mũi tên lớn: Tế bào thần kinh hình tháp A: Sợi trục Nu: Nhân L: Hạt lipofucin Mũi tên nhỏ: Tế bào thần kinh đệm

Bài 8 HỆ THỐNG TUẦN HOÀN VÀ CƠ QUAN TẠO HUYẾT

Động mạch - tĩnh mạch - dây thần kinh - mô mỡ (hình 35 – 37)

Trong tiêu bản, ta thấy có một nhánh động mạch cỡ trung bình, 1 tĩnh mạch trung bình và 1 dây thần kinh Ngoài ra còn thấy mô mỡ ở một góc của tiêu bản

Động mạch trung bình (MA) còn gọi là động mạch cơ Trái với tĩnh mạch, động mạch có thành tương đối dày, lòng nhỏ, tròn đều Một động mạch thường có các lớp sau đây kể từ trong ra ngoài:

+ Lớp áo trong (I) : gồm có lớp nội mạc, là loại biểu mô lát đơn, kế đó là một lớp liên kết, rất mỏng, khó quan sát và bên ngoài là lớp đàn hồi trong màu tím(IEL), thường uốn khúc quanh lòng mạch máu

cuu duong than cong com

Trang 20

+ Lớp áo giữa (M) : gồm phần chính là các sợi cơ trơn (Sm), ăn màu hồng sậm, có nhân tím bao vòng quanh Xen kẽ các sợi cơ trơn là mô liên kết chứa nhiều sợi đàn hồi

+ Lớp áo ngoài (A) : cấu tạo bởi mô liên kết dày đặc, trong có thần kinh và mạch máu Các mạch máu này được gọi là mạch máu nuôi mạch máu (vasa vasorum) nhiệm vụ chủ yếu là

để nuôi mạch máu lớn

Giữa áo ngoài và áo giữa có một lớp đàn hồi ngoài (EEL)

Các động mạch có khoảng 25 lớp cơ vòng hay hơn trong lớp giữa, ta gọi đó là động mạch

cỡ trung bình, các sợi đàn hồi nhiều hơn nhưng vẫn ở dạng các sợi mỏng và hệ thống chùm Trong tiêu bản còn có một tĩnh mạch trung bình (MV) Tĩnh mạch có vách tương đối mỏng, lòng rộng và không tròn đều bên trong còn sót lại một ít máu đã đông

- Tĩnh mạch có cấu tạo như sau:

+ Lớp áo trong: chỉ gồm một lớp nội mạc thuộc loại biểu mô lát đơn (mũi tên) Đôi khi lớp trong của tĩnh mạch cũng có một lớp mỏng các sợi tạo keo và sợi đàn hồi

+ Lớp áo giữa(M): ở giữa gồm một lớp mỏng các sợi cơ trơn bao quanh

+ Lớp áo ngoài(A): là lớp mô liên kết rộng

Ngoài ra còn có một dây thần kinh bị cắt ngang (N), mô mỡ (F), một số tiểu động mạch (A)

V: Tĩnh mạch nhỏ

cuu duong than cong com

Trang 21

Hình 36 Động mạch Hình 37 Tĩnh mạch

I: Áo trong I: Áo trong

A: Áo ngoài A: Áo ngoài

IEL: Lớp đàn hồi trong Mũi tên: Biểu mô lát đơn

EEL: Lớp đàn hồi ngoài

Tuyến ức (hình 38 – 40)

Trong hình là một lát cắt của tuyến ức, phần nhu mô tím đậm nằm phía ngoại vi là phần vỏ (Co), phần hồng lợt phía trong là phần tủy (M) Phần vỏ tuyến ức chứa phần lớn các lympho bào T ở các giai đoạn phát triển khác nhau, nằm xen lẫn đại thực bào (M) Vùng tủy chứa chủ yếu tế bào biểu mô tuyến ức (mũi tên), là những tế bào có nhân lớn, nhạt màu, bào tương bắt màu hồng Những tế bào biểu mô tuyến ức tạo thành một sường chống đỡ cho các lympho T bám vào Nó cũng có vai trò trong việc chọn dòng lympho T Vùng tủy có rất ít tế

bào lympho T vì phần lớn chúng đã di chuyển vào dòng máu

cuu duong than cong com

Trang 22

Hình 38 Tuyến ức Hình 39 Tuyến ức

Cortex: Vùng vỏ Medulla: Vùng tủy Lymphocytes: Tế bào lympho

Macrophage: Đại thực bào

có những trung tâm nhuộm màu lợt, đó là các trung tâm sinh trưởng (G)

Trong vùng tủy (M) của hạch, các tế bào lympho hợp thành hình chuỗi gọi là dây bạch huyết (Mc) Những xoang bạch huyết vùng tủy (Ms) bao quanh các chuỗi tế bào kể trên Ngay dưới bao liên kết ta có các xoang vùng vỏ (Ts) Các nhánh mô liên kết (T) từ vỏ liên kết trải rộng vào nằm xen kẽ giữa các nốt bạch huyết nhỏ ở vùng vỏ Trong vùng tủy, các vách này phân nhánh và nối nhau quanh các chuỗi tế bào lympho và các xoang Phía ngoài hạch bạch huyết là một vùng mô liên kết lỏng lẻo (C) trong đó có mạch máu và mô mỡ Bên tay trái, gần vùng trung tâm của hạch bạch huyết là rốn hạch (H) Tại đây có mạch bạch huyết mang bạch huyết ra khỏi mạch Tĩnh mạch và động mạch (V) cung cấp máu cho hạch cũng thường tụ ơ ̉vùng rốn hạch

cuu duong than cong com

Trang 23

Hình 41 Hạch bạch huyết

Co: Vùng vỏ Mũi tên: Bao mô liên kết M: Vùng tủy H: Rốn hạch

Pc: Vùng cận vỏ G: Trung tâm sinh trưởng

Mc: Dây bạch huyết miền tủy

Hình 42 Hạch bạch huyết Hình 43 Hạch bạch huyết

C: Bao mô liên kết Ms: Xoang bạch huyết

G: Trung tâm sinh trưởng Mũi tên: Dây bạch huyết miền tủy

Pc: Vùng cận vỏ V: Mạch máu

Lách (hình 44 – 47)

Từ vỏ mô liên kết (C) bọc bên ngoài, các vách mô liên kết (T) phân nhánh đi lan vào trong nhu mô của lách tạo thành các vết cắt ngang Các vách này là những khối mô liên kết có màu hồng Vách này lan vào trong và có chứa các động mạch và tĩnh mạch Phân tán khắp lách là các nốt bạch huyết, còn gọi là thể lách hay thể Malpighi (N), tạo thành tủy trắng của

cuu duong than cong com

Trang 24

lách Ở thú non, chúng có chứa các trung tâm sinh trưởng (G) Mỗi thể lách đều có chứa một tiểu động mạch (mũi tên) đi xuyên qua và nằm hơi lệch về phía rìa của thể lách

Bám quanh các nốt bạch huyết và lẫn với vách liên kết là một khối các tế bào tản mác, phối hợp lại tạo thành vùng tủy đỏ (R) Khối tủy đỏ có chứa các xoang tĩnh mạch (S) và dây lách (C ) Các dây này tạo nên một hệ thống thưa trải rộng trên một lưới các sợi mạng, thường không thấy rõ khi nhuộm màu Xung quanh đông mạch, các tế bào lympho thường tập trung dày đặc tạo thành chuỗi lympho quanh động mạch (PALS)

C: Bao mô liên kết R: Tủy đỏ

R: Tủy đỏ N: Tủy trắng

N: Tủy trắng G: Trung tâm sinh trưởng

G: Trung tâm sinh trưởng PALS: Chuỗi lympho quanh động mạch Mũi tên: Tiểu động mạch

Trang 25

Túi Fabricius (hình 48 – 50)

Khi cắt ngang, túi Fabricius tạo thành các nếp gấp lồi vào xoang (1) Đỉnh của các nếp gấp che phủ bởi biểu mô trụ đơn cao (4), các chỗ khác biểu mô này được thay bằng biểu mô trụ giả kép có lông rung (10) Lớp đệm (6) của các nếp gấp chứa đầy các nốt bạch huyết (5), mỗi nốt gồm có 2 vùng: vùng ngoại vi (3) và vùng trung tâm sinh trưởng (7) Vùng ngoại vi chứa các lympho bào trưởng thành bắt màu đậm Vùng trung tâm chứa các lympho bào non nhuộm màu nhạt Xen giữa vùng ngoại vi và vùng trung tâm sinh trưởng có một lớp tế bào biểu mô chưa biệt hóa (13), và một mạng lưới mao mạch (2) Trong hình cũng thấy lớp cơ niêm (8) nằm ở đáy của nếp gấp

Hình 48 Túi Fabricius Hình 49 Túi Fabricius

1: Nếp gấp 4: Biểu mô trụ đơn

10: Biểu mô trụgiả kép có lông rung 7: Trung tâm sinh trưởng

Ngày đăng: 29/12/2021, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm