1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LANG GM LANG QUAN t TAC GI HOANG TR

276 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 276
Dung lượng 4,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI NGỎ

  • ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU TẬP SÁCH

  • CHƯƠNG I LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

    • 1. Vị trí địa lý – Địa giới:

    • 2. Làng Gốm từ thời các Vua Hùng đến hết thời Bắc thuộc:

    • 3. Làng Gốm - Quan Tử thời các nhà nước phong kiến Việt Nam thịnh trị đến cuối thế kỷ XVI:

    • 4. Làng Gốm – Quan Tử từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX:

    • 5. Làng Gốm - Quan Tử từ đầu thế kỷ XX đến trước cách mạng tháng 8/1945

    • 6. Làng Gốm - Quan Tử từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay

  • CHƯƠNG II CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA VÀ CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC GẮN LIỀN VỚI LÀNG CỔ

    • 1. Đền thờ Thành Hoàng – Nhà giáo Đỗ Khắc Chung (miếu Quan Tử):

    • 2. Đền thờ Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn (đền Thượng):

    • 3. Chùa Am (Vĩnh Phúc tự)

    • 4. Đình làng (đình Bác cổ)

    • 5. Văn chỉ làng Quan Tử:

    • 6. Các đền miếu thờ khác:

    • 7. Nhà thờ họ:

    • 8. Giếng làng:

    • 9. Cổng làng:

    • 10. Bến sông:

    • 11. Cầu và Quán

    • 12. Hồ ao và hệ thống thoát nước:

    • 13. Chợ quê:

  • CHƯƠNG III VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TIÊU BIỂU

    • 1. Tín ngưỡng – Lễ hội:

    • 2. Phong tục, tập quán, thói quen:

    • 3. Ẩm thực, món ngon:

    • 4. Hương ước làng Quan Tử:

  • CHƯƠNG IV DANH NHO, TRÍ THỨC TIÊU BIỂU TỪ THỜI PHONG KIẾN ĐẾN HIỆN ĐẠI

    • 1. Danh Nho làng Gốm thời nhà nước phong kiến Việt Nam:

    • 2. Đội ngũ trí thức làng Quan Tử thế kỷ XX:

  • CHƯƠNG V VĂN THƠ VIẾT VỀ LÀNG GỐM, NGƯỜI GỐM

    • 1. Sắc – Đại tự - Câu đối chữ Hán:

    • 2. Thơ chữ Hán:

    • 3. Thơ chữ Việt:

    • 4. Truyện, tiểu thuyết, sách nghiên cứu:

  • LỜI KẾT

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Vị trí địa lý – Địa giới

Làng Gốm nằm ven sông Lô, cách điểm giao giữa sông Lô và sông Phó Đáy khoảng 500 mét về phía bắc, bao gồm các gò đất nổi hạ du.

Ngã ba Hạc, nơi sông Lô đổ vào sông Hồng, chỉ cách 3 km về phía bắc Sông Lô đóng vai trò là ranh giới phía tây của làng với tỉnh Phú Thọ, trong khi phía bắc làng giáp với xã Cao.

Phong, phía đông và đông-nam giáp xã Triệu Đề và làng Đông Mật, phía nam giáp làng Phú Hậu Xưa kia

Làng Gốm gồm 19 làng, trong đó có các làng Đa Cai, Đẽn và Lũng Khi dân số làng Gốm tăng cao, một bộ phận cư dân đã di cư lên các gò này để lập nghiệp Qua thời gian, dân cư tại các gò ngày càng đông, và đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các gò này đã tách ra thành các làng riêng biệt Sự chuyển biến này được ghi nhận rõ ràng trong Hương ước của làng Quan Tử vào năm 1935.

Làng Gốm cổ không chỉ có một mà còn hai làng khác là Cương Đông và Phú Thị Bài viết sẽ trình bày về sự hình thành và biến động của hai làng này trong phần tiếp theo.

Làng Gốm xưa, nằm bên bờ sông Lô, có diện tích chưa đầy 1km² và không bao gồm các làng Đa Cai, Đẽn, Lũng và Phú Thị Do dân số đông đúc, làng được chia thành nhiều xóm nhỏ, trong đó xóm Thượng nằm ở phía bắc và là xóm có địa thế cao nhất Bên cạnh xóm Thượng là xóm Giữa và xóm Dầu, nơi trước đây có nghề ép và bán dầu.

Xóm Đông nằm ở phía đông của làng, tiếp theo là xóm Chùa giáp với chùa Am Tiếp đó là xóm Chòi, gần huyện đường xưa với chòi canh, và cuối cùng là xóm Đồng nằm ở phía Đông Nam của làng.

Sơn Đông, một trang (xã) có tên gọi Lập Thạch, đã xuất hiện trong các văn tự từ hơn 600 năm trước Thời kỳ đầu, Sơn Đông bao gồm các làng Gốm, Đông Mật, Cương Đông và Triều Đông Kể từ khi hình thành, địa giới hành chính của xã Sơn Đông đã được xác định và phát triển.

Xã Đông hầu như không thay đổi và vẫn là xã ở cực nam của huyện Lập Thạch Lập Thạch, Sơn Đông có thể được xem là một trong những đơn

Làng Gốm, từng là huyện lỵ của huyện Lập Thạch, nằm ở phía nam huyện và kết nối với các xã phía bắc qua hai tuyến đường chính Một tuyến đường chạy từ cổng Cái qua cầu Sọ, Chân Chim vào Triệu Đề, dẫn đến các xã ven sông Phó Đáy Tuyến đường còn lại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giao thông của khu vực.

Gò Chùa, cầu Cốc, quán Giữa Đồng, đi Văn Quán, Cao Phong rồi đến các xã ven sông Lô và vùng giữa của huyện

Thời xưa, làng Gốm phụ thuộc vào giao thông đường thủy, nhờ vị trí thuận lợi trên bến và dưới thuyền Làng Gốm có thể giao thương dễ dàng qua sông Lô và sông Hồng, kết nối với Sơn Tây, Thăng Long và các tỉnh đồng bằng sông Hồng, thậm chí ra đến biển Đông Đồng thời, việc lên ngược cũng tạo điều kiện cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa với Tuyên Quang, Hà Giang và Phú Thọ.

Với vị trí thuận lợi, Thọ Yên Bái và Lào Cai đã tạo điều kiện cho sự hình thành của một làng Gốm cổ trù phú, giàu văn hiến và khoa bảng.

Ngày nay, mặc dù giao thông đường thủy không còn giữ vai trò chủ đạo như trước, nhưng sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho làng Gốm, giúp kết nối nhanh chóng với các xã trong huyện.

Từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh hay sân bay quốc tế Nội Bài, du khách có thể dễ dàng di chuyển đến làng thông qua Cao tốc Hà Nội - Lào Cai, chỉ mất 5 kilomet trên đoạn đường nhựa phẳng Ngoài ra, việc đi theo Quốc lộ số 2 đến ngã tư Thổ Tang (Vĩnh Tường) và rẽ lên cầu Phú Hậu cũng giúp tiết kiệm thời gian, với chỉ 5 phút để về làng qua con đường nhựa thẳng tắp cắt ngang đồng Đông.

Làng Gốm từ thời các Vua Hùng đến hết thời Bắc thuộc

Mặc dù không có nhiều chứng cứ trực tiếp về sự tồn tại của làng Gốm thời tiền sử, nhưng các bằng chứng khảo cổ học, truyền thuyết, huyền thoại và các địa danh cổ trong khu vực lân cận cung cấp một hệ thống tư liệu phong phú Những thông tin này cho phép chúng ta suy luận hợp lý về sự hiện diện của một làng Gốm quần cư từ thời Hùng Vương.

Xin kể tóm tắt ở đây một số tư liệu chính:

2.1 Trước tiên là các bằng chứng về Khảo cổ học: Vào cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỷ

Từ ngã ba Hạc Trì làm tâm, trong bán kính 15-20 ki lô mét, đã phát hiện nhiều tư liệu khảo cổ quý giá.

Lần đầu tiên thuật ngữ văn hóa Phùng Nguyên ra đời (Phùng Nguyên nay thuộc huyện Lâm Thao, Phú

Các chứng tích khảo cổ tại làng Cả (Việt Trì, Phú Thọ) đã xác nhận sự tồn tại của người Việt cổ cách đây 4000 năm và nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng Những phát hiện ở khu vực xung quanh, đặc biệt là tại Lũng Hòa (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) và Đồng Đậu (thị trấn Minh Tân, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc), cung cấp thêm minh chứng quý giá cho nền văn minh này.

Tại gò Đồng Đậu rộng khoảng hơn 10ha, từ năm

Từ năm 1959 đến nay, nhiều đợt khai quật khảo cổ đã được thực hiện, phát hiện hàng loạt hiện vật quý giá tại Đồng Đậu, bao gồm hạt lúa nước, công cụ lao động bằng đá và đồng, cùng các đồ trang sức tinh xảo Những hiện vật này, nằm ở các độ sâu khác nhau, đại diện cho bốn thời kỳ văn hóa liên tục kéo dài khoảng 2000 năm tại Việt Nam Thời kỳ đầu tiên là văn hóa Phùng Nguyên (3500-4000 năm trước), tiếp theo là văn hóa Đồng Đậu (3000-3500 năm trước), văn hóa Gò Mun (2500-3000 năm trước), và cuối cùng là văn hóa Đông Sơn (2000-2500 năm trước).

Năm 1936, các nhà Khảo cổ học người Pháp phát hiện ra văn hóa Đông Sơn (Thanh Hóa), với nhiều hiện

Văn hóa Đông Sơn được biết đến với 23 hiện vật phong phú được làm từ đá và đồng Nhiều nhà khoa học, cả trong nước và quốc tế, đều cho rằng đây là một nền văn hóa ngoại lai, không phải là bản địa.

Cuộc tranh cãi về nguồn gốc văn hóa Việt Nam từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ kéo dài đến năm 1960, khi các nhà khảo cổ học phát hiện ra di tích Đồng Đậu Gò Đồng Đậu nổi bật với bốn tầng văn hóa chồng lên nhau ở các độ sâu khác nhau, cho thấy quá trình tiếp biến văn hóa liên tục và sự phát triển không ngừng của người tiền sử tại khu vực này.

Việt Nam là có thật và liên tục!

Phát hiện khảo cổ học ở Đồng Đậu đã chấm dứt cuộc tranh cãi suốt mấy chục năm: Văn hóa Đông Sơn là bản địa hay ngoại lai?

Ngoài các tư liệu khảo cổ, các nhà nghiên cứu văn hóa đã thu thập được nhiều tài liệu quý giá từ khu vực Việt Trì đến đền Hùng, bao gồm cả vật thể và phi vật thể Đặc biệt, hệ thống tên đất và tên làng cổ ở đây gắn liền với cố đô Văn Lang và vùng lân cận như Nghĩa Lĩnh, Thậm, mang lại cái nhìn sâu sắc về di sản văn hóa phong phú của khu vực.

Thình, Làng Cả, Tiên Cát, Lâu Thượng, Lâu Hạ…: Phía tả ngạn sông Lô là các địa danh: Then, Đọ, Dạng,

Mật, Nòi và hệ thống truyền thuyết phong phú của Việt Nam bao gồm các nhân vật như Âu Cơ, Lạc Long Quân, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mỵ Nương, cùng với các món ăn truyền thống như bánh chưng, bánh dày Ngoài ra, các trò chơi dân gian và làn điệu dân ca cổ như hát xoan và trống quân cũng góp phần làm phong phú thêm văn hóa dân tộc.

24 vẽ nên bức tranh toàn cảnh về sinh hoạt, sản xuất, lễ thức thờ cúng… ở thuở bình minh của dân tộc

Các phát hiện khảo cổ học giữa thế kỷ XX, cùng với các di sản văn hóa phi vật thể và nhiều chứng tích khác, đã khẳng định sự tồn tại của nhà nước Văn Lang do các vua Hùng lãnh đạo, với kinh đô tọa lạc tại vùng Việt Trì ngày nay.

Các phát hiện khảo cổ học trong những thập niên 50-60 của thế kỷ XX đã chứng minh rằng vùng ngã ba Hạc – Trì là trung tâm của nền văn minh cổ đại và kinh đô của nhà nước Văn Lang Hơn nữa, khu vực xung quanh, kéo dài hàng chục ki lô mét và xa hơn nữa, đều có sự hiện diện của người Việt cổ Đặc biệt, hầu hết các phát hiện khảo cổ trong thời kỳ này được tìm thấy dọc theo hai dòng sông lớn là sông Lô và sông.

Hồng, điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của sông nước với con người thời đại Hùng Vương

2.2 Sách sử Trung Quốc và Việt Nam đều viết khá rõ và chi tiết về kỷ nhà Triệu (thế kỷ thứ II-thế kỷ thứ I TCN) Sau khi lấy được nước Âu Lạc của Thục Phán, nước Nam Việt của Triệu Đà rộng mênh mông từ vùng

Quảng Đông, vùng đất phía Nam Trung Quốc, từng là nơi sinh sống của một vị Tể Tướng tài ba của triều đại Nhà Triệu, tên là Lữ Gia Ông xuất thân từ huyện Lôi Dương, quận Cửu Chân, thuộc vùng đất Thọ Xuân, Thanh Hóa ngày nay Lớn lên trong một gia đình hào trưởng, Lữ Gia đã có một sự nghiệp quan trường nổi bật.

25 chức Tể Tướng của ba đời vua nhà Triệu (từ năm 124- 111TCN) Là người có thế lực lớn và có ý chí độc lập,

Lữ Gia đã từ chối thần phục nhà Hán và sau khi nhà Triệu bị diệt vào năm 111 TCN, ông rút quân theo sông Lô về vùng núi phía bắc Việt Nam ngày nay để tiếp tục cuộc kháng chiến Các huyện chính nơi nghĩa quân Lữ Gia hoạt động bao gồm Sông Lô, Lập Thạch, Tam Dương (Vĩnh Phúc) và Đoan Hùng, Phù Ninh (Phú Thọ).

Truyền thuyết cho rằng, mỗi khi Lữ Gia xuất trận, ông đều cho quân mổ trâu để tế lễ các vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh Đây chính là nguồn gốc của lễ hội chọi trâu Hải.

Lựu tồn tại đến ngày nay là từ đây

Vùng Bắc huyện Sông Lô không chỉ nổi tiếng với những ghi chép chính sử mà còn lưu giữ nhiều huyền thoại về nghĩa quân Lữ Gia Đền thờ Lữ Gia hiện diện ở nhiều địa phương như huyện Sông Lô, Lập Thạch, Tam Dương, Đoan Hùng, trong khi lăng mộ của ông vẫn còn được bảo tồn tại Hưng Yên.

Làng Gốm - Quan Tử thời các nhà nước phong kiến Việt Nam thịnh trị đến cuối thế kỷ XVI

3.1 Trải qua gần 1000 năm Bắc thuộc, từ giữa thế kỷ thứ X, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, đất nước ta bước vào một thời kỳ mới, đó là thời kỳ các nhà nước Phong kiến Việt Nam thịnh trị Rút kinh nghiệm từ trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc, các triều đại phong kiến Việt Nam thịnh trị, nhất là từ nhà Lý, nhà Trần đều quyết tâm xây dựng ngã ba sông Bạch Hạc làm điểm tiền tiêu phía Tây bắc trong việc bảo vệ kinh đô Thăng Long Đặc biệt là nhà Trần bao giờ cũng cử Hoàng thân quốc thích, cùng các tướng giỏi nhất như

Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật đã giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đất này Ý tưởng xây dựng khu vực tiền tiêu nhằm bảo vệ kinh thành Thăng Long đã dẫn đến việc tập trung đông đảo lực lượng tại đây.

Ngã ba Hạc – Trì và vùng phụ cận đã trở thành trung tâm phát triển nhờ vào đồng bằng phì nhiêu do phù sa sông Hồng và sông Lô bồi đắp Khu vực này không chỉ có nguồn tôm cá phong phú dưới sông mà còn nhiều lâm thổ sản và muông thú trong rừng gần kề Đặc biệt, giao thông đường thủy thuận lợi đã thúc đẩy buôn bán và trao đổi sản vật giữa miền xuôi, như kinh thành Thăng Long và đồng bằng sông.

Hồng) với miền núi (Phú Thọ Yên Bái, Tuyên Quang…) càng ngày càng phát triển đa dạng Ngã ba

Hạc – Trì, vùng đất của kinh đô Văn Lang xưa, có dân cư đông đúc và đời sống vật chất cao hơn các khu vực khác Điều kiện thuận lợi đã tạo nên một đô thị sầm uất ở phía tây bắc kinh thành Thăng Long, và thực tế đã chứng minh điều này.

3.2 Theo một số tài liệu đáng tin cậy, đặc biệt là Đại

Theo Việt Sử Ký toàn thư, từ thế kỷ XI, nhà Lý đã chia nước ta thành 24 Lộ Đến thế kỷ XIII - XIV, nhà Trần tiếp tục duy trì hệ thống Lộ (Trấn) nhưng có nhiều điều chỉnh về địa giới hành chính Cấu trúc hành chính được phân chia từ Lộ xuống các cấp thấp hơn, bao gồm Phủ, Châu, huyện, xã (trang, tổng) và cuối cùng là các làng.

Có một câu truyện liên quan đến tên huyện Lập

Thạch Truyện kể lại rằng:

Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần bước vào giai đoạn suy vong, giặc dã xảy ra ở khắp nơi, nhiều khi “giặc” (thực

Cuộc khởi nghĩa nông dân vào năm 31 đã tấn công vào kinh thành, trong khi cha con Hồ Quý Ly ngày càng lộng hành và bộc lộ ý định cướp ngôi Sau khi vua Thuận Tông bị Hồ Quý Ly sát hại, nhóm trung thành với nhà Trần do Trần Khát Chân lãnh đạo cũng bị xử án, dẫn đến sự sụp đổ của triều đại Trần với vua Trần Thiếu Đế vào năm Kiến Tân thứ hai.

1399) buộc phải chạy trốn Một hôm, Trần Thiếu Đế cùng đoàn tùy tùng chạy đến một nơi (thuộc xã Yên

Khi trời đã sẩm tối, vua cùng đoàn tùy tùng mệt mỏi và đói rã rời đã được người dân ở chân đồi niềm nở đón tiếp Sau khi dùng cơm, vua gọi những người già đến để trò chuyện Qua việc đối chiếu bản đồ với lời kể của họ, vua và triều đình nhận ra rằng vùng đất giữa sông Lô và sông Phó Đáy khá rộng lớn, với dân cư đông đúc dọc hai bờ sông Sáng hôm sau, khi bước ra khỏi nhà, vua bất ngờ nhìn thấy một khối đá to cao vút, tạo cảm giác thanh bình Vua đã quyết định đặt tên cho vùng đất này là Lập.

Thạch (đá dựng)! Như vậy là tên Lập Thạch có từ năm

1399, đây là một trong những tên huyện có sớm và ít thay đổi ở nước ta

Huyện Lập Thạch ra đời lúc đầu thuộc châu Tam Đái (Tam Đới), lộ Đông Đô

Tên xã Sơn Đông có thể đã xuất hiện vào thời kỳ này, khi mà từ đầu thế kỷ XV, địa danh Sơn Đông đã được ghi nhận trong các văn tự.

Như vậy, làng Gốm cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ

XV nằm trong huyện Lập Thạch, cùng với các làng Cương Đông, Triều Đông và Đông Mật thuộc xã Sơn Đông Các làng Cương Đông và Triều Đông là những cộng đồng nhỏ ven sông Lô, chủ yếu là nơi cư trú của dân từ các vùng khác đến sinh sống.

Vào thế kỷ XV, làng Cương Đông trải qua nhiều biến động lớn, đặc biệt là trong nửa đầu thế kỷ Làng này đã phát triển dọc theo ven sông, bắt đầu từ khu vực bến Giữa, trước đây còn được biết đến với tên gọi bến Đá hay bến đò.

Sau vụ án Trần Nguyên Hãn được minh oan vào năm 1455, làng Cương Đông bị quy trách nhiệm và dân làng dần rời bỏ, khiến tên tuổi của làng trở thành ký ức Vị trí đất Cương Đông, với bờ sông cao thuận lợi cho việc buôn bán, đã thu hút một số hộ dân làng Gốm làm nghề sông nước chuyển đến định cư Qua thời gian, nhiều cư dân từ các vùng xa như Thanh Hóa, Nghệ An cũng tìm đến đây để sinh sống, tạo nên một cộng đồng mới phát triển nhờ vào điều kiện thuận lợi của địa phương.

Phố Thị, được hình thành bởi những cư dân mới và các hộ dân làng Gốm, chạy dọc theo bờ sông từ bến Giữa đến bến Đình Ban đầu, Phố Thị vẫn thuộc về làng Gốm, nhưng theo thời gian, nhờ vị trí thuận lợi, nơi đây đã phát triển thành một khu phố buôn bán sầm uất với dân cư đông đúc và đa dạng Đến đầu thế kỷ XX, làng Phú Thị đã có số dân gần bằng một nửa so với làng Gốm - Quan Tử.

Làng Phú Thị, mặc dù không có tài liệu chính thức về thời điểm thành lập, được cho là đã được hình thành vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, khi tách ra từ Phố Thị thuộc làng Quan Tử Đất làng Phú Thị trước đây là của làng Cương Đông từ thế kỷ XV Tên gọi Phú Thị đã xuất hiện trên một số văn bia vào cuối thế kỷ XVIII, và đình làng được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 21 (1760) Lễ hội rước kiệu Thành hoàng làng Phú Thị trên sông Lô đã có từ đầu thế kỷ XIX.

Thị xuất hiện trong các văn bản từ cuối thế kỷ XVIII, chứng minh rằng Phú Thị từng là một làng độc lập trong lịch sử.

Mặc dù là một phần của làng Gốm, nhưng với dân cư đa dạng từ nhiều vùng khác nhau, nghề buôn bán trở thành hoạt động chính Thời gian hình thành của khu vực này cũng muộn hơn, dẫn đến phong cách sinh hoạt và nếp sống có sự khác biệt đáng kể.

34 sống văn hóa của người dân Phú Thị cũng có đôi chút khác biệt với dân làng Gốm!

Làng Gốm – Quan Tử từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX:43 5 Làng Gốm - Quan Tử từ đầu thế kỷ XX đến trước cách mạng tháng 8/1945

4.1 Từ cuối thế kỷ XVI, nhà Lê bắt đầu suy vong, Mạc Đăng Dung thừa cơ cướp ngôi lập nên nhà Mạc Mặc

Mặc dù chính quyền nhà Mạc thời kỳ đầu thực hiện nhiều cải cách tiến bộ, nhưng việc tiếm ngôi không được lòng dân đã dẫn đến phong trào phò Lê diệt Mạc nổ ra khắp nơi Kết quả là đất nước rơi vào loạn lạc suốt hơn nửa thế kỷ, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ hưng thịnh Đến giữa thế kỷ XVI, vua Lê, nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ nhiều lực lượng xã hội, đã dẹp yên được nhà Mạc, chấm dứt cuộc khủng hoảng này Con cháu của Mạc Đăng Dung, cụ thể là Mạc Mậu, đã không thể giữ vững quyền lực.

Hợp phải dẫn tàn quân lên vùng Cao Bằng cố thủ

Những tưởng đất nước trở lại thanh bình, thì không ngờ lại rơi vào một vòng xoáy mới còn khủng khiếp hơn!

Sau khi khôi phục triều chính, Lê Trang Tông lên ngôi, nhưng Thái sư Nguyễn Kim, người có công lớn trong việc phò Lê diệt Mạc, đã qua đời Con rể của ông, Trịnh Kiểm, đã nắm quyền kiểm soát triều đình, dẫn đến một thời kỳ lịch sử được gọi là Vua.

Lê Chúa Trịnh là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam, khi Trịnh Kiểm, dù là con rể của Nguyễn Kim, đã tìm cách loại trừ hai con trai của ông là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng để nắm quyền lực Sau cái chết bí ẩn của Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng đã tìm đến trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để hỏi về tình hình thế sự và con đường tồn tại Ông nhận được lời khuyên rằng “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, từ đó Nguyễn Hoàng đã nhận sự trợ giúp từ chị gái mình.

Trịnh Kiểm) đã xin nhà vua (thực chất là xin Trịnh

Kiểm) vào trấn thủ Thuận Quảng Nghĩ đây là vùng đất nhỏ khó khăn, ở xa triều đình, trong Triều lại đang

45 nhiều dị nghị về cái chết của Nguyễn Uông, để tỏ thiện chí với các em vợ Trịnh Kiểm đã đồng ý.

Năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng đem theo toàn bộ gia quyến họ hàng, đồng hương cùng một ít quân lính vội vã rời Kinh thành vào trấn thủ Thuận

Quảng, một người khởi nghiệp tại miền Nam, sống trong bối cảnh đất nước chuẩn bị bước vào thời kỳ đầy đau thương với những cuộc nội chiến kéo dài Thời kỳ này, được biết đến với tên gọi Trịnh Nguyễn phân tranh, đã kéo dài gần 200 năm.

Khi đất nước rơi vào cảnh nô lệ ngoại bang hoặc tranh giành quyền lực, người dân phải chịu đựng nhiều khổ cực như sưu cao, thuế nặng và phải đi phu, đi lính Không chấp nhận cảnh sống lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã diễn ra để chống lại chính quyền trung ương, cướp bóc của người giàu để chia sẻ với dân nghèo Một trong những sự kiện nổi bật là nghĩa quân của Nguyễn Danh Phương (?-1751) đã nhiều lần cướp phá làng Gốm và các làng giàu có khác vào giữa thế kỷ XVIII.

Cuối thế kỷ XVIII, phong trào khởi nghĩa của ba anh em họ Nguyễn ở miền Trung, đặc biệt là anh hùng Nguyễn Huệ, đã ghi dấu ấn lịch sử với chiến công đánh bại hai mươi vạn quân Thanh và thành lập triều đại mới Tuy nhiên, triều đại Quang Trung Nguyễn Huệ không tồn tại lâu và gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì quyền lực.

46 chiến tranh liên miên, nên chưa có cơ hội xây dựng lại đất nước!

Thế kỷ XIX đánh dấu một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử Việt Nam, khi Nguyễn Ánh sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn đã thống nhất đất nước và chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô.

Việc dời kinh đô về Huế và tập trung nguồn lực cho xây dựng kinh đô mới đã có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực phía.

Bắc, một đất nước vừa trải qua cuộc chiến tranh, giờ đây lại đối mặt với nguy cơ xâm lược mới do những sai lầm trong chính sách đối ngoại.

Năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng chiếm Đà Nẵng, đánh dấu sự khởi đầu của phong trào kháng Pháp diễn ra rộng rãi từ Nam ra Bắc trong nửa cuối thế kỷ XIX Tuy nhiên, do thiếu đường lối rõ ràng và sự chỉ huy thống nhất, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đều thất bại Đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã thiết lập quyền cai trị vững chắc trên toàn Đông Dương, khiến đất nước rơi vào vòng nô lệ một lần nữa, dẫn đến tình trạng kinh tế xã hội trì trệ và đời sống của nhân dân trở nên vô cùng khổ cực.

4.2 Trong bối cảnh đất nước loạn lạc, chiến tranh, suốt gần 3 thế kỷ (từ đầu TK XVII – đến cuối TK XIX), làng Gốm cũng như bao thành thị làng quê khác không thể có điều kiện để phát triển mạnh, cho dù mạch nguồn truyền thống đã thiết lập từ lâu đời không hề mất!

Từ giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI, làng Gốm đạt đỉnh cao phát triển, nhưng từ đầu thế kỷ XVII, sự phát triển đã chậm lại, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục Kể từ khi cụ Vũ Doãn Tư đỗ Tiến sỹ năm 1541 dưới triều Mạc Phúc Hải, làng Gốm không có thêm ai đỗ Tiến sỹ Hán học trong gần 350 năm tiếp theo, kéo dài từ thời Lê Trung hưng đến triều Nguyễn.

Số lượng Cử nhân và Tú tài tại Vĩnh Phúc và các tỉnh phía Bắc đang giảm mạnh, phản ánh xu thế chung của cả nước Rõ ràng, tình hình kinh tế và xã hội hiện tại đã tác động đáng kể đến từng vùng đất.

Mặc dù không còn phát triển mạnh mẽ như giai đoạn giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI, nhưng nền tảng kinh tế - xã hội đã được xây dựng vững chắc vẫn tồn tại Điển hình là nhờ sự đóng góp của các gia đình giàu có và cộng đồng, nhiều công trình văn hóa lớn như miếu thờ Thành hoàng Đỗ Khắc Chung, đền Thượng thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, chùa Am và Văn chỉ đã được trùng tu, tôn tạo và mở rộng, trở nên to đẹp hơn trong thời kỳ này.

4 T ỉnh Vĩnh Phúc cũng tương tự : Trong 86 Ti ến sỹ Hán học của tỉnh thì triều

Lý có 01; tri ều Trần có 04; triều Lê sơ có 43; triều Mạc có 15; triều Lê Trung hưng có 16; triều Nguyễn chỉ có 07

Nhiều công trình kiến trúc văn hóa lớn như đình Bác cổ, đền Lập Đức thờ đức Thánh Trần Hưng Đạo, đền Mẫu thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh và cầu Cốc vẫn đang được xây mới Mặc dù vẻ sầm uất của làng quê giàu có đã giảm, số lượng thuyền buôn lớn cập bến và giao lưu hàng hóa giữa miền xuôi và miền ngược cũng ít hơn trước, nhưng các nghề truyền thống vẫn tiếp tục phát triển.

Làng Gốm - Quan Tử từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến nay 58 CHƯƠNG II CÁC THI ẾT CHẾ VĂN HÓA VÀ CÔNG TRÌNH

Làng Gốm, với lực lượng trí thức đông đảo và tinh thần cách mạng sớm, đã tham gia cách mạng tháng 8/1945 với khí thế sôi sục Nhiều người dân trong làng đã tham gia cướp chính quyền huyện, đóng tại xã Triệu Đề hiện nay Tri huyện Bùi Tất Cường đã bỏ trốn từ đầu tháng 8/1945, trong khi chính quyền Cách mạng xã Sơn Đông và huyện Lập Thạch đã được công bố trước ngày khởi nghĩa toàn quốc, vào ngày 17/8/1945.

Lễ ra mắt được tổ chức ngay tại bãi Quần làng Đông

Mật, xã Sơn Đông, ông Trần Huy Liệu và bà Nguyễn Khoa Diệu Hồng đã thay mặt trung ương về dự

Ngay sau lễ ra mắt chính quyền huyện, Ủy ban Kháng chiến Hành chính (UBKCHC) xã Sơn Đông cũng được thành lập và đi vào hoạt động Từ 1945 đến

1954, rất nhiều cán bộ chủ chốt của xã là người làng

Gốm, như cụ Chánh Doãn (làm Chủ tịch đầu tiên trong

Trong lịch sử lãnh đạo, các cụ Chủ tịch đã đảm nhận vai trò quan trọng với thời gian phục vụ khác nhau: cụ Giáo Trục làm Chủ tịch trong 6 tháng, cụ Đóa 7 tháng, cụ Hoàng Duy Thành giữ chức vụ Phó Chủ tịch UBKCHC từ tháng 8 năm 1945 và sau đó là Chủ tịch trong 3 năm từ 1948 đến 1951, và cuối cùng là cụ Hoàng Gia với 2 năm lãnh đạo Đáng chú ý, trong số các cụ Chủ tịch, chỉ có cụ Đóa là người làng Đông Mật, còn lại đều đến từ làng Gốm.

Ngay sau khi thành lập, chính quyền cách mạng đã mobilize người dân trong xã, đặc biệt là cư dân làng Quan Tử, tham gia vào các phong trào lớn như Cứu đói.

Trong bối cảnh kháng chiến, nhiều nhà giàu đã ủng hộ chính phủ bằng cách quyên góp vàng và mua trái phiếu, trong khi dân làng cũng chung tay hỗ trợ bằng hàng tấn gạo để cứu đói Vào cuối năm 1945, đình làng trở thành nơi nấu cháo phát cho hàng trăm người dân nghèo Phong trào Bình dân học vụ phát triển mạnh mẽ, với Hương ước yêu cầu trẻ em 6 tuổi phải đi học, và làng Gốm đã nhanh chóng xóa nạn mù chữ cho người lớn.

Nối tiếp khí thế của cách mạng tháng 8/1045, làng

Trong cuộc kháng chiến kéo dài 9 năm đầy hào hùng, gốm đã đóng góp quan trọng Các nhà Nho yêu nước, nổi tiếng và có danh vọng tại làng như cụ Hoàng Mậu Lâm và Nguyễn đã thể hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt.

Mặc dù đã ở độ tuổi 60-70, Mạnh Thúy, Vũ Đình Tiếp và nhiều người khác vẫn nhiệt tình khuyến khích con cháu tham gia kháng chiến, đồng thời sáng tác thơ ca để động viên phong trào chiến đấu Cụ Vũ Hữu Vực đặc biệt tiễn cả 4 con cháu vào Vệ Quốc đoàn Theo thống kê chưa đầy đủ, từ đầu năm 1946, đã có 5 thanh niên trong làng tham gia bộ đội Nam tiến, và năm 1947, có thêm 3 thanh niên tham gia Trung đoàn Tây Tiến, chủ yếu là những trí thức và học sinh trung học đang sinh sống tại Hà Nội Hàng chục thanh niên khác cũng đã tham gia phong trào này.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ và Thượng Lào, 60 thanh niên xung phong, quân đội và dân công hỏa tuyến đã tham gia, nhiều người trong số họ sau này trở thành những sỹ quan cao cấp và cán bộ chính quyền Điển hình như Hoàng Kim Bảo, lão thành cách mạng, từng là Tiểu đoàn trưởng năm 1954 và sau đó giữ chức TUV - Trưởng ty Lâm Nghiệp tỉnh Yên Bái; Hoàng Trọng Cung, lão thành cách mạng, hiện là chuyên viên cao cấp tại Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; và Nguyễn Hữu Truyền, người đã tham gia lãnh đạo khu Học xá Trung ương trong kháng chiến chống Pháp.

Sau khi hòa bình lập lại, Tổng Lãnh sự quán Việt Nam đầu tiên tại Nam Ninh, Quảng Tây (Trung Quốc) do Đào Kim Giao lãnh đạo đã có những đóng góp quan trọng Nhiều cựu chiến binh, như các Đại tá Vũ Đình Khuê, Trịnh Đãi, Nguyễn Trọng Cung và Hoàng Văn Cam, đã trở thành sỹ quan cao cấp trong quân đội và nghỉ hưu tại các tỉnh khác nhau Ngoài ra, lớp người được giáo dục trước cách mạng tháng 8/1945 cũng đã đóng vai trò chủ chốt trong chính quyền và các ngành chuyên môn.

Vũ Đình Chương (Phó chủ tịch huyện); Hoàng Minh

Thận (trưởng ty Bưu điện Bắc Cạn); Lê Văn Thăng (TVHU Yên Sơn – Tuyên Quang); Hoàng Gia (Trưởng

61 ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh, Phó trưởng ban Tuyên giáo Vĩnh Phú)…

Trong làng Gốm, nhiều người đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp Những liệt sĩ tiêu biểu như Vũ Duy Kỳ, Vũ Trọng Xuyên (tham gia bộ đội Nam Tiến và hy sinh năm 1946), Vũ Xuân Ca, Trịnh Đình Báu (bộ đội Trung đoàn Tây Tiến, hy sinh năm 1948), Vũ Duy Ninh (1952) và Lê Văn Tục (1954) đã để lại dấu ấn lịch sử Nghĩa trang Liệt sĩ xã Sơn Đông là một trong những nghĩa trang lớn nhất huyện Lập, ghi nhớ công lao của các anh hùng đã hy sinh vì độc lập tự do.

Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, xã Sơn Đông đã thành lập một trung đội du kích trực chiến, phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương để sẵn sàng đánh địch từ Việt Trì và Toa Đen ra vùng giải phóng Tại khu vực giáp gianh giữa vùng giải phóng và vùng địch chiếm đóng, quân và dân xã Sơn Đông đã tham gia hơn 200 trận chiến, đập tan nhiều cuộc hành quân của quân đội Pháp và tiêu diệt gần 300 tên địch Họ cũng đã có những đóng góp lớn lao về sức người và sức của cho tiền tuyến, với hàng trăm liệt sỹ và thương binh, cùng nhiều gia đình có công với nước.

Làng Gốm bước vào cuộc kháng chiến với phong trào vườn không nhà trống khá triệt để, đình làng bị đốt

Trong vụ cháy, hàng trăm ngôi nhà gỗ kiên cố tại làng Gốm đã bị phá hủy, buộc người dân phải tản cư sâu vào vùng giải phóng phía bắc huyện Lập Thạch và tỉnh Tuyên Quang Chỉ còn lại một số thanh niên ở lại hoặc sơ tán gần xã Văn Quán, Xuân Lôi để duy trì sản xuất nông nghiệp và tham gia hỗ trợ bộ đội địa phương Gia đình cụ Hoàng Duy Thành từng nấu cơm nuôi trung đội bộ đội địa phương đóng quân tại chùa Am trong nhiều tháng.

Làng Gốm đã có những thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu và xây dựng chính quyền Những hy sinh to lớn của những người con nơi đây đã góp phần quan trọng giúp xã Sơn Đông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng thời kỳ chống Pháp.

Sau 9 năm kháng chiến, đất nước bước vào giai đoạn Cải cách ruộng đất và cải tạo Công Thương nghiệp, nhưng những sai lầm trong tổ chức thực hiện đã gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực, đặc biệt ở miền Bắc Làng Gốm, nơi dân cư chủ yếu sống bằng tiểu thủ công nghiệp và thương mại, cũng không thoát khỏi ảnh hưởng này, dẫn đến sự suy giảm dân số nghiêm trọng, chỉ còn lại chưa đầy một nửa Cụ thể, làng Phú Thị, từng đi tản cư trong kháng chiến chống Pháp, giờ chỉ còn khoảng ba đến bốn phần so với trước.

Một phần lớn dân đã ở lại nơi tản cư, nơi họ đã quen

63 sống qua 8-9 năm, một phần chuyển đi Hà Nội, Hải Phòng…để tránh những cuộc đấu tố sát phạt!

Sau những năm khó khăn, từ năm 1957, cuộc sống dần ổn định trở lại với nền kinh tế phục hồi và phong trào hợp tác xã mang lại sức sống mới Thế hệ trẻ lớn lên trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp, với truyền thống hiếu học, đã vượt qua nhiều khó khăn để đến trường, dù phải đi bộ xa hàng chục cây số Sau chiến tranh chống Mỹ, nhiều người trong số họ đã thành công trong học tập và sự nghiệp, nhưng tiếc rằng họ đã chọn những nơi khác để xây dựng cuộc sống mới Quê hương giờ chỉ còn là ký ức, và mỗi dịp Tết đến, họ trở về để thắp hương cho tổ tiên.

Cuộc sống bình yên được gần tròn 10 năm thì làng

Gốm đã trải qua biến động lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi dân làng phải sơ tán để tránh bom đạn và được vận động xây dựng kinh tế mới nhằm tự nuôi sống mình và hỗ trợ quân đội Trước năm 1945, dân số làng Gốm chỉ còn lại một hoặc hai người, trong khi trước đó, nhà cửa san sát với diện tích mỗi nhà khoảng 100 - 200 mét vuông Sau Cải cách ruộng đất, nhiều ngôi nhà mới được xây dựng lại nhưng sau đó lại bị bỏ hoang hoặc di dời đến nơi khác.

Đền thờ Thành Hoàng – Nhà giáo Đỗ Khắc Chung (miếu Quan Tử)

Đỗ Khắc Chung (1247-1330) là người làng Cam Lộ, xã Giáp Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương ngày nay Theo thần tích do Hàn lâm viện Đông các Đại học sỹ Lê Tung soạn năm 1572, cha ông là Đỗ Nhuận và mẹ là Vũ Thị Hương, cả gia đình nổi tiếng vì làm thuốc cứu người và lòng nhân từ Ông có một người em trai và sau kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược, Đỗ Khắc Chung được Vua Trần ban tặng nhiều vinh dự nhờ công lao lớn của mình.

Nhân Tông ban đổi Quốc tính thành Trần Khắc Chung

Với bản tính thông minh hơn người, mới 16 tuổi Đỗ

Khắc Chung, một nhân vật nổi bật với kiến thức sâu rộng về kinh sử và tài năng văn võ, đã có chuyến du ngoạn lên miền ngược vào khoảng năm 1266-1267 Trong hành trình này, thuyền của ông đã dừng chân tại Bạch Hạc, một vùng đất từng là trung tâm của kinh đô Văn Lang thời các vua Hùng, và sau này trở thành một phần của các triều đại phong kiến.

Việt Nam thịnh tri coi đây như tiền đồn chống giặc phương bắc xâm nhập theo đường sông Hồng, sông

Lô là vùng đất sầm uất với sự hiện diện của các đại quan Khi ngược dòng sông Lô, chàng Nho sinh Đỗ Khắc Chung nhận thấy người dân làng Gốm hiền hòa, tấp nập trên bến dưới thuyền, nhưng chưa được giáo hóa Ông quyết định tìm nhà chức trách để xin đất mở trường dạy học cho trẻ em Ngôi trường nhỏ nhanh chóng được xây dựng nhờ sự hỗ trợ của người dân, nằm giữa làng trên mảnh đất hình cỗ bút nghiên cổ, hướng ra sông Lô, với hình ngọn bút lông và các dụng cụ học tập xung quanh.

Trong thời kỳ thịnh vượng, dân làng hân hoan đưa con em đến học với thầy giáo giỏi từ xa Thầy không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn khơi dậy trong lòng trẻ em niềm khao khát học hỏi và đạo đức làm người Quan trọng hơn, thầy đã gieo ước mơ và hoài bão lớn cho học trò, khuyến khích các em phấn đấu học giỏi để phục vụ đất nước và cộng đồng.

Đỗ Khắc Chung chỉ dạy học ở làng khoảng 10 năm, vào giữa những năm 70 của thế kỷ XIII, khi quân Nguyên có ý định xâm lược nước ta lần nữa, nhưng với lý do mượn đường đánh Chiêm Thành Vua Trần Thánh Tông đã kêu gọi người tài giúp nước, không phân biệt xuất thân, để ứng thí vào triều đình Mặc dù không có tài liệu nào chứng minh Đỗ Khắc Chung đỗ Tiến sĩ triều Trần, nhưng ông đã tham gia ứng thí và được bổ nhiệm vào một chức quan nhỏ Đến năm 1285, khi cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ hai bắt đầu, ông đã trở thành một quan chức tham gia vào việc triều chính Khi quân địch tiến sát Thăng Long, triều đình cần một sứ giả để thương lượng với tướng giặc Ô Mã Nhi nhằm dò la tin tức và làm chậm bước tiến của quân Nguyên, Đỗ Khắc Chung đã không ngần ngại xin đi, tay không vào trại giặc mà không sợ hãi.

Khi tướng Nguyên quát mắng về việc vua quan vô lễ, ông đã dũng cảm đáp trả rằng quân Nguyên Mông chỉ biết cướp bóc và giết chóc, khiến lòng người phẫn uất Ông khẳng định rằng nhân dân quyết tâm chiến đấu với quân xâm lược và tự hào đứng bên Vua Trần, đồng thời vạch tay áo cho các tướng Nguyên thấy rõ quyết tâm của mình.

Tướng Nguyên chất vấn tại sao quân Chiêm Thành không ra đón tiếp mà lại xây dựng phòng thủ, ông trả lời rằng nếu muốn chinh phục, cần phải học cách của Hàn Tín, tức là đóng quân ngoài biên giới và gửi thư yêu cầu trước Ông nhấn mạnh rằng việc ép buộc quá mức chỉ khiến cho cả người và vật đều phản kháng, nên cần có sự khôn ngoan và thận trọng trong chiến lược.

Đỗ Khắc Chung, với thái độ bình tĩnh và biện luận sắc sảo, đã khiến viên chủ tướng nhà Nguyên phải thừa nhận rằng: “Tay không đi sứ mà không hổ mặt chủ, nước Nam có những người giỏi thế này thì không dễ gì lấy được!” Sự tự tin và quyết đoán của ông trước quân tướng Nguyên thể hiện sức mạnh của lòng yêu nước và trí tuệ Việt Nam.

Nhờ những công lao to lớn trong kháng chiến chống Nguyên Mông lần II (1285) và sau đó là lần III

(1288), sau chiến tranh Đỗ Khắc Chung được ban

Ông Trần Khắc Chung, được Vua ban Quốc tính và chức Đại Hành khiển, đã trở thành một nhân vật quan trọng trong triều đình dưới thời Trần Nhân Tông Truyền thuyết tại làng Gốm kể rằng sau khi thành đạt, thầy Đỗ Khắc Chung đã trở về thăm trường xưa, nơi dân làng đón tiếp ông với lòng kính trọng Ông vui mừng khi thấy ngôi trường phát triển, và nhiều học trò năm xưa đã noi gương ông trở lại dạy học Thầy đã quyết định tuyển chọn gần.

30 thanh niên trai tráng, có học, theo Thầy về kinh, cho làm việc dưới trướng…

Thầy Đỗ Khắc Chung đã có hơn 40 năm phục vụ dưới bốn triều vua Trần, giữ nhiều chức vụ quan trọng như Đại hành khiển và Thái bảo Ông cũng từng là Đại an phủ Kinh sư, đứng đầu kinh thành Thăng Long, và là thầy dạy của Thái tử Vượng Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi chép nhiều về ông, cho thấy vai trò quan trọng của Trần Khắc Chung trong triều đại Sự xuất hiện của ông trong nhiều trang sách của chính sử, mặc dù điều kiện in ấn thời bấy giờ rất khó khăn, chứng tỏ tầm ảnh hưởng lớn lao của ông trong lịch sử Việt Nam.

Đỗ Khắc Chung là một nhân vật lịch sử nổi bật, được đánh giá qua nhiều khía cạnh khác nhau Ngày nay, dưới cái nhìn khách quan và hiện đại, ông được hình dung là một vị quan tài ba, quyết đoán, trung thành, có tài năng văn võ song toàn và gần gũi với nhân dân.

Vào năm Ất Mão (1315), khi nước sông dâng cao, vua Trần Minh Tông đã trực tiếp đi kiểm tra công việc đắp đê Tuy nhiên, quan Ngự sử đài đã khuyên nhà vua rằng việc đắp đê chỉ là trách nhiệm nhỏ của nông dân, và Bệ hạ nên ở lại cung điện để lo việc triều chính và giữ gìn đức hạnh, không cần phải tự mình ra ngoài.

Đỗ Khắc Chung khuyên Vua rằng trong lúc dân gặp hoạn nạn, việc cứu giúp họ ngay lập tức là điều quan trọng nhất, và việc này thể hiện chính đức của người lãnh đạo.

Năm Mậu Thìn (1328), trong Triều có sự kiện lớn:

Quốc phụ thượng tể Trần Quốc Chẩn, bố vợ của Vua

Trần Minh Tông và nhóm của ông bị bắt vì nghi ngờ có âm mưu khi vua không vội phong Thái tử cho con trưởng Trong lúc vua phân vân về cách xử lý, ông đã hỏi Tể tướng Đỗ Khắc Chung, người đã khuyên rằng: “bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó…”.

Sử cũ cho rằng chính vì câu này mà Trần Quốc

Trong bối cảnh chính trị hiện đại, việc đồng tình với hình phạt tử hình cho một nhóm người bị kết án thể hiện thái độ quyết liệt và rõ ràng Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề này từ góc độ khách quan để hiểu sâu hơn về những tác động và hệ lụy của nó.

72 ràng để bảo vệ Vương Triều nhà Trần của một trung thần!!!

Đền thờ Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn (đền Thượng)

Mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều về dòng dõi và thân thế, tài liệu đáng tin cậy cho thấy Tả Tướng quốc triều hậu Lê Trần Nguyên Hãn có nguồn gốc rõ ràng khi được đối chiếu với thời gian và độ tuổi của những người liên quan.

84 là cháu nội 6 quan Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán và là con cô con cậu với Anh hùng dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi

Thân phụ Trần Nguyên Hãn là ông Trần Án, con một bà thiếp của quan Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán

Cuối thế kỷ XIV, triều đại nhà Trần suy yếu, trong khi Hồ Quý Ly ngày càng lộng quyền và bộc lộ rõ ràng ý định chiếm đoạt ngai vàng để thành lập một triều đại phong kiến mới Nhận thấy không thể ngăn chặn được điều này, các thế lực khác trong triều đình đã bắt đầu lo lắng về sự chuyển biến của tình hình.

Trần Nguyên Đán, mặc dù là quan đầu triều và thuộc dòng dõi Hoàng tộc, vẫn xin cáo quan để về sống tại Chí Linh, Hải Dương Để phòng ngừa những tình huống xấu khi nhà Hồ tiếm quyền, ông đã cẩn thận thu xếp công việc và phân tán các con theo một phương án an toàn nhất có thể Con trai Trần Án cùng vợ cũng được sắp xếp trong kế hoạch này.

Lê Thị Hoàn được đưa về sinh sống tại xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, thuộc phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây.

Trần Nguyên Hãn sinh năm 1390 tại trang Sơn Đông và lớn lên trong bối cảnh đất nước đầy biến động Vào năm 1400, Hồ Quý Ly đã lộng hành, chiếm đoạt ngôi vị của nhà Trần.

6 C ũng có tài liệu nói Trần Nguyên Hãn là cháu bốn đời quan Đại Tư Đồ

Tr ần Nguyên Đán, nhưng theo những nghiên cứu của chúng tôi thì Tr ần Nguyên Hãn gọi Trần Nguyên Đán là ông nội thì đúng hơn

Nhà Minh đã lợi dụng cớ “phò Trần diệt Hồ” để xâm lược nước ta vào năm 1406, khi mà nhà Hồ chưa kịp thực hiện các cải cách xã hội cần thiết Mặc dù Hồ Quý Ly có nhiều ý tưởng tiến bộ, nhưng do thiếu thời gian và sự ủng hộ của nhân dân, nhà Hồ đã nhanh chóng bị diệt vong Cha con Hồ Quý Ly bị bắt, dẫn đến việc đất nước chính thức rơi vào tay nhà Minh, mở ra một chương mới đầy bi tráng trong lịch sử dân tộc.

Mồ côi cha từ nhỏ, Trần Nguyên Hãn được mẹ nuôi dưỡng chu đáo và tìm cho con những thầy giỏi Sơn Đông, nơi Hãn sinh ra, nổi tiếng với đội ngũ trí thức đông đảo và kinh tế phát triển, đặc biệt là làng Gốm Dù mất cha sớm, Hãn may mắn có gia đình quý tộc và quê hương giàu truyền thống văn hiến, tạo điều kiện cho sự phát triển giáo dục tốt nhất.

Trần Nguyên Hãn học tập, rèn giũa ý chí, nuôi dưỡng ước mơ, hình thành nhân cách của bậc vĩ nhân sau này

Trước khi bước vào tuổi trưởng thành, Trần Nguyên Hãn đã hỗ trợ mẹ trong việc ép dầu và bán dầu để kiếm sống, trong khi dành phần lớn thời gian còn lại cho việc đọc sách và rèn luyện võ nghệ Những hoạt động này đã hình thành nền tảng vững chắc cho ông trong giai đoạn thanh xuân.

Trần Nguyên Hãn là một nhân vật kiệt xuất, thông thạo Tứ thư, Ngũ kinh, có kiến thức sâu rộng về thiên văn, địa lý, và binh pháp, đồng thời sở hữu võ nghệ cao cường Ông căm thù giặc Minh và đã tập hợp hơn 200 dân binh tại rừng Thần (nay thuộc xã Văn Quán, huyện Lập Thạch) và ao Tó để luyện quân Vào khoảng năm 1414, ông cùng các nghĩa quân Lập Thạch đã tiến công thành Bạch, thể hiện tinh thần yêu nước và khả năng lãnh đạo xuất sắc.

Hạc, giết chết viên quan cai trị của nhà Minh, khiến quân Minh trong vùng phải khiếp sợ

Hiện ở xã Sơn Đông, bên cạnh chính sử vẫn còn rất nhiều huyền thoại lưu truyền kể về thời trai trẻ của

Trần Nguyên Hãn là một nhân vật nổi bật với nhiều câu chuyện thể hiện phẩm hạnh và tài năng của ông Ông đi bán dầu qua sông Phó Đáy, được người đánh cá tặng gươm báu; cứu một cô gái chết trôi sông, người sau đó đã chôn cất và trả ơn ông; giúp đỡ thần nhân, và được tặng áo “tàng hình” miễn nhiễm với đạn; gặp bà chúa Lối trên đường đi nhận đất Tất cả các câu chuyện này đều khẳng định Trần Nguyên Hãn là người nhân nghĩa, có tài văn võ toàn diện, và có khả năng lãnh đạo đất nước, giúp đời.

Sau này, vua Lê Thánh Tông, vị vua sáng của Triều

Lê đã nhận xét về Ông một cách ngắn gọn nhưng sâu sắc: “…Hãn là người hữu học thức, tinh binh pháp…” Nhờ vào tri thức của mình, Ông hiểu rằng cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cần sự đồng lòng của toàn dân, đồng thời phải có đủ Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa Ông cũng nhận thức rõ vai trò lãnh đạo của nhà.

Sau khi triều đại Trần sụp đổ, miền Bắc Việt Nam chứng kiến nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của nhà Minh Trong số đó, có hai cuộc khởi nghĩa nổi bật do các tôn thất nhà Trần lãnh đạo: Trần Ngỗi tự xưng là Giản Định đế và Trần Quý Khoáng tự xưng là Trùng Quang đế Tuy nhiên, Trần Nguyên Hãn, dù là dòng dõi tôn thất, đã từ bỏ lợi ích cá nhân để cùng Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa phò Lê Lợi vào năm 1416 Hành động này không chỉ thể hiện tầm nhìn vĩ đại mà còn bộc lộ nhân cách cao đẹp của Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi, những người đã đặt lợi ích quốc gia và dân tộc lên hàng đầu.

Nhờ hữu học thức tinh binh pháp, từ khi theo Lê

Lợi, Trần Nguyên Hãn đã đề xuất với vua Lê nhiều kế

Sau những năm tháng gian khổ của cuộc khởi nghĩa, để mở rộng địa bàn hoạt động và đối phó với thế giặc mạnh, Ông đã đề xuất nghĩa quân tiến đánh thành Nghệ An Nhân cơ hội thắng lợi năm 1425, ông triển khai chiến dịch giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa, mở rộng từ Quảng Bình đến tận cuối miền.

Thừa Thiên-Huế ngày nay)

Năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn dưới sự chỉ huy của Lê Lợi đã tiến công thành Đông Quan (Hà Nội hiện nay) với sự tham gia của Trần Nguyên Hãn, người được giao chỉ huy hơn 100 chiến thuyền từ sông Đà xuống sông Hồng để vây hãm thành Hành động này đã cắt đứt đường liên lạc của quân địch, khiến tướng Vương Thông phải rút quân vào thành để cố thủ Sau chiến dịch này, Trần Nguyên Hãn được phong chức Thái Úy, đứng đầu các quan võ.

Khi biết tin Vương Thông đang gặp nguy hiểm tại thành Đông Quan, triều đình nhà Minh đã nhanh chóng cử hai đại tướng Liễu Thăng và Mộc Thạnh dẫn quân đến cứu viện Liễu Thăng dự định di chuyển theo đường bộ qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn) để tiến vào đất Việt và hội quân với lực lượng lớn quân Minh tại thành Xương Giang (nay thuộc tỉnh Bắc Giang) Để tránh bị kẹp giữa hai lực lượng, Lê Lợi buộc phải cử nhiều tướng tài như Lê Sát và Nguyễn Lý tập trung binh lực để đối phó.

Chùa Am (Vĩnh Phúc tự)

Chùa Am, hay còn gọi là Vĩnh Phúc tự, tọa lạc trên gò đất cao ở phía đông làng Vào mùa nước nổi, gò đất này hiện lên như một đóa hoa sen nổi trên mặt nước, với những thửa ruộng được canh tác tầng tầng lớp lớp, tạo nên hình ảnh giống như cánh sen Đường từ cổng phía đông của làng dẫn ra khu vực này, mang lại vẻ đẹp thanh bình cho cảnh quan xung quanh.

105 chùa dài khoảng 300 mét như cuống của một đóa sen trông rất cân đối và rất đẹp

Tên gọi "gò Am" và "chùa Am" vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời giải thích rõ ràng Theo truyền thuyết từ thế kỷ XIV, Tổ thứ hai của trường phái Thiền tông Trúc Lâm, Pháp Loa, đã đi khắp nơi để truyền bá đạo Phật Khi đi qua làng Gốm, Ngài thấy địa hình gò đẹp và đã cho xây dựng một Am nhỏ bằng tre nứa để thờ Phật Qua thời gian, Am thờ Phật này đã được mở rộng và xây dựng lại thành chùa, nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi "Am" như thuở ban đầu Mặc dù chưa có tài liệu xác thực nào ghi nhận điều này, truyền thuyết này vẫn gắn liền với lịch sử của chùa và được người dân làng Gốm công nhận.

Chùa đã trải qua nhiều giai đoạn mở rộng, bổ sung và trùng tu để trở thành một công trình lớn và nguy nga như hiện nay Theo thông tin từ bia đá Hương chúc bảo đài do cụ Vũ Doãn Chất, người làng Gốm, soạn thảo, các hạng mục cơ bản của chùa có thể được xây dựng trong khoảng 15 năm, bắt đầu từ năm Bính Tý.

Từ năm 1696 đến năm Canh Dần (1710), ba tòa chính hình chữ "Tam" đã được xây dựng và tồn tại đến nay Nhà Tiền tế, nằm ở cổng vào đầu tiên, có chức năng chính là sửa soạn và chuẩn bị lễ vật Tuy nhiên, theo thời gian và sự tàn phá của nước lũ, nhà Tiền tế đã bị hư hỏng nặng.

Nhà Đại bái, được xây dựng vào đầu những năm 2000, hiện chỉ còn lại dấu tích chân cột, nhưng vẫn thể hiện rõ kiến trúc triều Lê với thiết kế đồ sộ, bao gồm 5 gian hai dĩ và hai tầng mái thông gió, cùng các đầu đao được đắp rồng phượng tinh xảo Bên trong, gian chính giữa có hương án thờ Phật với tượng Phật ngàn tay ngàn mắt, và bức Hoành phi ghi chữ "Vĩnh Phúc Tự" Hai gian bên có tượng Hộ Pháp lớn, một ông mặt đỏ dữ tợn và một ông mặt trắng hiền từ, cùng với ban thờ Đức Ông và Đức Thánh Hiền Mô thức bố trí này phản ánh thói quen vào chùa, thường bắt đầu từ cửa bên phải qua ban Đức Ông Các bức tượng từng là những tác phẩm điêu khắc tuyệt hảo, nhưng đã bị ảnh hưởng bởi thời gian và lũ lụt lớn.

Vào các năm 1968 và 1971, chùa Am đã bị ngập nước đến gần chấm mái, khiến cho các bức tượng đất bị hư hỏng do ngâm nước lâu ngày Nhờ sự đóng góp của Phật tử và nỗ lực của Sư trụ trì, các pho tượng đã được phục hồi vào đầu thế kỷ XXI, tuy nhiên, nghệ thuật đắp tượng không còn giữ được chất lượng như trước đây.

Giáp tường hai dĩ có hai bia đá quan trọng, trong đó bia được lập vào tháng 1/1710 ghi nhận “Cổ tích danh lam Vĩnh Phúc tự”, ca ngợi ngôi chùa là một danh lam quy mô, xứng đáng với sự thịnh vượng của làng Gốm Bia thứ hai, mang tên “Quan tử thôn, Vĩnh Phúc tự công đức kỷ niệm hậu bia”, do Tiến sỹ Ngô Đức Kế soạn năm 1926, ghi nhận công đức của những người có đóng góp lớn trong việc xây dựng chùa, nhưng không chỉ rõ thời gian cụ thể Đặc biệt, bia cũng nhắc đến hai bà Hậu, Tạ thị hiệu là Diệu.

Diễm và Trần thị, được biết đến với tên gọi Diệu Phú, có thể đã sống vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX Nếu đúng như vậy, hai bà có thể đã góp phần tài trợ cho việc xây dựng Tam Quan và đúc chuông khánh.

Nhà Đại Bái có kiến trúc rộng lớn với hai tòa chính điện và hậu cung, được ngăn cách bởi một sân nhỏ Tòa hậu cung cao hơn tòa chính điện khoảng 40 phân Vào những năm 60 của thế kỷ XX, tòa chính điện đầu có ban thờ và tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế, cùng với các vị thánh và tượng Phật Bà nghìn tay nghìn mắt.

Thích Ca khi mới ra đời được đặt giữa hai hàng La Hán, mỗi tượng là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo Đặc biệt, tượng Lã Vọng (Tuyết Sơn) trong hàng La Hán đã được nhiều thế hệ đánh giá là một tuyệt tác nghệ thuật Ngoài tượng Thích Ca bằng đồng đen, hầu hết các tượng Phật còn lại được tạc bằng gỗ, thể hiện sự đa dạng trong nghệ thuật điêu khắc.

La hán, tượng thánh còn lại đều có nguyên liệu chính là đất sét

Sau tòa Chính điện, hậu cung có hai động lớn với nhiều "hốc" nhỏ, mỗi hốc từng chứa một pho tượng Phật Đặc biệt, có một tượng mãng xà lớn nằm trên nóc động Tổng số tượng Phật tại chùa Am trước đây ước tính khoảng 300-400 pho.

Trong những năm qua, nhiều pho tượng quý tại chùa đã bị đạo chích lấy đi, trong đó nổi bật là tượng Thích Ca bằng đồng đen mất từ những năm 70 Lần mất gần đây nhất diễn ra vào tháng 3/2018, khi các đạo chích đã đánh cắp những pho tượng cổ bằng gỗ cuối cùng Các trận lụt lớn vào năm 1968 và 1971 đã khiến nhiều bức tượng bị ngập nước và hư hỏng Sau năm 2005, động và tượng đã được phục dựng nhờ nỗ lực của sư trụ trì và Phật tử, nhưng nghệ thuật đắp tượng đất hiện nay không còn đạt được chất lượng như trước, gây khó khăn trong việc sắp xếp vị trí các tượng.

Các pho tượng tại đây đã trải qua nhiều thay đổi theo ý kiến chủ quan của người dân Đặc biệt, bên cạnh chùa, phía bên trái khi tiến vào còn có nhà thờ Mẫu, tạo nên một không gian tâm linh phong phú và đa dạng.

Năm 2005, nhà thờ Mẫu được di dời ra phía sau chùa, thể hiện rõ quan niệm “Tam giáo đồng nguyên” của người xưa trong quá trình tiếp biến văn hóa Việc bố trí tượng và ban thờ Phật, Ngọc Hoàng Thượng đế, Mẫu, cùng với tượng Thị Kính tại Vĩnh Phúc Tự cho thấy sự giao thoa văn hóa và tín ngưỡng phong phú của cộng đồng.

Dưới triều Lê, cổng chùa chỉ cách nhà Đại Bái một khoảng sân hẹp Mặc dù dấu tích của cổng chính đã không còn, nhưng hai cổng phụ vẫn tồn tại, mở ra vườn ở phần sân trên của chùa.

Tam quan hiện nay của chùa được xây vào năm

1820 Đây có lẽ là hạng mục xây dựng cuối cùng và còn nguyên vẹn cho đến ngày nay! Tam quan bao gồm

Đình làng (đình Bác cổ)

Đình làng Gốm, được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII và hoàn thành vào năm Giáp Thân (1704), ban đầu mang tên đình làng Gốm Năm 1938, sau khi được công nhận là một tuyệt tác kiến trúc thời Lê bởi nhà Viễn Đông Bác Cổ Pháp, đình được đổi tên thành đình Bác Cổ Đình không chỉ là nơi thờ cúng các vị thần bảo hộ cho làng, mà còn là một thiết chế văn hóa quan trọng, nơi làm việc của bộ máy chính quyền, nơi hội họp và tiếp đón khách Đình làng Gốm nằm ở vị trí trung tâm của làng, xung quanh có ao và doi đất tạo thành hình chữ “Minh”, thể hiện sự hài hòa với không gian xung quanh.

Nhà Viễn Đông Bác cổ là một tổ chức có chức năng điều tra, hướng dẫn và quản lý các di tích lịch sử văn hóa, đồng thời lưu giữ và trưng bày cổ vật, tương tự như một viện bảo tàng hiện đại.

9 Xem mục 12, Chương này : Hồ ao và hệ thống thoát nước của làng

113 và hướng đình này mà người dân nơi đây thông minh sáng láng hơn người!

Đình làng Gốm, mặc dù không phải là đình làng cổ nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng, nhưng nổi bật với quy mô lớn và chất liệu chủ yếu từ gỗ quý Cột gỗ lim, được vận chuyển từ Tuyên Quang và Yên Bái qua sông Lô, sông Hồng, tạo nên sự đặc sắc cho đình Sự giàu có của dân làng cũng góp phần quan trọng vào khả năng huy động đóng góp xây dựng đình Xung quanh đình được bao bọc bởi tường cao làm từ gạch Bát Tràng có kích thước 40cm x 40cm x 6cm, thể hiện sự kiên cố và tinh tế trong kiến trúc.

60 của thế kỷ trước bức tường này vẫn còn hình hài, có chỗ cao đến ngực

Ngoài các kỹ thuật ghép mộng khéo léo, chắc chắn, điều đáng quý là nghệ thuật kiến trúc trong đình

Hình tượng rồng phượng trên nóc đình, cùng với các đầu đao, kẻ, bẩy, thể hiện sự tinh tế trong kiến trúc Đặc biệt, bức phù điêu "Bách nghệ tranh tài" phía trước Hậu cung, với hình ảnh một trăm con Thạch Sùng ở những tư thế khác nhau, phản ánh triết lý sống đa dạng và đáng trân trọng của làng Đây có thể là lý do chính khiến người Pháp, qua nhà Viễn Đông Bác cổ, công nhận giá trị của đình làng.

Gốm là mẫu hình tiêu biểu cho kiến trúc đình đồng bằng Bắc bộ cần được bảo vệ chăng?

Vào đầu thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một nhóm du kích trẻ ở làng Gốm đã thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến bằng cách đốt đình làng, dẫn đến việc ngôi đình sập hoàn toàn sau một ngày đêm Hành động này để lại trong lòng người dân sự nuối tiếc lớn, kéo dài suốt mấy chục năm sau.

Trước chiến tranh chống Pháp, nhiều người làng

Gốm xác nhận đã nhìn thấy bức ảnh đình Làng Gốm tại phòng trưng bày của nhà Viễn Đông Bác cổ, nhưng sau khi hòa bình, bức ảnh này đã không còn tồn tại Vào đầu những năm 2000, tác giả đã yêu cầu Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, tên gọi mới của nhà Viễn Đông Bác cổ, tìm kiếm kỹ trong kho lưu trữ, nhưng không tìm thấy bức ảnh.

Dấu tích duy nhất còn lại của đình cổ là hai trụ cổng, từng dẫn vào một khuôn viên cây xanh Hai bên trục thần đạo được lát gạch từ cổng vào, có hai hồ nước nhỏ trồng sen hình vuông, kè bằng gạch Qua một khoảng sân rộng, ba tòa đình được xếp theo hình chữ “Tam” tạo nên một không gian kiến trúc đặc sắc.

Hạ đình và tiền đình là hai tòa nhà có chiều cao tương đương nhau, với khoảng cách giữa chúng chỉ khoảng 0,35m Mái sau của tòa thứ nhất và mái trước của tòa thứ hai được thiết kế chung một máng nước Hai tòa đầu đều có chiều cao thấp hơn tòa thứ hai khoảng 0,35m.

Tòa đình chính (thượng đình) có 5 gian, bốn hàng chân đều bằng gỗ lim và xung quanh để trống Tòa thứ hai cách tòa đình chính bằng một sân nhỏ rộng khoảng 3,0m, từ sân lên thượng đình là bậc tam cấp cao khoảng 35cm Đình chính dài và rộng hơn, với gian giữa rộng hơn các gian bên, được lát bằng gạch bát tràng cổ Hậu cung có hương án thờ, ngăn cách với gian giữa bằng cửa bức bàn thượng song hạ bản Bốn gian bên và hai dĩ được làm sàn gỗ cao hơn mặt nền đình, với hai cấp độ khác nhau, cao từ khoảng 0,50m đến 0,70m so với nền đình, tính từ gian giữa ra Xung quanh hậu cung cùng 5 gian hai dĩ của thượng đình được bưng bằng gỗ kín.

Trước năm 1946, cấu trúc và chức năng của Thượng đình và Hậu cung khác biệt so với hiện tại Trong Hậu cung, chỉ có ban thờ với bát hương lớn để thờ chung các vị thần, không có Ngai và Bài vị thờ các vị Thành hoàng làng như Đỗ Khắc Chung.

Trần Nguyên Hãn hiện nay có thể được hiểu là do làng đã quan niệm rằng hai Nhân thần có đền thờ riêng Hai bên ban thờ là hai con hạc bằng gỗ cao khoảng 2,50 mét đứng chầu Trước ban thờ có hai hòm lớn, mỗi hòm chứa một cỗ kiệu.

Thập lục cống để rước bài vị Thành hoàng Đỗ Khắc Chung và một kiệu Bát cống để rước bài vị Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn

Hậu cung của đình chỉ mở vào các ngày lễ lớn như Tết Nguyên Đán, lễ Kỳ An (15/4 âm lịch), ngày tiệc làng (4/10 âm lịch), và lễ sinh thần tại miếu Thành hoàng và đền Thượng Trong những ngày này, kiệu Thành hoàng được dân làng long trọng rước từ đình lên miếu thờ Thành hoàng Đỗ Khắc Chung hoặc lên đền Thượng, nơi thờ Tả tướng quốc.

Trước cách mạng tháng 8/1945, thượng đình chủ yếu là nơi hội họp và làm việc của các quan viên trong làng như hội đồng Kỳ Lão, Kỳ Dịch và Kỳ Hào Đây cũng là nơi tiếp đón khách cấp trên về làng, với sàn gỗ được bố trí theo thứ bậc cao thấp Hai tòa tiền đình và trung đình được xây dựng thấp hơn, phục vụ cho các hoạt động giao dịch và hội họp của dân làng, bao gồm thu thuế, phổ biến chính sách của chính quyền, bàn bạc hương ước và tổ chức các hoạt động văn hóa như xem hát và trò chơi.

Trong nạn đói năm 1945, đình làng Gốm trở thành địa điểm phát chẩn bần nổi tiếng, với sân đình liên tục nấu cháo từ gạo muối quyên góp của những nhà giàu trong làng Nhiều người đói khát từ Thái Bình, Nam Định, và Hà Nội đã kéo về đây với hy vọng vượt qua cơn bĩ cực Đồng thời, sân đình cũng là nơi cán bộ Việt Minh phát động tuần lễ vàng ủng hộ chính phủ lâm thời, theo thống kê, sự kiện này đã thu hút sự tham gia đông đảo của người dân.

117 người dân làng Gốm đã ủng hộ chính phủ hơn 20kg vàng cùng nhiều tiền bạc, công trái và lương thực Những câu ca vận động quyên góp như "Đeo vàng chỉ tổ nặng tai, đeo kiềng nặng cổ hỡi ai đeo kiềng" vẫn được các cụ già làng Gốm nhớ đến cho đến hôm nay.

Văn chỉ làng Quan Tử

Trong hệ thống đền miếu thờ các vị tiên hiền và danh nho ở Việt Nam, các tỉnh có truyền thống Văn hiến thường có Văn Miếu thờ Khổng Tử và các Tiến sỹ Nho học tiêu biểu Ở cấp huyện và xã, nơi có truyền thống khoa cử, thường có Văn Chỉ để thờ Khổng Tử và các vị Tiên hiền địa phương Mô hình Văn Chỉ có sự khác biệt tùy theo từng địa phương; nơi có điều kiện xây dựng sẽ có nhà thờ và hương án thờ Khổng Tử cùng các bậc Tiên hiền, và lập bia khắc tên những người đỗ đạt Một số nơi chỉ ghi danh những người đỗ Đại khoa, trong khi những nơi khác ghi danh cả những người đỗ Trung khoa và Tiểu khoa Ở những nơi không đủ điều kiện, chỉ lập bát hương để thờ.

119 bia đá ghi danh người đỗ đạt đặt trên bệ cao ở ngoài trời Mục đích chính của việc lập Văn Chỉ là để tôn vinh những người đỗ đạt, qua đó cũng để tôn vinh sự học, động viên người đang sống, con cháu noi gương cha ông gắng công học hành

Văn Chỉ làng Quan Tử xưa tọa lạc tại xóm Đồng, gần cổng Cái Trong không gian của Văn Chỉ, ngoài ban thờ Khổng Tử và các vị Túc nho, còn có văn bia ghi danh 12 vị Tiến sỹ của làng theo thứ tự từng khoa thi Mặc dù không có tài liệu cụ thể về thời điểm xây dựng, nhưng có thể khẳng định rằng Văn Chỉ không ra đời trước thế kỷ XVII Đến năm 1940, nhà Văn

Chỉ đã dột nát, làng cũng bí tiền sửa chữa nâng cấp

Vào thời điểm đó, huyện lỵ Lập Thạch đã chuyển về xã Triệu Đề, trong khi Văn Chỉ cũng được quyết định xây dựng tại xã Văn Quán Cụ Cử nhân Hoàng Mậu Lâm, người có học vị cao nhất trong làng và từng hoạt động chống Pháp, đã bị quản thúc tại làng Dân làng đã bầu cụ làm Tiên chỉ để đề xuất việc rước bia Tiến sỹ về miếu Quan Tử, nhằm phối thờ cùng Thầy là Thành hoàng Đỗ.

Khắc Chung đã hiến đồ thờ cho Văn Chỉ Văn Quán, trong khi gạch ngói và cột kèo gỗ được bán cho xóm Đông để xây Điếm Số tiền thu được từ việc bán này đã được đưa vào công quỹ của làng, dẫn đến việc Văn Chỉ làng Quan Tử không còn tồn tại Những năm sau đó, chiến tranh chống Pháp và chính sách tiêu thổ kháng chiến đã gây ảnh hưởng lớn đến khu đất Văn Chỉ cùng với các hộ dân xung quanh.

120 biến thành một vườn tre lớn rậm rạp, hoang vắng, người làng vẫn quen goị lũy tre xóm Đồng.

Các đền miếu thờ khác

Miếu Đông Hồ là một di tích quan trọng trong cụm đền thờ Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn, nằm ở xã Sơn Đông, cách đền Thượng khoảng 300m Miếu được đặt tên Đông Hồ do vị trí của nó nằm ngay trên bến nước bờ sông Lô, được gọi là bến Đông Hồ.

Miếu Đông Hồ hiện chưa có tài liệu nào ghi chép cụ thể về thời gian xây dựng và đối tượng thờ cúng Theo truyền thuyết từ dòng họ Trần ở xã Sơn Đông, sau khi Trần Nguyên Hãn qua đời, vào mỗi buổi chiều tối, người dân thường thấy một thanh niên ăn mặc giống ngư dân xuất hiện bên bến sông, thắp hương trên một mô đất nhỏ và lầm rầm khấn vái.

Chàng trai thắp hương khấn Thủy thần cầu xin phù hộ cho việc đánh cá Không lâu sau, tại vị trí anh thắp hương, một am thờ nhỏ đã được dựng lên.

Dần dần người đời sau xây dựng nên ngôi miếu to rộng hơn nhưng vẫn truyền tai nhau đây là miếu thờ Thủy thần!

Theo bản đồ địa chính năm 1936, miếu Đông Hồ thuộc làng Phú Thị (còn gọi là Gốm ngoài) quản lý Mặc dù không có nhiều hạng mục xây dựng, miếu thờ vẫn có quy mô đáng chú ý.

Miếu có kích thước khá lớn, hướng nhìn thẳng ra sông Lô, tương tự như hướng của đền Trần Nguyên Hãn ban đầu Công trình bao gồm cổng Tam Quan, chính điện và hậu cung, cho thấy mặt bằng kiến trúc giống như đền thờ Trần Nguyên Hãn.

Vào những năm 60 của thế kỷ 20, phong trào "chống mê tín, dị đoan" đã dẫn đến việc nhiều công trình đền chùa bị phá hủy, trong đó có miếu Đông Hồ bị dỡ lấy gạch ngói xây trụ sở Hợp tác xã Tuy nhiên, miếu Đông Hồ vẫn tồn tại nguyên trạng suốt hơn 50 năm qua mà không bị xâm hại Theo lời kể của các cụ già thôn Đa Cai, người dân trong làng có thể trồng cấy hoa màu nhưng tuyệt đối không ai dám sử dụng phân chuồng hay các chất sú uế trên đất miếu.

Trước cách mạng tháng 8/1945, miếu Đông Hồ đã kết hợp nhiều nguồn thông tin và truyền thuyết, gắn liền với các hình thức cúng tế và lễ hội Các sắc phong và bài vị thờ Thành hoàng tại đình Phú Thị thời phong kiến, cùng với các tài liệu tin cậy khác, đặc biệt là ba cứ liệu quan trọng, đã tạo nên bức tranh phong phú về văn hóa và tín ngưỡng tại khu vực này.

- Bản đồ địa chính thời Pháp lập năm 1936 vẽ rất rõ sơ đồ miếu Đông Hồ và chú thích: Pogoda de Phú

Báo cáo Thần tích năm 1938 về Hương Lý làng Quan Tử xác nhận rằng làng Phú Thị thờ Thành hoàng Đức Trần Nguyên Hãn.

- Trong lễ giỗ Thành hoàng, dân làng Phú Thị rước kiệu Trần Nguyên Hãn từ đình làng lên thuyền ngược sông Lô lên cúng tại miếu Đông Hồ

Miếu Đông Hồ là nơi đầu tiên thờ Trần Nguyên Hãn cùng các gia thần và những người nội thủ đã hy sinh theo Ngài.

Trong vụ án oan năm Kỷ Dậu (1429), Trần Nguyên Hãn đã chấp nhận để quan quân Triều đình bắt giải về kinh Khi đoàn thuyền đi qua con lạch từ áo Tó ra sông Lô và xuôi dòng khoảng 500 mét đến bến Đông Hồ, ông đã gieo mình tự vẫn Nhiều gia thần trung thành cũng đã tuẫn tiết theo ông.

Người dân địa phương thương xót và tôn kính Ngài, mặc dù lệnh của Vua không thể chống lại Họ đã lập miếu thờ Ngài và các gia thần ngay tại nơi Ngài trầm mình, tạo nên một nơi thờ cúng chung để tưởng nhớ và tri ân người anh hùng.

Tiền thân của miếu Đông Hồ chắc chắn được lập trước đền Thượng hiện nay, có thể còn trước cả khi Trần Nguyên Hãn được Lê Nhân Tông minh oan vào năm 1455 Với những chứng cứ rõ ràng và suy luận hợp lý, miếu Đông Hồ là nơi chứng kiến phút lâm chung của Trần Nguyên Hãn Do đó, miếu cần được công nhận là một hạng mục quan trọng trong cụm di tích đền thờ Tả Tướng quốc.

Đền Lập Đức, tọa lạc tại xóm Đồng bên trái con đường chính từ cổng Cái ra bến Đình, gần ngã ba trường Tiểu học, là nơi thờ đức Trần Hưng Đạo Đền nằm trên khu đất cao, hướng Đông-Nam, tạo nên một không gian trang nghiêm và linh thiêng, xứng tầm với khu di tích tưởng niệm danh nhân lớn của đất nước.

Đất Sơn Đông có thể không trực tiếp ghi dấu ấn trong hoạt động của Trần Hưng Đạo, khi ông còn là tướng trẻ dưới quyền Thái sư Trần Thủ Độ trong cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất Trong các cuộc kháng chiến lần thứ hai và thứ ba, ông chủ yếu hoạt động từ Thăng Long đến đồng bằng ven biển Tuy nhiên, sự tồn tại của đền thờ Trần Hưng Đạo tại một làng nhỏ ven sông phản ánh vai trò và tầm ảnh hưởng lớn lao của Ngài trong lịch sử dân tộc, cũng như thái độ kính trọng của người dân đối với các anh hùng dân tộc.

Đền Lập Đức đã bị phá dỡ trong kháng chiến chống Pháp do chính sách tiêu thổ kháng chiến Đền Mẫu, nằm bên phải cổng Đè và nhìn về hướng bắc, thờ chúa Mẫu Liễu Hạnh cùng Tam tòa Thánh Mẫu.

Với biết bao người Việt, Mẫu Liễu vừa là người thật

Nhà thờ họ

Trong một làng cổ từ thời Hùng Vương, với vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu, sự phát triển và biến đổi của các cộng đồng người và dòng tộc là điều tất yếu và phức tạp.

Trước cách mạng tháng 8/1945, làng Gốm có dân số đông đúc nhất với khoảng 20 dòng họ lớn nhỏ Một số dòng họ như Nguyễn, Trần, Vũ đã định cư lâu dài tại đây từ 300 đến 400 năm, thậm chí lên đến cả nghìn năm.

Lê, họ Hoàng… Một số họ đến sau (khoảng 100-200 năm nhưng cũng kịp để lại dấu ấn ở làng khá rõ như họ

Trịnh, họ Quách, họ Đặng, họ Tạ…Cũng có nhiều

127 trường hợp đồng tộc nhưng không đồng tông, như có tới 3 họ Nguyễn, 2 họ Trần…

Cũng giống như bao làng quê Việt ở đồng bằng

Bắc bộ, các dòng họ lớn, định cư lâu dài ở làng Quan

Tử đều có nhà thờ họ, nhưng do trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, nhiều nhà thờ đã bị phá hủy và không còn giữ được gốc tích ban đầu Các biến cố lớn như cuộc kháng chiến chống Nguyên thế kỷ XIII, chiến tranh chống giặc Minh thế kỷ XV, và cuộc khởi nghĩa nông dân Nguyễn Tri Phương giữa thế kỷ XVIII đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn tại của các nhà thờ Đặc biệt, những biến động sau cách mạng tháng 8/1945 đã dẫn đến việc nhiều nhà thờ bị làm lại nhiều lần, khiến cho di sản văn hóa này dần mai một.

Việc tìm hiểu về các nhà thờ họ và gia phả dòng họ cung cấp nhiều thông tin giá trị, như thời điểm xuất hiện của dòng họ tại làng, nguồn gốc của thủy tổ, quy mô phát triển và năm xây dựng nhà thờ, cũng như lối kiến trúc ban đầu Đặc biệt, nhiều dòng họ lớn ở làng

128 rằng: Chắc chắn đến đời cụ Thượng tổ thì đã có một dòng họ lớn định cư ở làng!

Dưới đây là một số nhà thờ họ tiêu biểu:

Nhà thờ họ Lê: Nằm ở xóm Dầu, nhìn về hướng bắc, phía trước là đầm và ao lớn dân làng quen gọi là

Hốp nứa là một nhà thờ cổ nhất còn tồn tại ở làng Gốm, với vị trí đặc biệt hình long ngai, yên tĩnh và cảnh quan đẹp Nhà thờ vẫn giữ nguyên được vị trí ban đầu, cho thấy giá trị văn hóa và lịch sử của nó Khởi đầu, nhà thờ có thể đã là một miếu thờ.

Tiến sỹ Lê Đức Toản (1452-1509), một danh sỹ triều

Lê là một biểu tượng trung nghĩa được ca ngợi bởi nhà vua và nhân dân Dòng họ Lê ở làng thống nhất đã phối thờ Thủy tổ cùng hai vị danh nhân khác.

Nhà thờ họ Lê ở làng, do Tiến sỹ Lê Thúc Chẩn và Lê Khiết xây dựng, là di sản kiến trúc độc đáo còn sót lại sau nhiều lần trùng tu Đây là nhà thờ duy nhất giữ được một số nét kiến trúc và hiện vật có tuổi đời gần 500 năm, phản ánh giá trị văn hóa và lịch sử của địa phương.

Gia đình Lê thờ cúng thủy tổ Lê Đức Quyến cùng ba vị Tiến sĩ Nho học: Lê Thúc Chẩn, Lê Đức Toản và Lê Khiết, được đặt ở hai bên tả hữu Trong nhà thờ, có nhiều hiện vật quý giá, đặc biệt là các đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn dành cho Tiến sĩ Đô Ngự sử Lê Đức Toản.

Cuối thế kỷ XVI, Tiến sỹ, thượng thư bộ Công là

Hà Nhậm Đại, một người đến từ xã Như Thụy, huyện Lập Thạch, đã đến thăm nhà thờ họ Lê và để lại di bút là một bài thơ cùng đôi câu đối ca ngợi Lê Đức Toản.

129 dòng họ đã sản sinh ra ba Tiến sỹ Hán học 10 là ba chú cháu Nhà thờ họ Lê được xếp hạng di tích văn hóa cấp tỉnh năm 2007.

Nhà thờ họ Vũ hiện nay tọa lạc tại xóm Chòi, phía sau trường Tiểu học, nhưng không có tài liệu chính xác về vị trí ban đầu của nó Vào đầu thế kỷ XX, khu vực này là huyện đường và Học xá huyện Lập Thạch Do đất làng chật chội và thường xuyên bị ngập, huyện đường Lập Thạch cùng Học xá đã chuyển đến Triệu Đề, dẫn đến biến động lớn trong khu vực Nhà thờ họ Vũ được xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XX, nhưng đã bị phá hủy qua các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Ngôi Từ đường hiện tại được con cháu họ Vũ tái lập vào năm 1998.

Nhà thờ họ Vũ thờ Thủy tổ là cụ Vũ Doãn Tư, đỗ

Tiến sỹ năm Tân Sửu, niên hiệu Quang Hòa thứ nhất dưới triều vua Mạc Phúc Hải (1541), là vị Tiến sỹ Hán học cuối cùng của làng Ông đã phục vụ trong triều đình và có nhiều đóng góp cho nền văn hóa Hán học.

Mạc, đến chức Tả Thị lang bộ Lại, Đô đốc phủ Thị vệ Cuối đời Cụ được phong tước Sơn Đông Bá Nhà thờ còn

Nhà nghiên cứu lịch sử Lê Kim Thuyên, con cháu của Tiến sĩ Lê Đức Toản, đã bảo tồn nhiều tư liệu quý giá về ba vị Tiến sĩ họ Lê và nhà thờ họ Lê.

Nhà thờ họ Vũ lưu giữ một bia đá cổ vinh danh cụ Vũ Doãn Tư, cùng với ba bức Hoành phi Bức đầu tiên ghi “Vũ Tướng công từ”, bức thứ hai ghi “Khai tất niên”, và bức thứ ba ghi “Hợp kính đồng ái” Điều này cho thấy nhà thờ không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là nhà thờ Tướng công, phản ánh lòng tri ân của con cháu đối với tổ tiên.

Vũ Doãn Tư.Nhà thờ họ Vũ được công nhận di tích Văn hóa cấp tỉnh năm 2001

Nhà thờ họ Nguyễn là biểu tượng của dòng họ lớn nhất Việt Nam, phản ánh sự biến động lịch sử dân tộc Tại làng Gốm, dòng họ Nguyễn từng có đến 5 chi khác nhau, với những người định cư không cùng thời điểm và có tổ tiên khác nhau, dù có trường hợp đồng tộc nhưng dị tông Một số chi hệ đã có mặt tại làng từ hàng nghìn năm trước, trong đó nổi bật là chi họ sản sinh ra ba anh em ruột: Nguyễn Tộ, Nguyễn Phúc Trinh và Nguyễn Tư Phúc, đều là những vị Khoa bảng danh tiếng.

Dòng họ Nguyễn từng là dòng họ lớn nhất trong làng với hàng trăm xuất đinh, nhưng qua thời gian và những biến động lịch sử, số lượng gia đình Nguyễn hiện nay đã giảm đáng kể Hiện tại, chỉ còn lại một số ít hậu duệ của chi tộc đã định cư lâu đời nhất trong làng.

Giếng làng

Làng Gốm xưa nổi bật với ba giếng cổ chính: Giếng Trám, Giếng Đông và Giếng Chùa, bên cạnh một số giếng nhỏ Trước đây, người dân trong làng, ngoại trừ một phần ở xóm Thượng, xóm Giữa và làng Phú Thị, đã có sự gắn bó mật thiết với dòng sông.

Lô thường ngày ra gánh nước sông về để dùng trong

133 sinh hoạt, còn đa số người dân là dùng nước ở ba giếng này

Giếng Trám, nằm ở cuối xóm Đồng bên cạnh cánh đồng Hủm vạc và ao xóm Đồng, là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ xóm Đồng, ngoại trừ một số hộ giáp đồng Cồn sử dụng giếng Lũy Nước giếng Trám có nguồn gốc từ các mạch ngầm sâu dưới lòng đất, trong xanh và thơm mùi quả Trám, rất thích hợp để pha trà Đặc biệt, dù dân số xóm Đồng lên đến 600-700 người, nước giếng Trám luôn dồi dào quanh năm Với vị trí ở cực nam của làng, giếng Trám được coi là huyệt đạo quan trọng, ảnh hưởng đến truyền thống khoa bảng của người làng Gốm.

Giếng Đông, hay còn gọi là giếng Lấp, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho xóm Đông và một phần xóm Giữa Nằm cạnh bờ hồ, giếng không nhận nước từ hồ mà được cung cấp bởi các mạch ngầm dưới lòng đất Giếng Đông còn gắn liền với huyền tích đặc biệt, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí trẻ thơ.

Truyền thuyết về Thần khổng lồ đi qua làng kể rằng bước chân của người Thần đã lún sâu vào đất, tạo thành những giếng nước Hình dáng của các giếng này giống như bàn chân người, khiến cho nhiều người tin rằng chúng là dấu tích của một câu chuyện huyền bí từ trí tưởng tượng phong phú của con người.

Vào mùa nước cạn, đáy giếng hiện lên như lòng bàn chân khổng lồ, với gót chân sâu và các ngón chân nhô cao Trong mùa khô, giếng Đông không có nhiều nước như giếng Trám, khiến nhiều người dân xóm Đông phải ra giếng Chùa để lấy nước sinh hoạt.

Giếng Chùa, nằm ngay trước chùa Am, cung cấp nước sinh hoạt cho cả nhà chùa và người dân trong xóm Nhờ có mạch nước ngầm phong phú từ gò Am, nước giếng luôn đầy và mát lạnh quanh năm Gần giếng có cây Si cổ thụ lớn, tạo bóng mát, khiến nơi đây trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho người dân, đặc biệt là trẻ em chăn trâu Người qua lại thường sử dụng gầu để múc nước và thưởng thức từng ngụm nước mát trong những buổi trưa hè oi ả Trẻ em không chỉ uống nước mà còn tắm gội dưới dòng nước mát, thậm chí là hai đến ba lần mỗi ngày trong mùa hè.

Vào những năm 60 của thế kỷ trước, cây Si bên cạnh giếng do tuổi cao, thân cây mục rỗng và không được chăm sóc đã chết, khiến người dân trong làng cảm thấy tiếc nuối Nhận thấy khu vực trước chùa quá trống trải, cụ Hoàng Huy Ru và cụ Thủ Phát đã quyết định trồng mới hai cây để tạo bóng mát và làm đẹp cho không gian.

Hai cây gạo không còn ở vị trí của cây Si cũ mà được trồng hai bên Tam quan của chùa Hiện tại, hai cây gạo đã lớn và vào đầu hè, hoa gạo nở rực rỡ, tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp cho bầu trời.

Khác với những giếng làng vùng đồng bằng sông

Giếng làng Gốm, thường được xây bằng đất hoặc gạch, có lối đi bậc để người dân dễ dàng lấy nước Từ xa xưa, giếng đã được xếp đá ong xung quanh, và đến đầu thế kỷ XX, thành giếng cao khoảng 1,0m, được lát xi măng hoặc gạch tạo thành sân giếng rộng 1,5m-2,0m Người dân sử dụng gầu để múc nước và mang về nhà, hoặc có thể giặt giũ, tắm cho trẻ em ngay tại sân giếng Với đông người, giếng luôn tấp nập, đặc biệt vào buổi chiều hè, nơi nhiều chàng trai, cô gái hẹn hò, trao nhau những lời tâm sự, ánh mắt và nụ cười.

Các giếng cổ ở làng Gốm đều có chung đặc điểm:

Giếng Đông, mặc dù là giếng có lượng nước ít nhất trong làng, vẫn cung cấp nước từ các mạch nước ngầm dưới lòng đất, không bao giờ cạn, ngay cả trong mùa khô Người dân trong làng thường phải đi lấy nước vào nửa đêm, và họ vẫn phải vét nước từ giếng này, cho thấy tầm quan trọng của nguồn nước ngầm trong cuộc sống hàng ngày của họ.

136 những gầu cuối cùng thì sáng ra mạch nước đã lại cho một lượng nước mới trong vắt!

Vào những năm 60 của thế kỷ trước, phong trào tự đào giếng khơi nở trong làng, cùng với việc thanh niên Gốm rời bỏ quê hương để sinh sống tại thành phố, đã dẫn đến sự giảm dần số lượng giếng làng Khi một bộ phận lớn dân cư di cư lên phía bắc huyện Lập Thạch vào đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, các giếng không còn được sử dụng, không được nạo vét và dần dần bị bùn rác vùi lấp, trở nên hoang phế.

Kỷ niệm về sinh hoạt quanh giếng làng vẫn đọng lại trong tâm trí những người con xa xứ, đặc biệt khi họ tin rằng đây là những huyệt đạo thiêng liên quan đến vận mệnh và sự thịnh vượng của làng Vào đầu những năm 2000, những người con thành đạt đã đóng góp công sức để nạo vét lại các giếng, nhằm gìn giữ những kỷ vật chung, mặc dù hiện nay phần lớn dân làng đã chuyển sang sử dụng nước máy lọc từ sông Lô.

Cổng làng

Các làng cổ vùng đồng bằng sông Hồng thường có cổng làng, cùng với hệ thống rào dậu và đầm ao, tạo thành bức tường thành bảo vệ an ninh cho làng, đặc biệt vào ban đêm Cổng làng Gốm cổ không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn thể hiện sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại.

Cổng làng Gốm không chỉ là một công trình kiến trúc với mái vòm cao rộng, mà còn là biểu tượng văn hóa của cộng đồng Trên cổng, các chữ đại tự và câu đối được chọn lọc kỹ lưỡng bởi những người Nho học, mang trong mình triết lý sống và khát vọng của người dân Đây cũng là nơi tiễn đưa những người con của làng ra ngoài làm ăn, học hành và chào đón họ trở về sau một ngày dài.

Cổng làng, cùng với hệ thống hồ ao và những lũy tre xanh dày đặc, không chỉ bảo vệ sự bình yên cho hàng nghìn hộ dân mà còn là biểu tượng văn hóa thân thuộc, gắn bó với nhiều thế hệ người dân trong làng.

Gốm xưa là biểu tượng gắn liền với quê hương, đặc biệt là hình ảnh cổng làng vững chãi Đối với những người xa quê, cổng làng không chỉ đơn thuần là một cấu trúc mà còn là dấu hiệu của sự trở về Khi trở về sau một chặng đường dài, nhìn thấy cổng làng quen thuộc, cảm giác như đã về đến nhà, mang lại niềm vui và sự an yên trong tâm hồn.

Làng Gốm xưa có ba mặt cổng ra vào, được xây dựng cao to vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trong khi phía Tây giáp với bờ sông Lô.

Cổng Cái: Nằm ở phía đông nam của làng là cổng to nhất Tên cổng Cái có lẽ gắn với từ Hán cổ chỉ

Cổng Cái, nằm trên đường tỉnh lộ 305C, là một trong những cổng làng lớn nhất vùng đồng bằng sông Hồng, với kích thước cao rộng hiếm thấy, cho phép xe trọng tải lớn lưu thông Hai bên cổng có hai phòng nghỉ cho tuần phiên, được lát gạch và cao hơn mặt đường Cổng được thiết kế hình vòm, với bốn chữ Hán “VINH THIỀM TỦNG LOÁT” mang ý nghĩa đón tiếp người cao sang Ngoài ra, hai trụ cổng còn có đôi câu đối bằng chữ Hán, phản ánh triết lý sống của người dân trong làng: Đề hoạt bất ngu Tào Mạnh Đức.

Thiểu cao nguyện học Hán Ngu công 11

Cả hai vế đối đều nhắc đến các tích xưa của Trung

Quốc: Tào Tháo, khi thăm dinh thự mới của con trai Tào Phi, đã khuyên con nên xây dựng một cổng cao rộng tương xứng với vị thế của gia đình quyền quý Điều này phản ánh triết lý sống của người dân làng, thể hiện ý chí học hành và khát vọng vươn lên trong cuộc sống.

11 Theo nhà giáo Vũ Duy Quỳ, câu đối là của cụ Hoàng Cao Phan

Ngu Công, một nhân vật lịch sử có thật của Trung Quốc cổ đại, nổi tiếng với quyết tâm dời núi dù đã ngoài 90 tuổi Ông cùng con cháu đã nỗ lực san phẳng nhiều ngọn núi lớn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dân làng di chuyển lên phố thị Hành động kiên trì của Ngu Công không chỉ thể hiện tinh thần quyết tâm mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.

Cổng Cái đã tồn tại cho đến cuối thế kỷ XX, mặc dù đã xuống cấp nghiêm trọng với mái dột nát và cánh cổng không còn Bệ hai bên cổng cũng bị bóc đi Đến cuối những năm 90, khi nhà nước đầu tư làm đường tỉnh lộ 305C, cổng đã bị phá bỏ hoàn toàn trong nỗ lực phục hồi mô hình làng.

Gốm cổ vào những năm 2000, đã có dự án để xây lại cổng Cái

Tuy vậy, do thiết kế mới không được duyệt, dự án bị bỏ lại.

Cổng Đè nằm ở phía Bắc của làng, trên đường dẫn lên đền Thượng thờ đức Tả tướng Trần Nguyên Hãn Cổng có hình vòm, tương tự như cổng Cái nhưng kích thước nhỏ hơn và không có hai gian bên để nghỉ cho tuần phiên Từ bên ngoài nhìn vào, trên nóc cổng có bốn chữ Hán.

“BẮC MÔN KIỀM TỎA” (nghĩa là: cổng bắc như một khóa sắt ngăn mọi kẻ trộm) Bốn trụ cổng còn có hai câu đối chữ Hán:

Tháp ảnh nguyệt lung Lô mộ bạch

Hương yêu vân đậu đảo chiêu thành

Dưới trăng cổng như ngọn tháp soi bóng xuống dòng

Trong làng mây bao phủ như bức trường thành

Danh Quan Tử ấp đồn phong tại Điện tướng công từ thụy khí danh

Tiếng đồn làng Quan Tử có phong tục đẹp

Trước cổng là đền Tả Tướng đầy uy danh

Còn từ phía trong làng đi ra, trên cao có bốn chữ Hán, đọc là: “VINH THIỀM CỔ TÚNG”

Nghĩa là: trong làng có nhiều niềm kiêu hãnh

Từ trong làng ra còn có một câu đối nữa:

Cận giả duyệt viễn giả lai càn khôn tại thử

Xuất nhi tác nhập nhi tức mộ dạ vô ngu

Nghĩa là: Đứng gần thấy đẹp, đứng xa muốn đến xem trời đất thu lại tại đây

Ra khỏi cổng là đi làm, vào trong cổng là nghỉ ngơi tối đến không còn phải lo nghĩ

Cuối những năm 90, cổng đè của làng Gốm đã xuống cấp nghiêm trọng Một chiếc xe tải chở hàng nặng đã va vào trụ cổng do sự bất cẩn của lái xe, khiến cổng bị rạn nứt và có nguy cơ đổ sập Người dân trong làng đã quyên góp để sửa chữa cổng, nhưng đáng tiếc là các chữ khắc trên cổng vẫn chưa được phục hồi.

Hán (đại tự)và câu đối đã không còn được viết lại như xưa!

Cổng Chùa nằm ở phía đông bắc, trên đường ra chùa Am, có kích thước nhỏ hơn so với cổng cái và cổng Đè, nhưng vẫn đủ cho xe ô tô khách đi qua Từ phía Chùa đi vào, du khách sẽ thấy bức đại tự chữ Hán: NHÂN VI MỸ, mang ý nghĩa "Người làng trọng cái đẹp".

Hai trụ cổng có đôi câu đối:

Môn nội tứ thời xuân đôn phong mỹ tục

Diện tiền trùng sơn tự mộ cổ thần chung 13

Trong cổng bốn mùa là mùa xuân lưu giữ các phong tục đẹp;

Ngoài cổng mái chùa xếp như dãy núi đỉnh cao là chuông thần.

Cuối những năm 1990, Cổng Chùa rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Để khắc phục, ông Trần Đình Luân, một doanh nhân và con của làng, đã nhận được sự hỗ trợ từ các bô lão như ông Hoàng Khánh, Nguyễn Kim Thoa và Hoàng Minh Tuân.

12 Theo nhà giáo Vũ Duy Quỳ đây là chữ của cụ Cửu Tá

13 Cũng theo nhà giáo Vũ Duy Quỳ, câu đối là của cụ Tổng sư Hoàng Minh Thường

142 đã tài trợ để đại tu lại, từ đó có viết thêm hai đôi câu đối ở mặt trong bằng tiếng Việt:

Xưa Tiến sỹ dựng xây đất nước Nay anh hùng tôn tạo quê hương

Bến sông

Làng Gốm, nằm ở phía tây giáp sông Lô, đã từ lâu xây dựng các bến sông để thuận tiện cho việc buôn bán và sinh hoạt Địa hình cao của làng tạo nên những bến sông dốc đứng, khác biệt so với các làng quê khác ở đồng bằng sông Hồng Trước đây, các bến thường được kè bằng đá ong, nhưng trong thời kỳ Pháp thuộc, nhiều bến được xây dựng bằng xi măng với các bậc rộng dẫn từ bờ xuống lòng sông.

Từ thế kỷ XIV-XV, bến sông ở làng Gốm vào mùa hè (gọi là mùa nước lên) đã trở thành trung tâm giao thương sôi động với nhiều thuyền bè qua lại Tại đây, người dân chuyên chở hàng hóa như gạo, muối, vải vóc và đồ sứ từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội lên phía Bắc, tiếp tục vận chuyển lên Tuyên Quang, Yên Bái Ngược lại, hoa quả và lâm thổ sản từ vùng núi cũng được đưa về xuôi, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của thương mại trong khu vực này từ 400 năm trước.

500 năm trước, thuyền buôn từ Trung Quốc và Ấn Độ đã cập bến làng Gốm, biến nơi đây thành một trung tâm giao thương sôi động Bến sông không chỉ là điểm dừng chân của thương nhân mà còn là nơi sinh hoạt hàng ngày, tắm rửa, giặt giũ và lấy nước của hàng trăm hộ dân, đặc biệt là thanh thiếu niên Bài hát "Khúc hát sông quê" đã khắc họa rõ nét hình ảnh này, thể hiện sự gắn bó của con người với dòng sông.

143 cảnh bến sông một cách tài tình, nhiều người nghe hát tưởng tượng như thấy mình trong đó!

Sông vẫn ghi nhớ nơi ta chờ đợi mẹ, gợi nhớ về tuổi thơ với những chiếc bánh đa vừng giản dị Tại đây, những đứa trẻ vui đùa tắm mát bên dòng nước trong xanh, tạo nên những kỷ niệm đẹp đẽ bên bờ sông.

Trẻ em và người lớn trong làng Gốm luôn háo hức chờ đợi mẹ đi chợ, không phải trên những bãi cỏ ven sông mà tại các bến nước được kè cẩn thận Họ mong mẹ đi chợ ở Việt Trì qua đò ngang hay chợ Sơn Tây, Hà Nội, thậm chí chợ Tuyên, mất cả 1-2 ngày mới về Mùa hè, sông nước mênh mông, chiều đến thường có giông bão Mẹ có thể đi nhờ trên những chiếc thuyền lớn bằng gỗ, nhưng thường thì lại đi trên những thuyền nan nhỏ chỉ chở được 7-8 người, nhìn từ xa như những chiếc lá tre giữa dòng nước rộng lớn Không ít lần, mẹ cùng bạn bè phải dùng đòn gánh để hỗ trợ người lái đò chạy đua với mưa bão, khiến mọi người không khỏi lo lắng.

Nhiều người làng Gốm xa sứ, khi trở về thăm quê vẫn ra ngắm bến sông để thấy lại tuổi thơ của mình?

Dù rằng giờ đây dòng sông Lô chẳng còn trong xanh, bình yên thơ mộng như xưa!

Làng Quan Tử xưa có 5 bến sông chính, trong đó nổi bật là Bến Đông Hồ, nằm ngang với đền thờ đức Tả tướng Trần Nguyên Hãn, và bến Tuần.

Làng Gốm có nhiều bến sông quan trọng cho đời sống sinh hoạt, bao gồm bến Thượng, bến Giữa (còn gọi là bến Đá), bến Đình (trước cửa đình Phú Thị) và bến Hố (khu vực trường THCS hiện nay) Các bến này được bố trí cách nhau khoảng 500 mét, tạo thuận lợi cho người dân trong việc di chuyển và giao thương.

Gắn liền với huyền thoại về thân thế, sự nghiệp và cái chết bất tử của Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn

Mặc dù tài liệu lịch sử về sự kiện này rất hạn chế, nhưng những người viết thời đó không thể tránh khỏi ảnh hưởng của Vương quyền Khi xem xét thực địa, từ nhà Tả Tướng quốc cho thấy sự liên quan sâu sắc đến bối cảnh lịch sử.

Trần Nguyên Hãn gắn bó với bến Đông Hồ, chỉ cách khoảng 300 mét, nơi ghi dấu tuổi thơ đầy nỗ lực và quyết tâm của Đức Tả Tướng Những buổi chiều tắm sông cùng bạn bè, những sáng sớm vớt củi, và những chuyến hàng dầu xuôi dòng về Bạch Hạc hay Thăng Long đã tạo nên kỷ niệm khó quên trong cuộc đời ông.

Những buổi tối mùa hè thú vị bên bạn bè, câu cá và bàn luận về thế sự, hay những đêm luyện võ khua mài gươm, đều mang lại cảm giác gần gũi và gắn kết Bến Đông Hồ không chỉ là một địa điểm thư giãn mà còn ghi dấu ấn lịch sử, nơi chứng kiến phút lâm chung của Tả Tướng khi thuyền của Ngài từ ao Son vượt qua con ngòi nhỏ ra đến sông.

Lô Chính vì thế, sau khi Ngài qua đời, người dân Gốm nghĩa tình đã thờ Ngài đầu tiên tại nơi này!

Bến Đông Hồ ban đầu thuộc làng Gốm, nhưng từ khi làng Phú Thị được thành lập, dân làng đã giữ lại phần đất này Từ cuối thế kỷ XVIII, cả bến Đông Hồ và miếu Đông Hồ đã trở thành một phần của làng Phú Thị Hiện nay, phần đất này đang được quản lý bởi làng Đa Cai.

Bến Đông Hồ, từ xa xưa, đã được kè bằng đá ong, nhưng do vùng này không có nhiều dân cư sinh sống nên bến còn nhỏ Hiện nay, bờ kè sông bằng đá và bê tông đã che lấp dấu vết của bến xưa, nhưng người dân Gốm vẫn còn ghi nhớ vị trí của bến trong lòng.

Bến Tuần, thuộc xóm Thượng, là bến nước sinh hoạt và giao lưu hàng hóa cho cư dân đông đúc nơi đây Tên gọi "bến Tuần" có thể bắt nguồn từ thời kỳ thuộc Pháp, khi nhà cầm quyền thiết lập trạm Tuần ty để thu thuế Dù thời gian đã thay đổi nhiều, bến Tuần vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống người dân Kể từ khi lễ Kỳ an được phục dựng, vào chiều 15/4 âm lịch, dân làng lại rước thuyền rồng lên bến Tuần, nối lại truyền thống cột thuyền vào bè mảng để thả trôi theo dòng nước về Bạch.

Hạc rồi hòa vào dòng nước sông Hồng, trôi càng xa càng tốt

Bến Giữa (hay bến Táng – bến Đá):

Bến đò Tiến sỹ, còn được gọi là bến Giữa, nằm ở vị trí trung tâm của làng, nơi mà người dân, đặc biệt là dân xóm giữa, thường đi qua con đường phía sau đình để đến bến Tên gọi bến Táng xuất phát từ bờ sông có nhiều đá cuội lớn, hay còn gọi là hòn táng Tên bến đò Tiến sỹ có thể được hình thành từ thế kỷ XV, do vị trí của bến nằm gần phía trước mặt làng.

Miếu Quan Tử thờ Thành hoàng là thầy giáo Đỗ Khắc Chung Nơi đây rất có thể là địa điểm đón các vị đỗ

Tiến Sỹ của làng về vinh quy bái tổ thường đi theo con đường thủy từ kinh thành Thăng Long, ngược sông Hồng đến ngã ba Hạc, rồi rẽ vào sông Lô, chỉ mất chưa đầy một ngày Khi các quan Nghè được Vua cho trở về, họ cập bến Táng, sau đó lên bờ thực hiện lễ kính cáo với Thầy Từ đây, quá trình đón rước của dân làng và chính quyền địa phương diễn ra trang trọng.

Cầu và Quán

Làng Gốm xưa nằm trên một gò đất ven sông, xung quanh là những cánh đồng trũng ngập nước, do đó, việc xây dựng cầu là cần thiết để thông thương với các vùng lân cận.

Cầu Cốc là cây cầu cổ xưa nhất và đẹp nhất của làng, bắc qua cánh đồng chiêm trũng Ba Đà, nối gò Am với gò Thần Từ thuộc làng Trại Đẽn Cây cầu gỗ đồ sộ dài gần 100 mét, có hình dạng cong như cầu vồng Mặt cầu và lan can được làm hoàn toàn từ gỗ tốt, với hàng trăm cây gỗ thông hình trụ đường kính khoảng 30 cm, được cắm sâu vào đất và liên kết với nhau bằng hệ thống dầm dọc và ngang, tạo nên một công trình vững chắc.

Cầu Cốc có 149 khối chân móng vững chắc, với sàn cầu được làm từ những tấm ván dày khoảng 2 phân và rộng 30 phân, trải dài qua mặt cầu rộng 2,5 mét Ban đầu, cầu được thiết kế theo kiểu thượng gia hạ kiều với mái che lợp bằng thân cây tế, nhưng do chiều dài quá lớn và gió lộng, phần mái đã được dỡ bỏ, chỉ còn lại phần hạ kiều làm đường đi huyết mạch kết nối làng với vùng cao huyện Lập Thạch Hiện nay, trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, cầu Cốc là một trong những cây cầu kiểu này dài nhất.

Không có một tài liệu chính thống nào nói về năm xây dựng cũng như nguồn kinh phí, người tài trợ…

Cầu Cốc được xây dựng vào giữa thế kỷ XVIII, theo tài liệu và thông tin từ các bia tại chùa Am Mục đích của cầu là tạo điều kiện thuận lợi cho dân làng kết nối với vùng đất cao phía đông bắc như Cao Phong, Văn Quán, và Đồng Thịnh Người tài trợ chính cho công trình có thể là ông Nguyễn Văn Cốc, cùng với hai bà giữ ngôi Hậu của làng, bà Tạ Thị (Diệu Diễm) và bà Trần Thị (Diệu Phú), những người cũng đã đóng góp lớn cho việc sửa chữa chùa Am trong thời kỳ này.

Sang đầu thế kỷ XX cầu vẫn được sử dụng tốt Mãi đến chiến tranh chống Pháp cầu bị phá dần cùng với

Vào những năm 60 của thế kỷ trước, chủ trương tiêu thổ kháng chiến đã diễn ra, khi những cây cột cuối cùng của cầu vẫn còn tồn tại Sau đó, chúng được sử dụng để bổ sung vào kè con đường nối từ chùa Am lên trại Đẽn hiện nay.

Cầu Lâu Đài, một cây cầu nhỏ và ngắn hơn cầu Cốc, nằm trên đường Lâu Đài, bắc qua một eo hẹp của đồng Ba Đà Được xây dựng bởi người Pháp vào năm 1916, cầu và đường này chỉ tồn tại đến năm 1945, khiến chúng dần bị lãng quên trong ký ức của người dân làng Gốm.

Cầu Sọ, nằm trên con đường chính vào làng, lớn hơn cầu Cốc nhưng lại ngắn hơn nhiều Trước đây, cầu được xây dựng bằng gỗ, nhưng vào đầu thế kỷ XX, nhờ vào công nghệ mới, cầu đã được đúc bằng bê tông cốt thép, trở thành một công trình lớn thời bấy giờ.

Cầu Sọ, nằm tại huyện lỵ Lập Thạch ở làng Gốm (khu vực trường Tiểu học hiện nay), không chỉ phục vụ nhu cầu giao thông của dân làng mà còn đảm bảo kết nối giao thông cho toàn huyện Bên cạnh việc hỗ trợ giao thông, cầu Sọ còn có vai trò quan trọng trong việc dẫn nước từ các cánh đồng ngập nước như Bù Tu, Ba Đà, Cửa Chùa, Kễnh qua đồng Đông tới sông Phó Đáy, hoạt động như một cống lớn trong mùa nước nổi sau những trận mưa lớn ở thượng nguồn.

Lô, sông Phó Đáy, là nơi nước từ sông dâng lên và chảy vào vùng ruộng thấp ở đồng Đông Sau khi mưa kết thúc, nước ngoài sông rút dần, và nước trong đồng cũng chảy ra sông Cầu Sọ được xem như một cống tự nhiên, vì vậy người dân địa phương còn gọi cầu Sọ là cống Sọ.

Cầu Sọ, với lịch sử tồn tại hàng trăm năm, đã chứng kiến nhiều biến cố của làng, từ thời kỳ kinh tế hưng thịnh trước 1945 dưới sự đô hộ của Pháp, đến không khí sục sôi của cách mạng Tháng 8/1945 khi hàng nghìn người tập trung tại sân vận động Bàn Quần để nghe tuyên bố độc lập của chính quyền Việt Minh Sau đó, là 9 năm kháng chiến với nhiều bom đạn, cùng những đoàn người tản cư mang theo đồ đạc và trẻ em qua cầu Đến giữa những năm 60, chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới lại khiến hàng nghìn người rời bỏ làng.

Gốm thưa thớt từ đó…

Vào đầu những năm 2010, tỉnh lộ 305C được mở rộng, dẫn đến việc phá bỏ cầu Sọ cũ Cầu mới được xây dựng bằng bê tông cốt thép, rộng hơn nhưng vẫn giữ nguyên hình dáng cơ bản Cùng với các cây cầu nối vào làng, những quán xá cũng xuất hiện xung quanh.

Ngày xưa, trên đường thiên lý, các Quán được làm ở ven đường cái quan ở khắp nơi! Đến thời thuộc Pháp

Các Quán bên đường không chỉ là nơi dừng chân cho người đi bộ, mà còn được kết hợp với cây xanh, tạo thành những điểm nghỉ ngơi giữa các quãng đường dài Trên các trục giao thông chính, nhà chức trách khuyến khích cộng đồng trồng cây xanh cách nhau khoảng mười cây số, nhằm cung cấp bóng mát và che nắng, che mưa cho người dân Những Quán này đóng vai trò như một thiết chế văn hóa, phục vụ lợi ích chung của xã hội Mặc dù có một số Quán hiện nay có thêm dịch vụ nước uống cho khách qua đường, nhưng về cơ bản, chúng khác biệt so với những quán tư nhân chuyên phục vụ dịch vụ cụ thể như ngày nay.

Làng Gốm nổi bật với những ngôi nhà lớn, cột gỗ vững chãi và mái ngói, được bao quanh bởi tường hoặc không gian mở Hai quán nổi tiếng mà người dân sống qua thế kỷ XX không thể quên là Quán Chính Lực và Quán Sọ, nằm trên con đường dẫn vào làng.

Quán Chính Lực, nằm ở phía bắc gò Am gần đầu cầu Cốc, phục vụ chủ yếu cho các bà, các chị ở làng đi chợ xa, như chợ Chục và chợ Lối Đây là điểm dừng chân lý tưởng cho những người mang nặng gánh hàng hóa trên vai khi trở về nhà Quán cũng là nơi nghỉ ngơi cho thợ cày, trẻ chăn trâu và trở thành địa điểm họp mặt của Tuần phiên đồng ruộng vào ban đêm Với kiến trúc rộng 3 gian và cột gỗ chất lượng, quán tạo ra không gian thoải mái cho mọi người.

153 tường xây bao quanh, mái lợp ngói Quán còn tồn tại mãi đến những năm 60 của thế kỷ XX, nay nền quán vẫn còn.

Quán Sọ nằm trên nền đất gần đường chính dẫn vào cổng Cái, cách cổng khoảng 300 mét, gần cầu Sọ Hiện nay, quán tọa lạc tại ngã ba đường 305C, nơi giao nhau với đường rẽ vào chùa Am và đền thờ.

Hồ ao và hệ thống thoát nước

Trước khi có hệ thống thủy điện như Tuyên Quang và Hòa Bình, làng ven sông thường bị ngập lụt hàng năm vào mùa nước nổi, khiến cả làng chìm trong nước Sau khi mùa nước rút, các khu đất trũng trở thành ao chứa nước quanh năm.

Ao hồ trong các làng quê ở vùng đồng bằng sông

Hồng nơi nào cũng có! Điều đặc biệt ở làng Gốm là ở chỗ: Người làng đã biết tận dụng hệ thống ao hồ tự

Có 154 nhiên cùng các bãi nổi đan xen, kết hợp với tri thức phong thủy, đã tạo ra những công trình văn hóa và tâm linh đầy ý nghĩa, mang đến một chút huyền bí Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá hai hệ thống ao chính.

Hệ thống ao xung quanh đền thờ Thành hoàng Đỗ Khắc Chung (miếu Quan Tử):

Quan Đại Hành Khiển Đỗ Khắc Chung, một nhân vật có công lớn trong triều Trần, được người dân làng Gốm tôn vinh như một vị Thành Hoàng, người khai sáng truyền thống hiếu học Đền thờ Ngài được xây dựng trên một khu vực có nhiều ao, tạo hình dáng như một cây bút lông cổ, với các ao tượng trưng cho các bộ phận của bút Tuy nhiên, vào đầu những năm 1980, việc xây dựng bức tường rào để trồng rau đã vô tình cắt đứt hình dáng của cây bút lông, dẫn đến hơn 10 năm không có thanh niên nào trong làng thi đỗ vào Đại học, khiến người dân tin rằng sự cố này đã làm mất đi vận may học hành của họ.

Vào giữa những năm 1990, bức tường ngăn cách đã bị phá bỏ, và các bô lão trong làng, cùng với cụ Thủ từ, đã làm lễ xin phép Thành Hoàng và Thổ thần để cúng hàn thổ sân trước đền như truyền thống Kể từ đó, hàng năm, làng lại có nhiều học sinh đỗ Đại học như trước đây.

Hệ thống ao bao quanh đình làng:

Theo nhà giáo Vũ Duy Quỳ, đình làng Bắc Cổ được xây dựng trên thế đất hình chữ MINH, biểu thị cho sự thông minh và sáng láng Hệ thống ao hồ tự nhiên xung quanh làng đã hình thành nên thế đất độc đáo này Ông cũng giải thích rằng chữ MINH được cấu thành từ hai bộ: bộ NHẬT và bộ NGUYỆT Phía tây đình có hai ao nhỏ hình vuông bên cạnh nhà cụ Lang Oanh, tạo nên bộ phận quan trọng của cấu trúc này.

Hai ao ở Nhật từng tồn tại đến những năm 1980 nhưng hiện đã bị san phẳng và trở thành đất tư nhân Phía đông đình có ba ao liền nhau, kết hợp với ao Đình và hệ thống hồ lớn ở xóm Đông tạo thành bộ NGUYỆT Vị trí và hướng của đình đã giúp người làng Gốm xưa học hành đỗ đạt cao, góp phần vào thời kỳ hưng thịnh kéo dài hàng trăm năm.

Vào những năm 2000, khi phục dựng đình Bắc Cổ và xây dựng nhà văn hóa mới cho làng, ba ao phía đông đình đã được kè lại, tuy nhiên, chúng được ghép thành hai ao.

Hệ thống ao hồ khác:

Làng Gốm không chỉ có hai hệ thống ao chính mà còn hàng chục ao hồ khác nằm ven bìa làng, tạo nên một mạng lưới dày đặc Những ao hồ này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh cho làng Cùng với luỹ tre và cổng làng, chúng tạo thành một bức tường thành vững chắc Cụ thể, ao hồ ở xóm Đông kết hợp với cổng Chùa, cổng Cái và luỹ tre bảo vệ hướng đông, trong khi ao giếng Trám, ao cả và ao làng cùng luỹ tre bảo vệ hướng Nam Hướng Bắc được che chở bởi các ao Đè, hệ thống ao trước nhà thờ họ Lê, luỹ tre và cổng Đè.

Hệ thống ao hồ trong và quanh làng không chỉ mang ý nghĩa tâm linh và bảo vệ mà còn đóng góp lớn về thủy sản và có giá trị sinh thái Vào mùa đông, các ao hồ hoạt động như những hồ điều hòa, cung cấp nước tưới và nước uống cho cây trồng và vật nuôi.

Vào mùa hè, nước sông Lô và sông Phó Đáy thường xuyên tràn vào làng, giúp điều hòa dòng chảy nhờ vào hệ thống ao hồ Nước từ thượng nguồn cuốn đi rác rưởi, khiến ao hồ trở thành nơi lý tưởng cho việc giặt giũ, tắm rửa và bơi lội của cả trẻ em lẫn người lớn Tuy nhiên, hiện nay mùa nước nổi đã không còn, khiến cho hệ thống ao hồ trở thành nơi chứa nước thải quanh năm, đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng.

Mặc dù hệ thống ao hồ mang lại nhiều lợi ích, nhưng nó cũng gây ra không ít phiền toái cho cư dân làng, như úng lụt cục bộ và tình trạng ô nhiễm Việc quản lý nước ở các ao hồ, đặc biệt là quanh miếu thờ Thành hoàng, đã trở thành thách thức lớn cho đến đầu thế kỷ XX, khi khoa học và công nghệ giúp giải quyết triệt để vấn đề này Làng đã đầu tư thuê các kỹ sư người Pháp khảo sát và thiết kế một hệ thống cống ngầm lớn với đường kính 0,6 mét và chiều dài gần 400 mét, kết nối các ao với nhau và dẫn nước ra đồng Bài, Hủm Vạc, đồng Đông Đây được xem là công trình thủy lợi hiện đại đầu tiên của làng, mặc dù nó nằm ngầm dưới đất và ít người biết đến Hiện tại, công trình vẫn hoạt động nhưng đang đối mặt với nguy cơ bị xâm hại.

Sau khi hoàn thành công trình, việc thoát nước ở hệ thống ao xung quanh Đình trở nên đơn giản hơn Nước từ các ao được dẫn qua các cống nhỏ và chảy xuống ao trước nhà cụ Lang Thảo, tiếp tục qua hệ thống ao hồ lớn ở phía đông làng, rồi cuối cùng thoát ra cánh đồng cửa Chùa.

Chợ quê

Chợ quê có nguồn gốc từ lâu, bắt đầu từ khi con người biết đến việc trao đổi hàng hóa, đặc biệt thông qua tiền Ở những vùng quê đông đúc, nhu cầu sinh hoạt cao, cùng với sự phát triển sản xuất hàng hóa, làng Gốm đã trở thành trung tâm giao lưu hàng hóa giữa các miền Chợ làng Gốm đã tồn tại từ rất lâu và đặc biệt, trong một thời gian dài, làng Gốm còn là thủ phủ của huyện Lập Thạch, do đó trong làng có hai chợ hoạt động song song.

Chợ Huyện họp vào các ngày 0, 3, 5, 8 âm lịch, trong đó ngày 3 và 8 là chợ chính đông đúc, còn ngày 0 và 5 là chợ xép thưa thớt Mỗi tháng có 12 phiên chợ, thường diễn ra vào buổi sáng trước cổng huyện, nơi có bóng mát từ những cây gạo lớn Chợ được tổ chức với các dãy lều quán đơn sơ, hàng hóa được phân chia theo khu vực như thịt cá, rau cỏ, tươi sống, lúa gạo, vải vóc và cơ khí, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt của người dân qua các thời kỳ.

159 phiên chợ Huyện cuối năm âm lịch, nghĩa là các phiên

Vào các ngày 25, 28 và 30 tháng Chạp, nhu cầu mua sắm hàng hóa tăng cao, khiến chợ Huyện mở rộng dọc theo con đường từ cổng cái vào và kéo dài đến chân chim, gần ngã ba rẽ vào làng Đông.

Chợ Huyện vào dịp Tết thu hút đông đảo người dân từ các xã phía nam huyện Lập Thạch và cả những vùng khác, tạo nên không khí mua sắm nhộn nhịp Tại đây, các bà, các chị mua sắm thực phẩm và quần áo mới cho gia đình, trong khi các ông trung niên và thanh niên tìm kiếm câu đối và tranh dân gian Hàng Trống, Đông Hồ để trang trí nhà cửa Trẻ em cũng được cha mẹ dẫn đi chơi chợ, thích thú bên những gian hàng bán đèn lồng, pháo nổ và tò he Phiên chợ Tết thường kéo dài cả ngày, trở thành kỷ niệm đẹp trong lòng người dân làng Gốm xa quê, đặc biệt từ khi huyện lỵ Lập Thạch chuyển vào xã Triệu Đề vào năm 1916.

Huyện cũng được di dời theo

Chợ Huyện hiện nay vẫn thuộc xã Triệu Đề và duy trì phiên họp truyền thống từ xa xưa Mặc dù các túp lều và dãy hàng quán không có nhiều thay đổi, cơ cấu hàng hóa đã được cải tiến để đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Chợ Làng: Khác với chợ huyên, chợ làng chỉ họp vào buổi chiều (nên dân làng còn quen goi là chợ

Chiều), nhưng lại họp tất cả các buổi chiều trong tháng

Chợ Chiều ban đầu tiếp quản khu chợ Huyện cũ và sau đó chuyển lên họp trước cửa đình làng, nơi từng có hai cây gạo gai lớn xanh tốt Chợ Chiều được thành lập nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân trong làng, từ cá tươi ngon do ngư dân đánh bắt dưới sông Lô hay đồng Đông, đến rau xanh cho bữa cơm chiều và các vật dụng như kim, chỉ mà bà con cần để khâu quần áo Quy mô của chợ chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt thường nhật của dân làng.

Chiều nhỏ hơn, lúc đông cũng chỉ 100-200 người.

Ngoài chợ Chiều, làng Gốm từ xưa đã có người bán hàng rong phục vụ tận cổng nhà Vào buổi chiều, họ bán rau củ và hải sản tươi sống, còn ban đêm là những người bán phở dạo và lạc rang húng lìu, với lời rao hàng không khác gì ở đất kinh kỳ.

Ngày nay, dân cư ở lại làng còn quá ít, nhu cầu sinh hoạt không còn nhiều Với bao người làng Gốm, chợ Chiều cũng chỉ còn là kỷ niệm.

VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TIÊU BIỂU

VĂN THƠ VIẾT VỀ LÀNG GỐM, NGƯỜI GỐM 229 1 Sắc – Đại tự - Câu đối chữ Hán

Ngày đăng: 15/12/2021, 09:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w