HỆ THỐNG TIÊU HÓA

Một phần của tài liệu Thực hành mô học (Trang 30 - 40)

Thực quản (hình 66 – 67)

Thực quản giống như một cấu trúc hình ống với lòng ống thường gấp nếp lồi vào trong.

Vách thực quản gồm các lớp:

- Màng niêm thực quản (M) gồm một lớp biểu mô lát kép không hoá keratin (SS), bên dưới là lớp đệm liên kết (LP) và lớp cơ niêm(MM). Trong lớp đệm có các mạch máu nhỏ. Lớp cơ niêm cấu tạo bởi các sợi cơ trơn chạy dọc.

- Lớp dưới niêm mạc (SM) có nhiều nang tuyến tiết dịch nhờn (GL) thuộc tuyến thực quản.

Các ống bài xuất (D) sẽ dẫn chất tiết từ tuyến lên bề mặt của thực quản. Trong lớp dưới niêm mạc có nhiều mạch máu và tế bào mỡ.

- Ngay cạnh lớp dưới niêm mạc là lớp cơ dày (ME) gồm 2 lớp rõ rệt: trong là lớp cơ vòng và ngoài là lớp cơ dọc, thường là cơ vân bị cắt ngang nên nhân thường thấy nằm sát rìa.

- Lớp ngoài cùng là mô liên kết bao bọc(A), trong đó ta thấy các mạch máu, thần kinh và mỡ.

cuu duong than cong . com

Hình 66. Thực quản Hình 67. Thực quản

M: Niêm mạc LP: Lớp đệm

SS: Biểu mô lát kép không hóa keratin MM: Lớp cơ niêm

SM: Lớp dưới niêm GL: Tuyến

ME: Lớp cơ D: Ống bài xuất

A: Lớp áo ngoài

Dạ dày đơn (hình 68 – 70)

+ Vùng trung gian giữa thực quản và vùng thượng vị.

Trong tiêu bản ta quan sát thấy những rãnh dạ dày (GP), tuyến dạ dày vùng thượng vị (CG), tuyến thực quản - thượng vị (ECG), cơ niêm (mũi tên) và lớp dưới niêm(SM).

+ Vùng thân vị

Trong hình là vách của dạ dày ở vùng thân vị, chủ yếu chỉ quan sát được lớp niêm mạc. Các lớp khác (lớp dưới niêm, lớp cơ ngoài và lớp liên kết ngoài=màng tương) không nằm trong vi trường.

Biểu mô lát mặt trong dạ dày là loại trụ đơn. Biểu mô này chạy liên tục và lát cả những lỗ châm kim = rãnh dạ dày(P) ăn sâu vào lớp niêm mạc khoảng 1/3 hay 1/4 bề dày niêm. Ở đáy của lỗ châm kim này là các tuyến dạ dày và lớp tuyến trải dài xuống dưới tới lớp cơ niêm. Lớp đệm là phần mô liên kết nâng đỡ cho niêm mạc. Lớp cơ niêm phân nhánh các sợi cơ trơn đi vào giữa lớp đệm và các tuyến dạ dày.

Các tuyến dạ dày ở vùng này gồm 2 loại tế bào, tế bào chính (C) nhuộm màu hồng lợt với nhân tím đậm và các tế bào viền (mũi tên) có hình tròn, nhuộm màu đỏ sậm nằm ở rìa các ống tuyến hay chồng lên các tế bào chính. Ở vùng cổ tuyến có những tế bào phụ (MN)̣.

+ Vùng hạ vị.

Trong vùng hạ vị, các nếp uốn dạ dày (P) sâu hơn là ở thân vị. Hạ vị cũng có đủ các lớp như ở thân vị.

Các tuyến (GL) ở hạ vị chỉ có một loại tế bào. Mỗi tế bào tuyến có tế bào chất ăn màu hồng và nhân dẹp nằm sát đáy. Bề sâu nếp uốn so với niêm mạc là 1/1.

cuu duong than cong . com

Biểu mô vùng này cũng là loại trụ đơn.

Hình 68. Vùng thực quản-thượng vị Hình 69. Vùng thân vị Hình 70. Vùng hạ vị GP: Rãnh dạ dày P: Rãnh dạ dày P: Rãnh dạ dày CG,ECG: Tuyến dạ dày MN: Tế bào phụ GL: Tuyến hạ vị

Mũi tên: Cơ niêm C: Tế bào chính

Mũi tên: Tế bào viền

+ Dạ dày trước loài nhai lại (hình 71 – 72) Dạ tổ ong (hình 71)

Dạ tổ ong của loài nhai lại tạo thành các nếp gấp. Trên nếp gấp chính (1) nhô ra những nếp gấp phụ (2). Cơ niêm (MM) rất phát triển, tạo thành những bó chạy dọc lên đến đỉnh của nếp gấp chính. Biểu mô phủ bề mặt của dạ tổ ong là biểu mô lát kép hóa keratin.

Dạ lá sách (hình 72)

Trong tiêu bản là một nếp gấp niêm mạc dạ lá sách của bò.

Quan sát biểu mô thuộc loại lát kép hoá keratin (6). Lớp dưới niêm (7) chạy liên tục theo các gấp nếp của dạ dày. Cơ niêm rất phát triển (5) tạo thành bó chạy dọc theo gấp nếp.

Lớp đệm (3) không chứa tuyến. Bên phải của tiêu bản có thể thấy một phần của áo cơ (4).

cuu duong than cong . com

Hình 71. Dạ tổ ong Hình 72. Dạ lá sách 1: Nếp gấp chính 6: Biểu mô lát kép hóa keratin 2: Nếp gấp phụ 3: Lớp đệm

MM: Lớp cơ niêm 5: Lớp cơ niêm 7: Lớp dưới niêm

4: Lớp áo cơ

+ Dạ dày gia cầm (hình 73 – 76) Hình 73 – 74: dạ dày tuyến gia cầm

Trong hình là lát cắt dạ dày tuyến gia cầm ở độ phóng đại thấp (20 x). Bề mặt dạ dày tuyến có những nếp gấp giống như hình ngón tay. Những nếp gấp này bao quanh miệng của một ống bài xuất của các tuyến nằm bên dưới. Biểu mô của nếp gấp thuộc loại trụ đơn. Bên dưới các nếp gấp có lớp đệm (LP). Trong lớp này có những nang lympho nằm rải rác. Phần thùy tuyến nằm trong lớp dưới niêm, chứa đầy các nang tuyến (adenomer). Mỗi nang tuyến là một đơn vị tách biệt, cách nhau bởi mô liên kết.

Hình tiếp theo cho thấy dạ dày tuyến ở độ phóng đại lớn hơn (40X). Ta có thể quan sát rõ một kênh (C) dẫn chất tiết từ nang tuyến ra lòng của dạ dày tuyến (Lu). Trong hình cũng có thể quan sát rõ các nếp gấp của niêm mạc (P), có chiều cao và hình dạng tương tự nhau.

Phần dưới của hình bộc lộ cấu trúc cắt ngang của một nang tuyến (A). Mỗi nang có một xoang, được bao phủ bởi những tế bào biểu mô viền hình trụ đơn.

cuu duong than cong . com

Hình 73. Dạ dày tuyến Hình 74. Dạ dày tuyến LP: Lớp đệm Lu: Lòng dạ dày L: Nang lympho C: Kênh dẫn

Adenomer: Nang tuyến P: Nếp gấp niêm mạc

A: Nang tuyến

E: Biểu mô trụ đơn

Hình 75 – 76: dạ dày cơ gia cầm

Trong hình ta có thể thấy xoang của dạ dày cơ ( Lu ) ở lớp trên cùng với độ phóng đại thấp (20). Dạ dày cơ được viền bởi một lớp sừng dày ( P ), lớp này được tiết ra bởi những tế bào tuyến nằm trong lớp niêm mạc là loại biểu mô khối đơn (secretory region of mucosa). Lớp niêm mạc gấp nếp tạo thành những rãnh hình ống.

Phía dưới vùng chế tiết của niêm mạc là lớp dưới niêm ( SM ), đây là mô liên kết thưa không chứa tuyến.

Phần lớn tiêu bản được chiếm bởi lớp áo cơ rất dày ( TM ), có ít nhất 2 lớp. Phía ngoài của áo cơ có một lớp mô liên kết sợi nhưng ta không thấy được trong tiêu bản.

cuu duong than cong . com

Hình 75. Dạ dày cơ Hình 76. Dạ dày cơ

Lu: Xoang dạ dày P: Lớp sừng SM: Lớp dưới niêm

TM: Lớp áo cơ

Ruột non (hình 77 – 82)

Ruột non là một cơ quan hình ống với niêm mạc được gấp nếp tạo thành van (P) và sự hiện diện của các lông nhung (V). Hình dạng và chiều cao của van và các lông nhung thay đổi tùy đoạn ruột non.

Biểu mô lát ruột non là biểu mô trụ đơn, có riềm hút (vi nhung mao) và dính sát nhau tạo thành một mâm khía và có chứa các tế bào đài tiết chất nhờn.

Lớp đệm ngay dưới các lông nhung chứa các tuyến Lieberkuhn (mũi tên), thường bị cắt ngang và bắt màu tím đậm. Nằm bên dưới niêm mạc là 2 lớp cơ vòng và cơ dọc (ME). Bên ngoài là màng tương, thường phát triển thành màng treo ruột (M).

Tá tràng (hình 77 – 78)

Lông nhung của tá tràng cao và gấp nếp nhiều. Đặc điểm của tá tràng là có các tuyến Brunner (B). Nang tiết của tuyến này được tạo bởi những tế bào nhờn và trong ăn màu hồng rất lợt. Các tuyến này có rất nhiều ở lớp dưới niêm (S). Chúng cũng được tìm thấy ở phần sâu của lớp đệm ngay trên lớp cơ niêm. Lớp cơ niêm ở vùng này đôi khi phân nhánh.

cuu duong than cong . com

Hình 77. Tá tràng Hình 78. Tá tràng P: Van ruột B: Tuyến Brunner S: Lớp dưới niêm V: Lông nhung ME: Lớp áo cơ Mũi tên: Tuyến Lieberkuhn M: Màng treo ruột

Không tràng (hình 79 – 80)

Ở không tràng, biểu mô sắp xếp gần giống như tá tràng, nhưng các lông nhung không nhọn bằng, các nốt bạch huyết bắt đầu tụ nhiều ở lớp đệm. Tuyến Brunner biến mất.

Hình 79. Không tràng Hình 80. Không tràng V: Lông nhung M: Màng treo ruột S: Lớp dưới niêm

cuu duong than cong . com

Hồi tràng (hình 81 – 82)

Ở hồi tràng, các lông nhung còn rất ít, màng niêm ruột thấp và tương đối bằng phẳng, các nốt bạch huyết tụ lại rất nhiều , nối tiếp nhau tạo thành mảng Peyer (L). Các cấu tạo khác giống các đoạn khác của ruột non.

Hình 81. Hồi tràng Hình 82. Hồi tràng

P: Van ruột L: Mảng Peyer

V: Lông nhung Mũi tên: Tuyến Lieberkuhn ME: Lớp áo cơ S: Lớp dưới niêm

M: Màng treo ruột

Gan (hình 83 – 85)

Phần chính tạo nên gan là các tiểu thùy gan và những mô liên kết. Ranh giới giữa các tiểu thùy rất rõ rệt, nơi có 2-3 tiểu thùy chập lại tạo thành khoảng liên kết tiểu thùy hay khoảng Kiernan (T). Ngoài khoảng Kiernan, vùng mô liên kết (CT) nối liền 2 cạnh của tiểu thùy gan rất khít nhau gọi là khe Kiernan. Ở vài vùng ranh giới giữa các tiểu thùy không rõ, các tiểu thùy gan nằm kế cận trông như dính vào nhau. Trong mô liên kết của khoảng Kiernan ta có thể thấy nhánh của các ống mật gian thùy (D), nhánh của các động mạch gan (A) và tĩnh mạch gan (V). Giữa mỗi tiểu thùy ta thấy có một khoảng trống, đôi khi còn ứ 1 số huyết cầu đó là tĩnh mạch giữa tiểu thùy (C). Từ trung tâm mỗi tiểu thùy ta thấy tia ra các dãy tế bào gan với các xoang mao mạch nằm ở giữa (S).

Tế bào gan hình nhiều cạnh và có nhân tròn ở giữa. Một số tế bào gan chứa 2 nhân.

Trong khoảng Kiernan có nhiều ống mật gian thùy, các ống mật này được lót bởi biểu mô khối đơn và một lớp liên kết mỏng. Ngoài ra ta còn thấy 1 số tế bào Kupffer nằm ở rìa các xoang gan.

cuu duong than cong . com

Hình 83. Gan Hình 84. Gan Hình 85. Gan T: Khoảng Kiernan A: Động mạch gan S: Mao mạch CT: Mô liên kết V: Tĩnh mạch gan C: Tĩnh mạch trung tâm D: Ống mật

Tuyến tụy (hình 86 – 88)

Tuyến tụy cấu tạo bởi các nhóm nang tiết lỏng sắp xếp thành các thùy nhỏ rõ rệt, các sườn mô liên kết trong tiểu thùy và gian tiểu thùy, hệ thống ống bài xuất và các đảo Langerhans.

Quan sát một nang tiết nước lỏng (A) của tuyến tụy, ta thấy các tế bào tiết bao chung quanh, nhân tròn màu tím đậm và bên trong là chất tiết có hạt mịn, trong lòng nang có tế bào trung tâm tuyến nang, đôi khi có thể thấy các tế bào viền nằm giữa tế bào tuyến và màng đáy của nang.

Ống Boll (D) cấu tạo bởi nhiều biểu mô khối đơn thường gồm từ 6 tế bào. Các ống gian tiểu thùy lớn hơn và được lát bằng biểu mô trụ đơn.

Đảo Langerhans (I) là những cấu tạo dạng tròn, ăn màu hồng, kích thước lớn nhỏ khác nhau, nhưng thường lớn hơn các nang tiết nước lỏng. Với ống kính có độ phóng đại lớn ta thấy đả́o được cấu tạo bởi các cột tế bào nối nhau và lẫn lộn bên trong là các mao mạch.

Mạch máu và thần kinh thường nằm ở mô liên kết trong vùng giữa tiểu thùy. Xen giữa các nang có thể thấy các tế bào mỡ (F) có kích thước thật lớn và một số mạch máu (V). cuu duong than cong . com

Hình 86. Tụy A: Nang tiết nước lỏng I: Đảo Langerhans D: Ống Boll

Hình 87. Tụy Hình 88. Tụy V: Mạch máu F: Tế bào mỡ

cuu duong than cong . com

Một phần của tài liệu Thực hành mô học (Trang 30 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(50 trang)