1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SUSTAINABLE AGRICULTURE DEVELOPMENT AND

12 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 415,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và dù là kịch bản nào thì Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL cũng là khu vực bị tác động trên nhiều lĩnh vực: từ môi trường và đa dạng sinh học ĐDSH; sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực

Trang 1

PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU SUSTAINABLE AGRICULTURE DEVELOPMENT AND FOOD SECURITY

IN THE MEKONG DELTA IN THE CONTEXT OF CLIMATE CHANGE

Đặng Văn Phan1 Nguyễn Minh Hiếu2

Cho đến nay, ở nước ta đã có không ít kịch bản được vạch ra từ kết quả nghiên cứu và dự báo của các tổ chức trên thế giới và trong nước về vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng (BĐKH – NBD [3, 7, 10] ) Và dù là kịch bản nào thì Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng

là khu vực bị tác động trên nhiều lĩnh vực: từ môi trường và đa dạng sinh học (ĐDSH); sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực và thủy sản; cho đến ngập lụt các đô thị; cơ sở hạ tầng, đường

sá, công trình công cộng, cấp nước; sinh kế của người nông dân;… Phát triển nông nghiệp bền vững và đảm bảo vai trò an ninh lương thực là vấn đề đặc biệt quan tâm ở ĐBSCL hiện nay và tương lai Tác động tai hại của BĐKH – NBD là rõ ràng song cũng cần nhìn nhận thêm rằng, con người phải biết thích ứng với BĐKH, cần sống chung với các hiện tượng tự nhiên ấy

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực ở ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH qua 3 khía cạnh : 1 Nhận diện ĐBSCL; 2 Ảnh hưởng của BĐKH và NBD đến ĐBSCL; 3 Giải pháp nào cho ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH và NBD ?

So far, in our country there have been many scenarios outlined from the results of research and forecasting of domestic institutions in the world and on the issue of climate change, sea level rise Whatever the scenario, the Mekong Delta is also the area affected in various fields such as the environment and biological diversity (biodiversity); agricultural production, food security and aquatic products; flooding to urban areas; infrastructure, roads, public works, water supply; livelihoods of farmers; Developing sustainable agriculture and ensuring food security are particularly interested in the Mekong Delta now and in the future The disastrous effects of climate change and sea level rise on our lives are clear but we have to know to adapt to climate change and live with these natural phenomena

1PGS.TS, Trường Đại học Cửu Long, Hội Địa lí TP Hồ Chí Minh

2NCS.ThS, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hội Địa lí TP Hồ Chí Minh.

Trang 2

In this article, we refer to the sustainable agricultural development and food security in the Mekong Delta in the context of climate change through three aspects: 1 Recognition of the Mekong delta; 2 Effects of climate change and sea level rise to MD; 3 Solutions to the Mekong Delta in the context of climate change and ses level rise

1 Nhận diện Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những đồng bằng châu thổ rộng lớn (diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu ha) và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới Đây là vùng sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản và vùng cây ăn trái nhiệt đới lớn của Việt Nam với dân số trên 17,7 triệu người (năm 2010)

Toàn vùng chiếm hơn 31% diện tích đất phù sa của cả nước, rất thích hợp chuyên canh các loại cây nông sản nhiệt đới Hiện nay, vùng ĐBSCL sản xuất ra 53,7% sản lượng lúa, đóng góp hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu, cung cấp khoảng 70% lượng trái cây, trên 74% sản lượng thủy sản nuôi trồng và đóng góp hơn 65% kim ngạch xuất khẩu thủy sản

Trong giai đoạn 2001 – 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 11,7%/năm

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng khu vực II, khu vực III và giảm tỉ trọng khu vực I Giá trị sản xuất toàn vùng năm 2010 đạt 336.924 tỉ đồng, tăng gấp 3,5 lần so với năm 2001, tăng bình quân 11,87%/năm Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2010 đạt 9,3 tỉ USD, trong đó, xuất khẩu đạt 6,83 tỉ USD, tốc độ tăng bình quân đạt 17,8%/năm Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 2,5 lần so với năm 2001 Thu ngân sách toàn vùng năm 2010 đạt 28101 tỉ đồng, tăng gấp 6 lần so với năm 2001

– Về công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục, đạt 18,8%/năm Đến năm 2010, tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 156 nghìn tỉ đồng Đáng chú ý là giá trị đóng góp của ngành công nghiệp chế biến tăng nhanh, chiếm 26% trong cơ cấu giá trị toàn ngành Ngành chế biến thủy sản phát triển nhanh và đa dạng mặt hàng (hơn 60 mặt hàng), chiếm hơn 50% sản lượng và giá trị xuất khẩu Về quy hoạch công nghiệp, nhiều địa phương đã quy hoạch, xây dựng các khu, cụm công nghiệp cho tỉnh mình Đến năm 2010, toàn vùng thu hút hơn 300 dự án, đạt tỉ lệ lấp kín là 67% diện tích đất cho thuê, giải quyết việc làm cho hơn 70 nghìn lao động Một số khu công nghiệp mang tầm vóc quốc gia về quy mô lẫn vai trò đóng góp như Trung tâm khí – điện – đạm Cà Mau, Trung tâm nhiệt điện Ô Môn (Cần Thơ), Sông Hậu (Hậu Giang), đường ống dẫn khí Lô B – Ô Môn,…

Trang 3

– Về nông nghiệp

Trong giai đoạn 2001 – 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 6,9%/năm Lợi nhuận bình quân trên 1 ha tăng khá nhanh, từ 20,2 triệu đồng năm 2000 lên gần 38 triệu đồng/1 ha năm 2010, trong đó có nhiều khu vực đạt giá trị sản xuất hơn

50 triệu đồng 1 ha/năm Sản lượng lúa toàn vùng năm 2010 đạt 22,76 triệu tấn, là mức cao nhất từ trước đến nay Sản lượng thủy sản đạt trên 3 triệu tấn (năm 2110), trong đó nuôi trồng đạt hơn 2,1 triệu tấn Cá tra được ưu tiên phát triển mạnh với diện tích thả nuôi khoảng 600 nghìn ha, sản lượng gần 1,3 triệu tấn, xuất khẩu đạt 1,5 tỉ USD Nhìn chung, chăn nuôi phát triển nhanh, hiện cả vùng có gần 3300 trang trại sản xuất theo quy mô công nghiệp, khép kín quy trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ Trên địa bàn hiện đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất hàng hóa hiệu quả, bước đầu tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước

– Về thương mại, dịch vụ

Trong những năm qua, thương mại, dịch vụ và du lịch là những ngành có những bước phát triển khá nhanh, đặc biệt là ngành dịch vụ bán lẻ, vận tải và du lịch Bước đầu

đã hình thành các trung tâm thương mại quy mô tương đối như Cần Thơ, Hồng Ngự (Đồng Tháp), Long Xuyên (An Giang),… Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng khá, đến năm 2010 đạt 6,83 tỉ USD Về du lịch, trong thời gian qua ĐBSCL đã chú trọng khai thác các lợi thế về tự nhiên, phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch, tăng cường đầu tư hạ tầng kĩ thuật nên lượng du khách trong và ngoài nước đến vùng tăng liên tục Năm 2010, toàn vùng đón hơn 19 triệu du khách, trong đó có gần 1,5 triệu khách quốc tế

Tuy nhiên trong tương quan so sánh và xét về lợi thế cạnh tranh, ĐBSCL chưa khai thác hết tiềm năng những vẫn còn không ít khó khăn, thách thức : hạ tầng cơ sở yếu kém, công tác quy hoạch vùng chưa quan tâm đúng mức, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, thị trường nông sản và hàng hóa thiếu ổn định, môi trường có nguy cơ suy giảm,… Đặc biệt là sự phát triển cả vùng trong tương lai lại đặt trong bối cảnh là một trong những khu vực bị ảnh hưởng và tổn thương nặng nhất Việt Nam trước nguy cơ biến đổi khí hậu – nước biển dâng

2 Ảnh hưởng của BĐKH và NBD đến ĐBSCL

ĐBSCL là vùng hạ lưu của sông Mê Kông, nằm trong khu vực khí hậu gió mùa, địa hình thấp, hệ thống sông rạch, kênh mương chằng chịt, hệ sinh thái đất ngập nước đa dạng và nhạy cảm,…; Đồng thời, vùng đồng bằng này rất phức tạp về đặc điểm thủy văn,

Trang 4

nguồn nước, chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi sự xâm nhập mặn từ biển,… nên ảnh hướng

từ BĐKH và NBD là rất nghiêm trọng Về đại thể, có thể kể đến một số tác động như sau:

2.1 Tác động đến môi trường và đa dạng sinh học

Trong xu thế BĐKH và NBD, sự gia tăng về nền nhiệt độ, lượng mưa, tần suất bão

và nhiễu động thời tiết, tình hình lũ lụt, hạn hán diễn biến bất thường, diện tích, mức độ

và thời gian ngập mặn và ngập lụt gia tăng,… đã tác động lớn đến các điều kiện tự nhiên cục bộ và toàn vùng, đặc biệt là vùng đồng bằng ven biển và vùng ngập lũ, vùng đất ngập nước (Tràm Chim, U Minh Thượng, Láng Sen, Trà Sư, Hà Tiên, Đất mũi, Lung Ngọc Hoàng,…) Các điều kiện tự nhiên trên đã tác động đến môi trường và đa dạng sinh học, trong đó các yếu tố dễ thấy nhất là sự thay đổi lưu lượng, chất lượng nước (chế độ thủy văn, diễn biến lũ lụt, triều cường, xâm nhập mặn), diện tích đất bị ảnh hưởng theo không gian và thời gian Sự thay đổi đó tác động không nhỏ từ diễn thế sinh thái của vùng, đa dạng sinh học các giống loài đặc hữu và di cư,… đến cơ cấu mùa vụ, gia tăng dịch bệnh,…

Việc xuất hiện các giống loài mới trong tự nhiên, bùng phát các ổ dịch mới,… là những nguy cơ gây xáo trộn các quần xã sinh vật đặc trưng nơi đây Chính các quần xã này sẽ lấn dần khu vực phân bố của các loài bản địa, gây thất thoát và giảm sút nguồn gen tự nhiên quý hiếm Danh sách đỏ các loài động, thực vật của vùng ngày càng dài vì đứng trước nguy cơ mất cân bằng sinh thái, nhiều loài đã biến mất hoặc rơi vào tình trạng nguy hiểm

Chỉ xét riêng những tác động do BĐKH và NBD lên tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước, TS Lê Anh Tuấn đã phỏng đoán sơ bộ qua bảng sau :

Bảng 1 Một số tác động do biến đổi khí hậu

lên tính đa dạng sinh học vùng đất ngập nước

Xu thế

BĐKH Tác động lên tự nhiên

Các tổn thương về ĐDSH đất ngập nước tự nhiên Nhiệt độ tăng

cao

– Khô hạn – Thiếu nước ngọt – Bốc hơi cao

– Cây khô và chết nhiều hơn – Nguy cơ cháy rừng cao – Sự tăng trưởng thực vật chậm lại

Trang 5

– Nước ngầm sụt giảm – Phèn xuất hiện – Nhiễm mặn cao hơn

– Nguồn cá giảm sút – Muỗi, sâu bệnh, chuột gia tăng số lượng

– Nguồn lương thực bị giảm sút

Lượng mưa

phân bố bất

thường

– Thiếu mưa đầu vụ – Mưa to cuối vụ – Mưa lớn bất thường – Ngập úng cục bộ

– Chu kì sinh học bị thay đổi – Ảnh hưởng sự ra hoa, kết trái của thực vật

– Cây con bị hư hại – Dòng chảy thay đổi – Nguồn lương thực bị giảm sút

Nước biển

dâng

– Xâm nhập mặn sâu hơn – Thu hẹp diện tích đất – Xâm thực – xói lở mạnh – Triều cường lớn hơn

– Xáo trộn hệ sinh thái – Nhiều loài động vật và thực vật nước

lợ và nước ngọt có thể bị chết – Một số khu vực rừng sát bị hủy diệt – Nguồn lương thực bị giảm sút

Bão – lốc

xoáy

– Tàn phá vùng ven biển – Đẩy nước mặn vào sâu – Ngập úng cục bộ – Ô nhiễm sau bão tăng

– Rừng bị tàn phá, gãy đổ – Các vườn chim bị hư hại – Một số động vật rừng bị tiêu diệt – Giảm chất lượng đất và nước

Nguồn : [5]

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng là những hiện tượng thiên nhiên nhưng đằng sau các hiện tượng tự nhiên này là những hậu quả khôn lường do cộng hưởng từ tác nhân con người Có thể nói rằng, lợi ích từ việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chảy thượng nguồn sông Mêkông mang lại sẽ không đủ bù đắp cho những thiệt hại trước mắt và lâu dài mà người dân châu thổ sông Mêkông nói chung và ĐBSCL nói riêng phải gánh chịu: thay đổi thủy chế, giảm lượng phù sa xuống khu vực hạ lưu châu thổ và ĐBSCL, giảm nguồn lợi thủy sản, mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng đến tiến trình biển tiến, vấn đề được và mất trong quan hệ chính trị, quyền lợi lâu dài của các quốc gia và dân tộc,…

Trang 6

Thách thức đối với các nước trong lưu vực sông Mêkông sẽ gia tăng rất nhiều trong bối cảnh BĐKH và NBD ĐBSCL sẽ chịu tác động kép từ thượng lưu xuống và từ biển vào, chưa kể đến vấn đề sụt lún hằng năm

2.2 Tác động đến ngập lụt các đô thị

Hệ quả của BĐKH và NBD, dưới khía cạnh Đô thị học, sẽ làm cho mực nước trung bình trong hệ thống thủy văn dâng cao, mực nước đỉnh lũ và chân triều sẽ cao hơn, gây ngập lụt tại các đô thị, cụm dân cư vùng lũ vốn có cốt nền khá thấp (1 – 4m) Một số khu vực trung tâm và vùng ven tại các đô thị Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên, Cà Mau, Mỹ Tho,… sẽ chịu ảnh hưởng ngập định kì (những ngày triều cường) hoặc dài hạn (4 – 5 tháng/năm) theo kịch bản nước biển dâng 1m [3] Bên cạnh đó, mực nước dâng cao cũng

là trở ngại lớn đối với vấn đề tiêu thoát nước thải, nước mưa, ảnh hưởng đến sinh hoạt và môi trường đô thị

Ảnh hưởng ngập lụt sẽ càng lớn trong bối cảnh cốt nền tại các đô thị vùng ĐBSCL

có xu hướng sụt lún vì lượng nước ngầm khai thác quá mức, tổng tải trên một đơn vị diện tích đất đô thị tăng lên nhanh chóng Các khu vực nội đô trũng thấp hơn so với các khu vực xây dựng mới ở vùng ven đô, kết quả là các khu vực này sẽ là nơi chứa nước khi mưa, lũ về

2.3 Tác động đến cơ sở hạ tầng, đường sá, công trình công cộng, cấp nước

Với hệ thống gần 41 nghìn km giao thông đường bộ (quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên xã,…) hiện hữu, ĐBSCL cơ bản được đảm bảo giao thông thông suốt giữa các tỉnh, huyện trong vùng Tuy nhiên, hầu hết các tuyến đường này chỉ mới đảm bảo vượt cốt nền của đỉnh lũ năm 2000 Nếu áp các trị số của kịch bản nước biển dâng 1m của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2011 thì hầu hết hệ thống đường này lại bị nhấn chìm trong nước, gây tắt nghẽn giao thông cũng như giảm tuổi thọ các công trình Đặc biệt, đối với một số cung đường ven biển hoặc phân bố dọc theo lưu vực các sông, tình trạng sạt lở, khoét mòn tạo các địa hình hàm ếch khi lũ về sẽ làm cho các tuyến đường này xuống cấp nhanh hơn

Bên cạnh đó, kịch bản nước biển dâng cũng sẽ xuất hiện nguy cơ phải hạ tải các tàu, thuyền di chuyển trên sông, rạch hiện nay, bởi độ tĩnh không của các cây cầu ảnh hưởng đến lưu lượng, mật độ và trọng lượng tải của tàu, thuyền khi di chuyển để đảm bảo an toàn cho tính mạng và tài sản

Trang 7

Hệ thống đường xá, công trình công cộng, cấp nước,… sẽ giảm tuổi thọ hoặc xuống cấp nhanh nếu chìm ngập trong nước Hiện tượng xuất hiện các hố tử thần trên các tuyến đường huyết mạch của vùng sẽ ngày càng nhiều hơn, kết quả là, chi phí duy tu, bảo dưỡng đường bộ, chi phí nhiên liệu cho vận chuyển hàng hóa, hành khách sẽ gia tăng, thời gian lưu thông hàng hóa sẽ kéo dài Tất cả chi phí này sẽ làm giảm sức cạnh tranh của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long so với các vùng khác và quốc tế trong hội nhập ĐBSCL là vùng có tiềm năng và lợi thế về giao thông đường thủy và lợi thế này sẽ

bị ảnh hưởng lớn khi chi phí gia tăng, mức độ nguy hiểm khi lưu thông cao hơn so với các loài hình giao thông khác

2.4 Tác động đến sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực và thủy sản

Ngoài các nguyên nhân từ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa,… diện tích đất sản xuất nông nghiệp của ĐBSCL sẽ bị thu hẹp do BĐKH và NBD trong tương lai gần : + Diện tích đất nông nghiệp bị ngập lụt trực tiếp hoặc gián tiếp gia tăng Theo kịch bản nước biển dâng 1m, diện tích ngập của vùng sẽ lên đến 0,5 – 1 triệu ha, trong đó có những khu vực ngập lụt gieo trồng 2 – 3 vụ/năm

+ Thời gian đất nông nghiệp ngập lụt thay đổi và có xu hướng kéo dài sẽ tác động đến cơ cấu mùa vụ do ảnh hưởng từ thời gian lũ đến và rút đi hoặc triều cường Hệ số sử dụng đất ở một số khu vực trũng như tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười sẽ giảm đáng kể vì không còn lúa vụ 3 (hoặc 1 vụ xen canh, gối vụ hoa màu, thủy sản,…) Giá trị nông sản thu hoạch và lợi nhuận sẽ giảm sút do không có điều kiện thu hoạch, phơi sấy, vận chuyển và chế biến chủ động cũng như nông dân bị động trong thời gian xuống giống, tìm thị trường tiêu thụ,…

+ Một số khu vực trồng lúa truyền thống (đất thuộc) ở các vùng ven biển, vùng cửa sông sẽ giảm sút sản lượng do ngập mặn, triều cường xâm nhập sâu, hạn hán vào cuối mùa khô vì phụ thuộc vào điều kiện cấp và thoát nước cho sản xuất Theo tính toán sơ bộ cho thấy, sản lượng lương thực vùng ĐBSCL sẽ giảm khoảng 3,6 – 5,7 triệu tấn lương thực nếu diện tích lúa canh tác giảm 0,5 – 1 triệu ha theo kịch bản nước biển dâng 1m Điều này cũng xảy ra tương tự đối với nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt Một khi sự thay đổi về nhiệt độ, môi trường nước ô nhiễm, dịch bệnh gia tăng,… sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả, diện tích và lợi nhuận khu vực nuôi trồng thủy sản

Trang 8

2.5 Tác động đến đời sống nông dân, nông nghiệp và nông thôn

BĐKH và NBD chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của nông dân nói riêng và bộ mặt nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL nói chung Dự kiến sẽ hình thành các dòng chuyển cư của nông dân từ các vùng ven biển lên các đô thị phía bắc và phía tây (Châu Đốc, Long Xuyên, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Tân An,…) Việc chuyển cư này sẽ khiến cho các kế hoạch quy hoạch đô thị có nguy cơ phá vỡ, trật tự xã hội sẽ chịu nhiều tác động, môi trường đô thị sẽ quá tải do sức tải dân số tăng lên nhanh chóng

Cuộc sống của nông dân vùng ĐBSCL vốn bấp bênh vì phải đối mặt với nhiều rủi

ro thì trong thời gian sắp đến sẽ chịu nhiều ảnh hưởng từ nhân tố chủ quan lẫn khách quan trong quá trình sản xuất Đặc điểm sản xuất nông nghiệp là gắn chặt với điều kiện tự nhiên; do vậy khi điều kiện tự nhiên thay đổi sẽ làm thay đổi các yếu tố hình thành nên chu trình sản xuất nông nghiệp (hình 1) và nhiều vấn đề khác mà nông dân là đối tượng ảnh hưởng nhiều nhất

Hình 1 Chuỗi dây chuyền tác động của hiện tượng BĐKH và NBD

lên hệ sinh thái, sản xuất và đời sống (Tuấn, 2009), [10]

3 Giải pháp nào cho ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH và NBD ?

Trong tiến trình hình thành Trái Đất nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, quá trình biển tiến, biển thoái, thay đổi khí hậu diễn ra theo những chu kì riêng của lớp vỏ Trái Đất Tùy ảnh hưởng của các yếu tố thiên văn – hành tinh, chu kì nâng lên, hạ xuống của

Trang 9

khu vực ảnh hưởng nhiều, có khu vực ảnh hưởng ít, có khu vực thiệt hại nhiều hoặc ngược lại ĐBSCL của nước ta cũng không ngoại lệ, vùng chịu tác động không nhỏ từ những thay đổi không ngừng của Trái Đất Vấn đề cần quan tâm lúc này là chúng ta phải lựa chọn những phương cách, giải pháp nào hợp lí nhất trong từng giai đoạn cụ thể để ảnh hưởng sẽ ở mức thấp nhất có thể Muốn làm được điều đó, cần có sự tham gia của nhiều lực lượng trong thời gian đủ dài để đúc rút kinh nghiệm mang tính điển hình cho một vùng đất, phù hợp với tập quán văn hóa, sinh hoạt của người dân địa phương

Cho đến nay có thể thấy rằng, giải pháp cho sự phát triển bền vững của ĐBSCL khá phong phú với một số kịch bản được nhiều tổ chức trong nước và quốc tế đưa ra Tựu chung lại, có thể tổng kết bằng các nhóm giải pháp cụ thể như sau :

3.1 Triển khai cụ thể nhóm giải pháp thích ứng với BĐKH

Quá khứ và hiện tại ở ĐBSCL cho thấy, giải pháp hợp lí nhất trong bối cảnh BĐKH

và NBD là phải thích ứng và tập thích ứng Phải thích ứng để giảm thiểu thiệt hại và tập thích ứng để tồn tại và phát triển

Thích ứng BĐKH phải dựa vào hệ sinh thái3 Việc xem ĐBSCL như một sinh cảnh tổng hợp kết nối cả khu vực là rất quan trọng Ở ĐBSCL Muốn thích ứng cần phải thực hiện hệ thống các hoạt động cụ thể : 1 Khôi phục lại các khu rừng ngập mặn ven biển và bảo tồn đa dạng sinh học nước ngọt, nước lợ, nước mặn; 2 Tìm kiếm, nghiên cứu và ứng dụng trên diện rộng những hệ thống canh tác phù hợp, cho hiệu quả cao; 3 Lai tạo các giống thích hợp với biên độ nhiệt dao động rộng, chịu mặn, ngập úng và sâu bệnh mới; 4 Đắp đê ở một số vùng quan trọng bảo vệ cây trồng, vật nuôi và khu dân cư,…

3.2 Áp dụng các giải pháp/ nhóm giải pháp giảm thiểu các thiệt hại BĐKH – NBD

1 Lập bản đồ các vùng bị ngập hoặc có nguy cơ ngập trong ngắn hạn và dài hạn cho toàn vùng ĐBSCL (bản đồ địa hình, thổ nhưỡng, kinh tế chung,…); mô phỏng ảnh hưởng theo các kịch bản (phương án) nước biển dâng cùng các phương án cụ thể sẽ thực hiện khi kịch bản nào đó diễn ra

2 Lập cao trình và cốt nền cho từng phương án cũng như những công trình kết cấu

hạ tầng bị ngập hoặc có nguy cơ bị ngập Xây dựng hệ thống giao thông kết nối các khu

3 Thích ứng dựa vào hệ sinh thái là phương pháp tiếp cận toàn diện các vấn đề BĐKH, bao gồm các biện pháp kĩ thuật và chính sách hỗ trợ các hệ sinh thái nhằm tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH của xã hội, của nền kinh

tế và môi trường

Trang 10

vực theo chuẩn cao trình mới có tính đến sức tải của lãnh thổ trong xu hướng gia tăng dân

số trong từng thời điểm cụ thể của vùng ĐBSCL

3 Lựa chọn các phương án phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ hiệu quả, đặc thù cho vùng với tiêu chí sử dụng tài nguyên ít nhất

4 Phát triển các cụm dân cư, tuyến dân cư trong đê bao lẫn ngoài đê bao trên cơ sở ứng dụng các mô hình nhà nổi, khu dân cư nổi, dùng vật liệu nhẹ, sẵn có, tránh di dời để vừa giảm thiệt hại xây dựng cơ bản vừa bảo đảm cuộc sống cho người dân tại chỗ Đồng thời, các cấp chính quyền phải dự trù các phương án bố trí, tái bố trí dân cư khi có những

sự cố hoặc tai biến thất thường xảy ra

5 Chuẩn bị nhân lực và vật lực tại chỗ, sẵn sàng ứng cứu khi thiên tai xảy ra trên các phương diện y tế (cơ số thuốc dự trữ, giường bệnh, y bác sĩ,…), kinh tế (sản xuất nông thôn, phát triển đô thị,…), quốc phòng, sản xuất – sinh kế

3.3 Đổi mới tư duy về phát triển nông nghiệp – nông thôn, đổi mới tư duy trong quản lí và đầu tư

Trong bối cảnh BĐKH và NBD như hiện nay, các cấp quản lí Nhà nước cần đổi mới

tư duy trong quản lí các nguồn tài nguyên cũng như cần rà soát tổng thể các quy hoạch

đã, đang và sẽ triển khai ở những vùng tự nhiên nhạy cảm có tính đến các yếu tố ổn định trong ngắn và dài hạn

Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy, phương pháp tiếp cận kinh tế và hiệu quả nhất trong quản lí lãnh thổ là : 1 Đổi mới tư duy trong quản lí hành chính và đầu tư về lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo phương thức phối kết hợp chặt chẽ giữa 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà quản lí); 2 Số hóa hệ thống thông tin liên quan cho toàn vùng; 3 Hình thành hệ thống cảnh báo sớm các tai biến khí hậu và thời tiết cực đoan; 4 Xác định các sản phẩm nông nghiệp chủ lực để có hướng đầu tư hiệu quả, phát huy lợi thế cạnh tranh trong hội nhập; 5 Phân cấp, phân quyền cùng giao trách nhiệm cụ thể đến các cấp quản lí trung và cao cấp nhằm sử dụng và điều phối hiệu quả các nguồn lực phát triển (nhân lực, vốn, công nghệ, thông tin, năng lượng,…)

3.4 Cần có sự phối hợp, gắn bó hài hòa giữa bốn nhà (nhà quản lí, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nông)

Cần xác định các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương (nông dân không có đất canh tác; nông dân không được đào tạo nghề, thiếu công cụ, tư liệu sản xuất; nông dân thiếu vốn;

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN