Thực tế, Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Việt Nam, gây gián đoạn chuỗi cung ứng sản xuất và lưu thông hàng hóa, một số ngành như: xuất, nhập khẩu,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
Thành nhân trước thành danh
KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ
HẬU COVID
TP.HCM, ngày 30 tháng 8 nă m 2021
Trang 2BAN NỘI DUNG
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU i
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO “KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU COVID-19” ii
GLOBAL VALUE CHAIN AND VIETNAMESE ECONOMY AFTER COVID-19 PANDEMIC 1
VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ LỰC LƯỢNG NHÂN SỰ HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH 29
GIAI ĐOẠN COVID-19
Võ Hoàng Bắc
GIẢI QUYẾT NHU CẦU VIỆC LÀM THỜI COVID-19 TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
Nguyễn Quốc Huy
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 TỚI LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM Ở MỘT SỐ NHÓM DỄ BỊ
TỔN THƯƠNG 46
Phan Thị Tuyết Trinh
XU HƯỚNG CỦA LÀM VIỆC TẠI NHÀ (WORK FROM HOME) TRONG THỜI GIAN DỊCH 55
COVID-19 TẠI VIỆT NAM
Võ Hoàng Bắc
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á 67
Mai Lưu Huy
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM 76
Trần Huy Cường
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM 83
Nguyễn Minh Xuân Hương
TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID -19 ĐẾN TÌNH HÌNH TIÊU THỤ XOÀI TẠI XÃ TÂN THUẬN 95
TÂY, THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Cao Thị Thanh Trúc, ThS Lưu Hoàng Giang
Trang 4GREEN MARKETING THỜI KỲ HẬU COVID-19 TẠI VIỆT NAM 100
Nguyễn Hoàng Tiến, Đinh Bá Hùng Anh
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HẬU COVID-19 116
Phan Thị Kim Xuyến
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
ĐỐI VỚI NGÀNH BÁN LẺ TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19 TẠI VIỆT NAM 127
Mai Lưu Huy
THAY ĐỔI HÀNH VI TIÊU DÙNG THỜI KỲ HẬU COVID-19 139
Nguyễn Hoàng Tiến, Đinh Bá Hùng Anh
SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THUẾ TẠI CÁC CHI CỤC THUẾ 153
THỜI KỲ HẬU COVID 19, ĐIỂN CỨU TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 3, TP HCM
Trần Anh Dũng
TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TRƯỚC ……163
BỐI CẢNH MỚI
Lê Thị Mai Hương
THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN HẬU COVID-19 172
Huỳnh Ánh Nga
THU HÚT VỐN FDI Ở VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA COVID-19 HIỆN NAY 179
Phạm Thị Giang Thùy, Phan Công Thanh
ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU LỚN TRONG CHUYỂN ĐỔI SỐ 190
NGÀNH NGÂN HÀNG
Trần Lương Mộng Trinh, Hoàng Sơn Tùng
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI DỊCH COVID-19 TRONG LĨNH VỰC KIỂM TOÁN 201
TẠI VIỆT NAM
Võ Tấn Liêm
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT NỘI BỘ 208
TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRONG THỜI KỲ COVID-19
Phạm Thị Giang Thùy, Phan Công Thanh
KINH TẾ VIỆT NAM 2021: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRƯỚC COVID-19 216
Đào Thông Minh
TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM SAU COVID-19 222
Trần Hữu Ái
Trang 5MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ NHỮNG THÁCH THỨC 230
Trần Thị Thu Vân
KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI CHO KINH TẾ VIỆT NAM SAU ĐẠI DỊCH 236
COVID-19
Phạm Quốc Hưng
DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU COVID-19 242
Nguyễn Hoàng Tiến, Đinh Bá Hùng Anh
Trang 6i
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2020, GDP của Việt Nam đạt 271,2 tỷ USD và GDP bình quân đầu người đạt 2.779
USD/người/năm Với tăng trưởng GDP 2,91%, Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới
tăng trưởng kinh tế dương khi thế giới bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid 19 Nền kinh tế được
dự báo sẽ tăng trưởng 6,6% năm 2021 nếu Việt Nam kiểm soát tốt sự lây lan của dịch bệnh đồng
thời các ngành sản xuất hướng xuất khẩu hoạt động tốt và nhu cầu nội địa phục hồi mạnh
mẽ Nhưng từ tháng 4/2021, tình hình dịch Covid, với biến chủng Delta hoành hành mạnh tại
Việt Nam, đặc biệt tại trung tâm kinh tế lớn nhất nước, TP HCM
Khởi nguồn vào cuối năm 2019, đến nay, đại dịch Covid -19 đã bùng phát trên toàn thế
giới Theo số liệu từ Bộ Y tế, đến ngày 29/8/2021, thế giới ghi nhận 216.756.218 người nhiễm
bệnh, 4.508.043 người tử vong tại các quốc gia và vùng lãnh thổ Tại Việt Nam, số ca nhiễm tăng
nhanh đến 422.469, tử vong 10.405 người Đại dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng toàn diện, sâu
rộng đến tất cả quốc gia, hiện vẫn diễn biến phức tạp Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm
trọng Đại dịch đang có những diễn biến hết sức khó lường, cho dù nhiều nước đã bắt đầu quá
trình phổ biến vắc-xin Thực tế, Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các lĩnh vực kinh tế -
xã hội Việt Nam, gây gián đoạn chuỗi cung ứng sản xuất và lưu thông hàng hóa, một số ngành
như: xuất, nhập khẩu, du lịch, dịch vụ công, dịch vụ lưu trú, ăn uống, y tế, giáo dục, lao động,
việc làm bị tác động trực tiếp; nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp
quy mô, v.v Việt Nam đang bước vào giai đoạn chiến lược 2021-2030 với những mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội mới Như vậy liệu kinh tế Việt Nam có đạt được mức tăng trưởng như kịch
bản đã dự báo, liệu các ngành sản xuất, các doanh nghiệp có vượt qua đại dịch Covid - 19 để tiếp
tục ổn định và phát triển? Đây chính là những vấn đề đang được đặt ra đối với các nhà chính
sách, các nhà nghiên cứu nói chung
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, Khoa Kinh tế - Quản trị tổ chức Hội thảo “KINH TẾ
VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU COVID -19” Với 27 bài viết xoay quanh chủ đề nêu trên, hội thảo
nhằm tập hợp các bài tham luận, các bài viết, các ý kiến, quan điểm trao đổi của các nhà nghiên
cứu, các giảng viên trong và ngoài Khoa về tình hình kinh tế Việt Nam hậu Covid -19
Thay mặt Ban tổ chức hội thảo và Ban biên tập kỷ yếu, chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Quý tác giả đã đóng góp bài viết tham luận cho hội thảo, tham gia hội thảo và chia sẻ những quan
điểm, ý kiến với chủ đề nêu trên
TS Trần Anh Dũng
Trưởng Khoa Kinh Tế -Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến
Trưởng Ban tổ chức Hội thảo
Trang 7ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 08 năm 2021
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO
“KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU COVID-19”
8h05-8h15 Phát biểu khai mạc của Lãnh đạo Trường
Đại học Văn Hiến
TS Từ Minh Thiện - Hiệu trưởng
Kinh tế - Quản trị
AND VIETNAMESE ECONOMY AFTER COVID-19 PANDEMIC
Tác giả: TS Hồ Cao Việt
COVID 19 ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Tác giả: ThS Nguyễn Anh Phúc
COVID-19 ĐẾN XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
Tác giả: ThS Trần Huy Cường
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HẬU COVID-19
Tác giả: ThS Phan Thị Kim Xuyến
COVID-19 ĐẾN XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
Tác giả: ThS Nguyễn Minh Xuân Hương
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG TMĐT ĐỐI VỚI NGÀNH BÁN LẺ TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19 Ở VIỆT NAM
Tác giả: ThS Mai Lưu Huy
TS Trần Anh Dũng
Trưởng Khoa Kinh Tế -Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến
Trưởng Ban tổ chức Hội thảo
Trang 81
GLOBAL VALUE CHAIN AND VIETNAMESE ECONOMY
AFTER COVID-19 PANDEMIC
Ho Cao Viet * Abstract
Global value chains (GVCs) have powered economic transformation by enabling developing
countries to specialize and catalyze growth and job creation (Francesca de Nicola,
2020) 1 Today, GVCs are accounting for nearly 70% of the total share of global trade (Santiago
Fernandez de Cordoba and Rubiah Lambert, 20202) UNCTAD (2020) estimated that
value-added trade in developing countries contributed nearly 30% to countries’ GDP on average, as
compared with 18% in developed countries
Covid-19 pandemic poses unprecedented challenges to global value chains by disrupting
both the supply of goods and also the demand for them How has the coronavirus pandemic
affected enterprises in Vietnam that are engaged in global value chains? How are enterprises
adapting to the new normal? What is the role of policy? What are the strategic solutions for
Vietnamese economy? These questions would be discuss in the paper
Key words: Global value chains, Covid-19, pandemic, offshoring, re-shoring
1 Introduction
Globalization has changed the international trade over the last 50 years not only has the
volume of trade nearly tripled but also changed in its form and complexity
Global value chains (GVCs) have powered economic transformation by enabling developing
countries to specialize and catalyze growth and job creation (Francesca de Nicola, 2020)3 Today,
GVCs are accounting for nearly 70% of the total share of global trade (Santiago Fernandez de
Cordoba and Rubiah Lambert, 20204) UNCTAD (2020) estimated that value-added trade in
* TS Hồ Cao Việt, Giảng viên Khoa Kinh tế - Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến
1 Francesca de Nicola, 2020 How covid-19 transformation global value chain lessons in Ethiopia and Vietnam
Trang 92
developing countries contributed nearly30% to countries’ GDP on average, as compared with
18% in developed countries
Since the break of Covid-19 pandemic, there has been a discussion about changes to GVCs,
the analysis of the reasons for changes both from a positive angle, analyzing expected changes in
the behavior of enterprises, and policy interventions by governments (Marc Bacchetta et al.5,
2021)
The Covid-19 pandemic has posed unprecedented challenges to global value chains by
disrupting both the supply of goods and also the demand for them How has the coronavirus
pandemic affected enterprises in Vietnam that are engaged in global value chains? How are
enterprises adapting to the new normal? What is the role of policy? What are the strategic
solutions for Vietnamese economy? These questions would be discussion in the paper
2 Trends of transformation of GVCS during covid-19 pandemic
Covid-19 will reinforce relocation and offshoring trends by both automation and reshoring
allow more flexible adjustment to changing demand, mitigating enterprises’ risk
The supply chain disruption caused by Covid-19 might undermine economic integration and
encourage self-sufficient economic system, in strategic sectors: medical equipment and drugs,
production of inputs for assembling sophisticated machines, final production of which still occurs
in high-wage countries (UNCTAD, 2020)
With most economies under full or partial lockdown and with trade and investment
contracting, the future of offshoring is more uncertain than pre-Covid-19
The WTO predicts a trade fall of between 13% and 32%, while UNCTAD6 estimates a FDI
contradiction of 30% to 40% during 2020 and 2021 (Piergiuseppe Fortunato, 20207)
Before Covid-19, industry 4.0 technologies were already fostering a reorganization of global
value chains involving significantly relocation (and reshoring) of production activities
Automation unlocks new labor-saving technologies, which could potentially reduce reliance on
5 Marc Bacchetta, Eddy Bekkers, Roberta Piermartini, Stela Rubinova, Victor Stolzenburg, and Ankai Xu (2021)
Covid-19 and global value chains A discussion of arguments on value chain organization and the role of the WTO
https://www.wto.org/english/res_e/reser_e/ersd202103_e.htm
6 United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), hay Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên
Hiệp quốc), được thành lập năm 1964 theo nghị quyết 1995 của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc
UNCTAD hiện có 194 thành viên quốc gia và vùng lãnh thổ, đặt trụ sở tại Genève, Thụy Sĩ UNCTAD được coi là
tổ chức kinh tế thương mại lớn nhất thuộc hệ thống Liên Hiệp quốc Mục đích của UNCTAD là thúc đẩy sự phát
triển kinh tế nói chung và thương mại nói riêng của tất cả các nước thành viên, nhất là các nước đang phát triển
7Piergiuseppe Fortunato, 2020 How covid-19 transformation global value chains. https://unctad.org/fr/node/27709
Trang 103
low-skill labor in manufacturing and reduce the benefits of offshoring Automation also has
important implications for the global geography of production, as value chains will become more
regional in nature, moving closer to customer markets where ecosystems are more supportive to
business (Piergiuseppe Fortunato, 2020)
In fact, global value chains with labor-intensive, multinational corporations might find it
economically more profitable to maintain their production facilities close to the final markets,
where labor costs are low and the supply of workers able to operate complex machines is not
enough to make automation viable (Piergiuseppe Fortunato, 2020)
The Covid-19 pandemic could contribute to diversification of sources of supply whose
extent will vary by sector depending on the costs of value chain reorganization The pandemic, by
contrast, is not likely to contribute much to re-shoring, the return of manufacturing activities to
industrialized countries, which is more likely to be driven by pre-existing trends such as rising
factor costs in emerging countries, increasing uncertainty about trade policy, and robotization and
automation of production The pandemic has led to increased attention to the provision of
essential goods in situations of crisis, global cooperation such as domestic production and export
restrictions (Marc Bacchetta et al., 2021)
Often these pleas favor so-called re-shoring, a return of manufacturing activity and jobs
which were previously offshored to industrialized countries Robert Lighthizer (2020), the US
Trade Representative, for example argued in the New York Times that "the era of offshoring US
jobs is over"
Beata Javorcik (2020), Chief Economist at the European Bank for Reconstruction and
Development, observed that the Covid-19 pandemic together with uncertainty about future trade
policy will force companies to think about re-shoring and diversifying sources of supply
Caroline Freund (2020), Director of Trade, Regional Integration and Investment Climate at
the World Bank, for example argues that bringing supply chains back home “would defy
economic logic” and Sebastian Miroudot (2020), OECD economist, argues that self-sufficiency
or domestic production will not increase robustness of GVCs
To limit the negative impact of location specific shocks or uncertainties, firms can diversify
sources of supply A significant share of global manufacturing production is concentrated in
China (Baldwin and Freeman, 2020)
3 Impacts of transformation on Vietnamese economic
Trang 114
“This perfect storm of demand and supply shocks could potentially derail early successes in
economic growth and poverty reduction achieved in some countries in the region Active
private-public partnerships to support affected industries and to provide safety nets for workers, are
critical to supporting commerce and helping to sustain lives and livelihoods during and after
COVID-19.” (Hafez Ghanem, 20218)
How has the pandemic affected enterprises in developing countries that are engaged in
GVCs?
Table 1 Major impacts of covid-19 on enterprises in developing countries
Nicola (2020)
(2021) Fall in consumer demand for
clothing (Textile value chain)
Hit apparel and textile suppliers
Lockdowns of overseas suppliers
and disruption to logistics services
(electronic value chain)
Shipping of raw materials and electronic components (delivery of final products to consumers &
overseas suppliers)
Hoàng Thu Thuy (2020)9
Slow the ability of firms to respond
rapidly to the crisis
Leave firms with piles of costly inventory
Mark Green (2020)10
Built on long-term relationships
between lead multinationals (MNEs)
and key suppliers
Rising protectionism Have a keen interest in keeping their core suppliers
Lack of flexibility in operations Mark Green (2020)
Encourage local firms
Automate certain functions,
Accelerate trends of digitalization
Use online platforms
Adopt new technology & business models
Boosting online sales & e-commerce Refocusing on their core products and key suppliers
8 Vice President, East and Southern Africa Region, World Bank
9 Assistant General Manager, Head of Global Procurement Group, Panasonic Vietnam
10 Executive Vice President of Global Supply Chains, PVH Group
11 Vice President, East Asia and Pacific Region, World Bank
12 Country Director for Ethiopia, Decathlon
Trang 125
markets Increase in digitalization in the
firms’ responses
Expanding use of digitalization in purchasing inputs, in reaching consumers, and in necessary government processes
Bringing more stages of production
to the same location
Caroline Freund,
202013
The longer value chain, the riskier
agricultural products components
Raw materials difficult to access downstream agents in the chains
Author (2021)
Border closures and border check
increased transit times
Has raised trade costs across a broad spectrum of components (Increase transportation cost and
communication cost)
Marc Bacchetta et
al (2021)
For many multinational enterprises (MNEs), the pandemic has made it clear that it can be
helpful to move the various components of their business closer to one another, in order to
develop and maintain a more sustainable and resilient production network Indeed, the panel
discussed steering GVCs in the direction of local-to-local, with supply chains closer to the retail
market MNEs are shortening the distance between suppliers and customers and becoming more
vertically integrated with a view to improve production flexibility and operate more sustainably
(Francesco de Nicola et al., 2020)
“The pandemic may also encourage local firms to adopt new technologies and upgrade their
business models For instance, the lockdown of workers might raise incentives for companies to
automate certain functions, encourage digitalization and use of online platforms… and boosting
e-commerce.” (Victoria Kwakwa, 202014)
“Our supply chain has to bring more speed and flexibility, which means there will be
reconfiguration of our chain We are going to look for more local-to-local and closer supply
chains to the retail markets.” (Anas Tazi, 202015)
“One silver lining of this crisis has been the increase in digitalization in the firms’ responses
They are expanding its use in purchasing inputs, in reaching consumers, and in necessary
government processes.” (Caroline Freund, 202016)
13 Global Director, Trade, Investment and Competitiveness, World Bank
14 Vice President, East Asia and Pacific Region, World Bank
15 Country Director for Ethiopia, Decathlon
16 Global Director, Trade, Investment and Competitiveness, World Bank.
Trang 136
The longer global value chains the riskier to ship components, particularly the agricultural
products Vietnam’s agricultural value chains occupied the upstream in which supplier of raw
materials are more difficult to access downstream agents in the chains like processers, stockers,
shippers, transporters, as well as end-users in developed (high-income) countries (author, 2021)
2 What is the role of policy?
Policy will continue to play a key role in helping firms adapt to new business models For
example, trade frictions can be mitigated through deep trade agreements that cover not just trade
but additional policy areas, such as the protection of intellectual property rights and the
environment, as in Vietnam with CPTPP and EVFTA Supply networks can be expanded and
strengthened through policies that promote digital business-to-business (B2B) matchmaking
tools, skills and capacity building, and complementary logistics infrastructure Going forward, a
coordinated approach between government and the private sector is likely to be even more
important Such coordination can help developing countries promote technology adoption and
diffusion, build the capacity of local firms, and implement new strategies for attracting foreign
direct investment (FDI) – especially from firms that add value to local supply chains (Francesco
de Nicola et al., 2020)
“The Vietnamese government is focusing on the long-term competitiveness and
sustainability issues by improving the productivity of local enterprises To promote technology
adoption and diffusion, local firms building capacity and apply new strategies for FDI attraction,
which focus on firms that create value added and local supply chains.” (Thuy Nguyen17)
“Overall, despite differences across industries in terms of the nature of value chain, there is a
powerful trend towards a simple, flexible, and shorter value chain A shift from fragmented to a
much more resilient and responsive value chain may emerge.” (Arkebe Oqubay18)
The shift toward more sustainable and resilient GVCs has been at the core of discussions
among government and business leaders in the time of Covid-19 The pandemic may catalyze
supply-chain changes that were already underway – by promoting near-shoring and regionalizing
of supply and production networks, more extensive digitalization, and more sustainable
production networks and practices Leading firms, local suppliers, and policymakers all have a
key role to play to facilitate these changes while promoting the creation of more and better jobs
(Francesco de Nicola et al., 2020)
17 Deputy Director of Industry Development Center, Vietnam Industry Agency
18 Senior Minister and Special Adviser to Prime Minister of Ethiopia
Trang 147
3 Strategic solutions for Vietnamese economy
Agriculture sector, specially, confronted with others sectors of industry and services in term
of labor force, therefore, the automation and apply 4.0 industry in the sector should be
consideration
After pandemic Covid-19, the country returns to new normal, the enterprises should be
adapting with transformation of global value chains by the way to improve applied technology in
manufacturing, closer to end-clients and final markets, cutting down the sub-chains
To promote technology adoption and diffusion, local enterprises building capacity and apply new
strategies for FDI attraction
To invest on the manufacturing that have value-added high and use of local supply chains
Increase the digitalization and reinforce the e-commerce, boosting online-sales in different
sectors, particularly service sector
Trend of production relocation outside of China encourages Vietnamese enterprises
independences on China suppliers
Motivation of manufacturing production out of China brings opportunities to Vietnam
attracting investment, participating deeply on the chains
Reference
1 Marc Bacchetta, Eddy Bekkers, Roberta Piermartini, Stela Rubinova, Victor Stolzenburg,
and Ankai Xu (2021) Covid-19 and global value chains A discussion of arguments on
value chain organization and the role of the WTO Staff working paper ERSD-2021-3
WTO (Accessed on 22nd April 2021)
https://www.wto.org/english/res_e/reser_e/ersd202103_e.htm
2 Piergiuseppe Fortunato, 2020 How covid-19 transformation global value chains
https://unctad.org/fr/node/27709 (Accessed on 25th April 2021)
3 Santiago Fernandez de Cordoba and Rubiah Lambert, 2020 Post-pandemic plea for
sustainable value chains UNCTAD https://unctad.org/fr/node/2421 (Accessed on 24th
April 2021)
4 United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) https://unctad.org
(Accessed on 24th April 2021)
Trang 158
5 Francesca de Nicola, 2020 How covid-19 transformation global value chain lessons in
Ethiopia and Vietnam
https://blogs.worldbank.org/voices/how-covid-19-transforming-global-value-chains-lessons-ethiopia-and-vietnam
6 Marc Bacchetta, Eddy Bekkers, Roberta Piermartini, Stela Rubinova, Victor Stolzenburg,
and Ankai Xu (2021) Covid-19 and global value chains A discussion of arguments on
value chain organization and the role of the WTO Staff working paper ERSD-2021-3
WTO https://www.wto.org/english/res_e/reser_e/ersd202103_e.htm
7 Piergiuseppe Fortunato, 2020 How covid-19 transformation global value chains
https://unctad.org/fr/node/27709
8 Santiago Fernandez de Cordoba and Rubiah Lambert, 2020 Post-pandemic plea for
sustainable value chains UNCTAD https://unctad.org/fr/node/2421
9 United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) https://unctad.org
Trang 169
TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID 19 ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH
VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Anh Phúc *Tóm tắt
Du lịch Việt Nam là một ngành “công nghiệp không khói” và là ngành kinh tế mũi nhọn
đóng góp quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), trong đó vai trò của các doanh nghiệp
du lịch vừa và nhỏ (SMEs) là không hề nhỏ Cuộc khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid-19 gây
ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế & ngành du lịch ở các quốc gia với những hậu
quả khó đo lường Các doanh nghiệp SMEs trong lĩnh vực du lịch trên toàn thế giới là một trong
những đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp nặng nề nhất của dịch Covid-19 do việc phong tỏa và
giãn cách xã hội Từ đó, việc duy trì hoạt động bình thường của các doanh nghiệp du lịch vừa &
nhỏ trở thành một nhiệm vụ được xem là bất khả thi Mục đích nghiên cứu này khám phá những
thách thức mà các doanh nghiệp du lịch đang gặp phải để từ đó gợi ý ra những giải pháp giúp
cho các doanh nghiệp ứng phó với đại dịch để góp phần phục hồi ngành du lịch Việt Nam
Từ khóa: doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ, tác động của đại dịch Covid-19, du lịch Việt
Nam
Abstract
Vietnam tourism is a "smokeless industry" and a key economic sector that significantly
contributes to the Gross Domestic Product (GDP) Irrespective of the tourism’s stakeholder’s
roles to contribute, the role of small and medium tourism enterprises (SMEs) is very important
The economic crisis caused by the COVID-19 pandemic has severely affected economic activities
and the tourism industry in over the world with unpredictable consequences The SMEs in
tourism worldwide are among the most directly affected by the Covid-19 epidemic due to social
blockdown and social distancing Since then, maintaining the normal operations of small and
medium tourism enterprises becomes an imposible mission The purpose of this research is to
explore the challenges that the Vietnamese tourism businesses are facing Then basing on these
findings, the researcher will suggest some solutions to help SMEs to deal with the pandemic to
contribute to the recovery of Vietnam's tourism industry
Key words: Small & medium tourism enterprises, Covid-19 pandemic’s effects, Vietnam
tourism
* ThS Nguyễn Anh Phúc, Giảng viên Khoa Kinh tế - Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến
Trang 1710
1 Đặt vấn đề
Du lịch là một nghành kinh tế quan trọng của Việt Nam chiếm gần 10% của GDP của Việt
Nam năm 2018 (Word Bank, 2019), tác động lớn phát triển kinh tế nhiều năm qua, là ngành được
xem nhạy cảm bệnh dịch, khủng hoảng (Jiang & cộng sự, 2010) tác động lớn đến sức khỏe con
người, nền kinh tế nghành du lịch Sự bùng phát của bệnh do Virus Corona - 2019 (Covid-19) đã
ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc gia và toàn cầu Nhiều doanh nghiệp du lịch Việt
Nam đang phải đối mặt với các vấn đề khác nhau với mức độ thua lỗ nhất định Đặc biệt, các
doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như giảm nhu cầu, gián
đoạn hoạt động kinh doanh, khách hủy tour, thiếu vốn duy trì hoạt động, Các doanh nghiệp du
lịch Việt Nam đang phải chịu tác động nghiêm trọng do tác động của sự bùng phát Covid-19 đối
với hoạt động kinh doanh Theo đánh giá tác động của ngành du lịch thế giới vào năm 2020 thì
nạn nhân chính của đợt bùng phát Covid-19 là các doanh nghiệp nhỏ và vì so với các doanh
nghiệp lớn các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ thường không có đủ nguồn lực, đặc biệt là tài
chính và quản lý, và không được chuẩn bị cho những sự gián đoạn có thể kéo dài hơn dự kiến
(Bartik và cộng sự, 2020; Prasad và cộng sự, 2015) Ngoài ra, các công ty này phụ thuộc nhiều
vào các giao dịch kinh doanh thông thường của họ và một số lượng nhỏ khách hàng (Williams &
Schaefer, 2013) Do đó, nhiều doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ đang không có khách hàng, một
số hầu như không tiếp tục hoạt động và một số khác chỉ hoạt động cầm chừng với khách du lịch
nội địa
Nếu như doanh nghiệp vừa và nhỏ là trụ cột của nhiều nền kinh tế trên toàn thế giới, cung
cấp thu nhập và tạo việc làm cho một số lượng lớn người dân trên toàn cầu Tương tự, trong
trường hợp của du lịch Việt Nam thì vai trò của doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ là rất quan
trọng đối với nền kinh tế đại diện cho một phần đáng kể các ngành liên quan đến du lịch như lữ
hành, nhà hàng khách sạn, nông nghiệp, sản xuất, bán lẻ, bán buôn, thương mại và dịch vụ Do sự
bùng phát Covid-19 và sự cố ngừng hoạt động, các công ty du lịch Việt Nam đang phải đối mặt
với những tác động tiêu cực chưa từng có đối với hoạt động kinh doanh của họ Theo báo cáo gần
đây của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), năm 2020 Việt Nam
sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch toàn cầu Covid-19 Do đó, điều này cho sự cần thiết
phải kiểm tra tác động của đợt bùng phát Covid-19 đối với các du lịch vừa và nhỏ hoạt động ở
Việt Nam Ngoài ra, cuộc khủng hoảng đại dịch đang diễn ra sẽ cản trở nghiêm trọng hoạt động
Trang 1811
của các doanh nghiệp này vì doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế
tiền mặt, vốn đã bị ảnh hưởng xấu bởi đại dịch (Williams & Schaefer, 2013) Lượng khách quốc
tế chỉ có vào các thời điểm năm 2020 & 2021 hầu như không có khách Khách du lịch nội địa
cũng giảm mạnh do diễn biến phức tạp của dịch bệnh và Việt Nam thực hiện giãn cách xã hội
Doanh nghiệp du lịch gặp khó khăn khiến không ít nhân viên ngành du lịch mất việc làm giảm,
thậm chí không có thu nhập…
Đại dịch y tế toàn cầu đã gây ra một cuộc khủng hoảng chưa từng có trong ngành du lịch
trên toàn cầu, khiến nó trở thành hiện tượng mạnh mẽ nhất của thế kỷ 21 Clive Bishop một
chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn du lịch nhận định Covid-19 nhiều hơn tổng tất cả các “khủng
hoảng” mà các doanh nghiệp gặp phải trong ngành du lịch ít nhất trong 40 năm qua và đã ảnh
hưởng đến mọi người, ở mọi nơi Du lịch trong tương lai là rất khác vì vậy mọi doanh nghiệp du
lịch sẽ phải đánh giá lại các cơ hội và hành động nếu muốn tồn tại (Bishop, 2020) Yếu tố không
chắc chắn về thời gian của đại dịch là rất cao ở các vùng khác nhau trong khu vực, và các biện
pháp dự phòng kèm theo và các biện pháp nới lỏng tiếp theo, rất khó ước tính các tác động ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn của đại dịch đối với du lịch Do đó dựa trên những nhận định của chuyên
gia, các bài nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức và số liệu thống kê của chính phủ, tác giả muốn tìm
hiểu những tác động của dịch Covid-9 đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực du lịch tại
Việt Nam từ đó đưa ra những gợi ý nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và các nhà thực
hành trong việc xác định các chiến lược cần thiết để ứng phó với tác động của đại dịch đang diễn
ra đối với các các doanh nghiệp này
2 Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp SMEs trong ngành du lịch Việt Nam &
tác động của đại dịch Covid-19
Theo số liệu của Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư công bố trong sách trắng doanh nghiệp vào năm
2020 thì tính đến ngày 31/12/2019, cả nước có 758.610 DN đang hoạt động, trong đó doanh
nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 95% Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp tới 45% vào GDP,
31% vào tổng số thu ngân sách hàng năm và thu hút hơn 5 triệu lao động Nhìn chung, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ được thống kê hiện nay thường có nguồn vốn khoảng 10 tỷ đồng với số lao
động bình quân dưới 50 người Xét theo cơ cấu lĩnh vực thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập
trung vào lĩnh vực dịch vụ chiếm tới 67,1%, phần còn lại là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản
xuất, công nghiệp, xây dựng, nông lâm nghiệp… (xem Hình 1) Điều đó chứng tỏ vai trò của
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ và cụ thể là lĩnh vực du lịch đóng vai trò quan
Trang 1912
trọng trong nền kinh tế Tuy nhiên, do nguồn vốn của các doanh nghiệp này hạn chế nên việc áp
dụng công nghệ, thiết bị hiện đại chỉ chiếm tỷ lệ dưới 10%, phần còn lại hơn 90% doanh nghiệp
đang sử dụng máy máy, thiết bị công nghệ đã lỗi thời nên việc chiếm dụng sức lao động là rất lớn
gây năng suất lao động thấp Vì thế các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất dễ bị tác động bởi các biến
cố khủng hoảng của nền kinh tế
Hình 1: Cơ cấu doanh nghiệp theo lĩnh vực tại Việt Nam
(Nguồn: Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư, 2020)
Trong lĩnh vực dịch vụ thì ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế năng động nhất
và tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới hiện nay Theo luật du lịch Việt Nam (2017) thì ngành
dịch vụ du lịch bao gồm: lữ hành, lưu trú, vận chuyển, dịch vụ khác phục vụ cho du lịch Ngành
du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói tạo một động lực giúp tạo việc làm và thúc
đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và sản phẩm địa phương Du lịch một cách nào đó tạo ra việc làm
trực tiếp và gián tiếp, đặc biệt là cho phụ nữ và thanh niên, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng thông
qua vai trò của các doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ Theo báo cáo của hội đồng lữ hành & du
lịch thế giới thì trong năm 2018, ước tính ngành lữ hành và du lịch đóng góp vào tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) toàn cầu 10.4 % và đóng góp trực tiếp là 3.2% Tổng đóng góp và đóng góp trực
Trang 2013
tiếp của ngành này vào GDP vào năm 2019 ước tính đạt mức tương ứng là 11.5% và 3.5%
Ngành du lịch đóng góp khoảng 319 triệu việc làm trên toàn thế giới vào năm 2018 (việc làm
trực tiếp & gián tiếp), tương đương 10% tổng số việc làm toàn cầu Đối với mỗi công việc được
tạo ra trực tiếp trong ngành du lịch, gần 1,5 công việc khác tăng thêm được tạo ra theo một cách
gián tiếp hoặc phát sinh Theo thống kê của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam năm 2019 thì trong xu
thế chuyển đổi và phát triển nền kinh tế Việt Nam, ngành dịch vụ, bao gồm ngành du lịch và
khách sạn, luôn đóng một vai trò quan trọng Tổng đóng góp của Lữ hành & Du lịch vào GDP
của Việt Nam là 32,8 tỷ USD (9,2% GDP) vào năm 2019 và hỗ trợ trực tiếp cho 2,9 triệu việc
làm Điều đó minh chứng rằng ngành công nghiệp không khói là một trong những ngành nghề
đặc biệt quan trọng đóng góp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam và tạo ra rất nhiều công ăn
việc làm góp phần ổn định an sinh xã hội
Ngành du lịch hoạt động độc đáo và môi trường đầy thử thách, các doanh nghiệp SMEs
trong ngành không ngừng thích nghi với thay đổi nhân khẩu học, điều kiện kinh tế, sức khỏe và
các vấn đề an toàn và các mối quan tâm về môi trường Do đó mục tiêu hoạt động kinh doanh
hiệu quả, ổn định và phát triển của các doanh nghiệp SMEs trong ngành du lịch có thể gặp nhiều
thách thức Theo nhận định của Andrea Pierce (2011) thì các vấn đề hiện tại ngành du lịch phải
đối mặt bao gồm, hạn chế về trình độ quản lý, tính thời vụ của nhu cầu ngành, cạnh tranh mới từ
các nền kinh tế mới nổi, tỷ giá hối đoái, biên giới, cơ sở hạ tầng, tăng chi phí hoạt động, vốn, sự
thiếu hụt lao động có trình độ và lo ngại về an ninh, sức khỏe toàn cầu Trong số các doanh
nghiệp trong ngành du lịch được khảo sát, trở ngại thường xuyên & lớn nhất được xác định cho
cả du lịch và kinh doanh liên quan đến du lịch so với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác là
lợi nhuận thấp, chi phí tăng và sự không ổn định của nhu cầu của khách hàng do tác động bởi yếu
tố bên ngoài như kinh tế, dịch bệnh, an ninh… (xem Bảng 1) Trong khảo sát trên thì mối lo ngại
hàng đầu mà các doanh nghiệp du lịch SMEs gặp phải là nhu cầu thiếu ổn định của khách hàng
và tác động của môi trường bên ngoài chiếm tới 73%, so với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực
khác chỉ 63% Như vậy các yếu tố đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong
lĩnh vực du lịch ngay cả tại Việt Nam có rất nhiều các đặc điểm tương đồng với các doanh nghiệp
du lịch trên thế giới là thiếu khả năng nguồn lực, đặc biệt là tài chính và quản lý, và không được
chuẩn bị cho những bị tác động rất lớn bởi yếu tố môi trường bên ngoài như khủng hoảng kinh tế,
an ninh, dịch bệnh… vì thế các doanh nghiệp SMEs này rất dễ bị tổn thương và nguy cơ ngưng
Trang 2114
hoạt động là rất lớn khi thời gian của đại dịch Covid-19 còn kéo dài và diễn biến cực kỳ nghiêm
trọng
Bảng 1 Bảng so sánh các trở ngại ảnh hưởng đến các doanh nghiệp SMEs
trong điều kiện hoạt động bình thường
du lịch (%)
Doanh nghiệp lĩnh vực khác (%)
Nhu cầu khách hàng thiếu ổn định do tác động bởi
yếu tố bên ngoài như kinh tế, sức khỏe, an ninh…
(Nguồn: Andrea Pierce, 2011)
Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 kéo dài từ cuối năm 2019 đến này dẫn đến các quốc gia và tiểu
vùng đã bị ảnh hưởng khác nhau Du lịch đã và đang là một trong những ngành bị ảnh hưởng
nặng nề và nhanh nhất của nền kinh tế Theo LHQ Tổ chức Du lịch (UNWTO, 2020), lượng
khách du lịch quốc tế có thể giảm từ 60% đến 80% vào năm 2020 Thị trường du lịch và lữ hành
toàn cầu được dự đoán sẽ mất 100 triệu việc làm trên toàn thế giới vào năm 2020 Do đó, GDP do
du lịch và du lịch tạo ra được dự đoán sẽ giảm trên toàn thế giới Khu vực Châu Á Thái Bình
Dương có số lượng việc làm có rủi ro cao nhất và do đó mức thiệt hại về GDP có khả năng cao
nhất là 1,04 nghìn tỷ đô la Mỹ Theo Tổng cục Thống kê, khách quốc tế đến Việt Nam trong
tháng 3/2020 giảm mạnh chỉ đạt gần 450.000 lượt khách, giảm 68,1% so với cùng kỳ năm 2019
và giảm 63,8% so với tháng 2 Tổng lượt khách của cả quý I/2020 đạt 3,7 triệu lượt khách, giảm
hơn 18% so cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trong kỳ ước đạt 126.200 tỷ đồng,
tương đương 10% tổng doanh thu hoạt động thương mại, dịch vụ của cả nước, giảm 9,6% so với
quý I/2019; Doanh thu du lịch lữ hành quý I/2020 ước đạt 7.800 tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng mức
và giảm 27,8% Khoảng 40-83% lao động bị mất việc làm hoặc cắt giảm ngày công Khoảng
95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã ngừng hoạt động Xét về yếu tố nội lực các doanh nghiệp
du lịch vừa và nhỏ Việt Nam thường không có đủ nguồn lực, đặc biệt là tài chính và quản lý, và
Trang 2215
không có sự chuẩn bị cho những khủng hoảng Ngoài việc nguồn vốn ít, lợi nhuận hạn chế do
thâm hụt lao động và hiệu quả kém, các doanh nghiệp du lịch SMEs còn phải ký một khoản quỹ
tương đối lớn do quy định của luật du lịch (250.000.000đ cho lữ hành inbound và 500.000.000đ
cho lữ hành outbound) Ngoài ra, các công ty này phụ thuộc nhiều vào các giao dịch kinh doanh
thông thường của họ và một số lượng nhỏ khách hàng Thực hiện giãn cách xã hội hay lo ngại về
vấn đề sức khỏa dẫn đến hầu hết các hoạt động bị tạm ngưng Do đó, nhiều doanh nghiệp du lịch
vừa và nhỏ đang không có khách hàng, một số hầu như không tiếp tục hoạt động và một số khác
chỉ hoạt động cầm chừng với khách du lịch nội địa Mặc dù chính phủ cũng đưa ra nhiều giải
pháp hỗ trợ như gói cứu trợ, kích cầu du lịch, gia hạn nộp thuế… nhưng theo khảo sát thì hầu hết
các doanh nghiệp du lịch không nhận được những hỗ trợ này Vì vậy việc duy trì hoạt động hay
phục hồi sau đại dịch là một nhiệm vụ trở nên rất khó cho các doanh nghiệp hiện nay
Hình 2 Các vấn đề mà doanh nghiệp du lịch Việt Nam quan tâm hàng đầu trong & sau đại dịch
(Nguồn: Tổng Cục Du Lịch, 2020)
3 Kết luận và kiến nghị
Dịch Covid-19 đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, những biến đổi lớn đời sống kinh tế - xã
hội Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập thế giới ảnh hưởng nặng dịch Covid-19 tác
động nền kinh tế Việt Nam nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng Đồng thời cũng đặt ra
nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức, cá nhân, đang tác động mạnh mẽ đến tất cả lĩnh
vực của đời sống kinh tế xã hội con người, quốc gia.Từ tháng 4 năm 2020 trở đi, du lịch ở toàn
thế giới và cụ thể Việt Nam đã tạm thời đi vào bế tắc vì hậu quả của đại dịch bệnh do Covid-19
Nhân sự chất lượng
Cơ chế chính sách
hỗ trợ
Trang 2316
gây ra Xem xét sự không chắc chắn cao về thời gian của đại dịch ở các vùng khác nhau trong
khu vực, và các biện pháp dự phòng kèm theo và các biện pháp nới lỏng tiếp theo, rất khó ước
tính các tác động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của đại dịch đối với ngành du lịch nói chung và
các doanh nghiệp SMEs trong ngành du lịch nói riêng Các vấn đề do tác động của đại dịch như
mất nguồn khách hàng, nhu cầu giảm nghiêm trọng, vốn hoạt động, nhân sự chất lượng chuyển
đổi nghề, cơ chế chính sách hỗ trợ khó tiếp cận… gây ra thách thức sống còn với các doanh
nghiệp du lịch Dựa trên những thông tin được tổng hợp, tác giả xin đưa ra một vài gợi ý như sau:
Về mặt cơ quan quản lý & các doanh nghiệp SMEs trong lĩnh vực du lịch:
Thay đổi chính sách về ký quỹ bắt buộc để tạm thời cho doanh nghiệp được tiếp cận
khoản ký quỹ mà đã đóng khi thành lập doanh nghiệp nhằm có một khoản tiền duy trì hoạt động
Đưa ra chính sách minh bạch về gói hỗ trợ dịch Covid để các doanh nghiệp SMEs dễ tiếp
cận với các khoản vốn vay ưu đãi, được giảm thuế… nhằm giảm thiểu tối đa chi phí nhằm duy trì
hoạt động khi không có được doanh thu cần thiết
Đưa ra gói hỗ trợ đặc biệt cho các doanh nghiệp du lịch nếu họ duy trì lực lượng lao động
trong đại dịch
Thực hiện gói kích cầu về du lịch, triển khai sớm sáng kiến về hộ chiếu Vaccine để mau
giúp nền du lịch được phục hồi bằng cách cung cấp các khoản vay không lãi suất, các khoản vay
có đảm bảo, thế chấp linh hoạt, các lựa chọn tài chính sáng tạo và trợ cấp không hoàn lại Những
điều này có thể mang lại lợi ích cho tất cả các công ty du lịch hoặc các công ty liên quan khác (ví
dụ: khách sạn, nhà hàng, hãng du lịch, hãng hàng không)
Cung cấp kinh phí để quảng bá các điểm đến du lịch (ví dụ như các phiếu quà tặng cho
người dân có thể trợ cấp cho nhu cầu) Cố gắng kiểm soát đại dịch tốt để cải thiện hình ảnh về
một đất nước an toàn cho khách du lịch & ưu tiên kích cầu du lịch nội địa
Tập trung vào thị trường nội địa vì dịch bệnh ở Việt Nam đang được kiểm soát tốt Nhằm
lấy nguồn thu từ du lịch nội địa duy trì hoạt động của doanh nghiệp
Ngoài ra các cơ quan quản lý có thể đưa các giải pháp chính sách linh hoạt là cần thiết để
cho phép nền kinh tế du lịch tồn tại cùng dịch bệnh Hành động phối hợp giữa chính quyền các
cấp và khu vực tư nhân đặc biệt về vấn đề thông tin và phòng dịch là rất cần thiết nhằm khôi phục
lại sự tự tin của du khách Ngoài ra các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch
nên đánh giá lại sự yếu kém, lỗ hổng bị bộc lộ ra trong giai đoạn Covid – 19 để từ đó có những
sự chuẩn bị tốt nhằm giúp ngành du lịch thích nghi được với những khủng hoảng
Trang 2417
Tài liệu tham khảo
1 Andrea Pierce, (2011) Small and Medium-Sized Enterprises in Tourism Industries Trích
dẫn ngày 25/4/2021 từ website
https://www.ic.gc.ca/eic/site/061.nsf/vwapj/SBFProfile-ProfilFPE_Dec2011_eng.pdf/$file/SBFProfile-ProfilFPE_Dec2011_eng.pdf
2 Bartik A., Bertrand M., Cullen Z.B., Glaeser E.L., Luca M., Stanton C How are small
businesses adjusting to COVID-19? Early evidence from a survey Harvard Business
School Working Paper 2020;20(102):1–37
3 Bishop C., (2020) How has COVID-19 impacted you? Trích dẫn ngày 25/4/2021 từ
website https://travelmassive.com/community/clivebishop
4 Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư, (2020) Sách trắng doanh nghiệp 2020 Trích dẫn ngày
25/4/2021 từ website
https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2020/04/Ruot-sach-trang-2020.pdf
5 Jiang, B., & Tribe, J (2010) Tourism jobs short lived professions: Student attitudes
towards tourism careers in China Journal of hospitality, leisure, sport and tourism
education, 8(1), 4-19
6 Prasad S., Su H.-C., Altay N., Tata J Building disaster-resilient micro enterprises in the
developing world Disasters 2015;39(3):447–466
7 Tổng Cục Du Lịch Việt Nam (2019) Báo cáo thường niên du lịch Việt Nam 2019 Trích
10 UNWTO, (2020) Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): Khách du lịch quốc tế năm 2020
giảm 73,9%, lùi lại thời điểm cách đây 30 năm Trích dẫn ngày 25/4/2021 từ website
https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/35610
Trang 2518
11 Williams S., Schaefer A Small and medium-sized enterprises and sustainability:
Managers’ values and engagement with environmental and climate change
issues Business Strategy and the Environment 2013;22(3):173–186
12 Worldbank, (2019) Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam 2019 Trích dẫn ngày 25/4/2021
từ website https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview
13 WTTC (2019) Lữ hành và du lịch: Nghiên cứu đánh giá xu hướng 2019 Trích dẫn ngày
15/4/2021 từ website
https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/ -asia/ -ro-bangkok/ -ilo-hanoi/documents/briefingnote/wcms_750532.pdf
Trang 2619
THẢO LUẬN CÁC CHIẾN LƯỢC DU LỊCH QUỐC GIA
TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
Nguyễn Thị Mộng Thu * Tóm tắt
Sự bùng phát Covid-19 đã ảnh hưởng đáng kể đến việc đi lại và du lịch toàn cầu Việt Nam
cũng có tác động tiêu cực đến du lịch trong và ngoài nước Các hãng hàng không đã hủy các
chuyến bay, trong khi các khách sạn gần như bỏ trống hoàn toàn và kết quả là các cơ quan, đơn
vị du lịch đang phải đối mặt với thiệt hại kinh kinh tế lớn và cắt giảm việc làm ở Việt Nam Sự lây
lan của Covid-19 được dự đoán sẽ gây ra tác động bất lợi lâu dài đến du lịch ở Việt Nam Nghiên
cứu nhằm gợi mở một số giải pháp giúp phục hồi kinh tế du lịch Việt Nam sau khi đại dịch
Covid-19 kết thúc dựa trên những chiến lược đề xuất của UNWTO
Từ khóa: dịch Covid-19, chiến lược phục hồi kinh tế, du lịch Việt Nam
Abstract
The Covid-19 outbreak has had a significant impact on global travel and tourism Vietnam
also has a negative impact on inbound and outbound tourism Airlines have canceled flights,
while hotels are almost completely empty and as a result travel agencies and units are facing
huge economic losses and job cuts in the region The spread of Covid-19 is predicted to have a
long-term adverse impact on tourism in Vietnam The study aims to suggest some solutions to
help restore Vietnam's tourism economy after the Covid-19 pandemic ends, based on the
strategies proposed by UNWTO
Keyword: Covid-19, Economic recovery strategy, Vietnam tourism
1 Giới thiệu
Đại dịch Covid-19 đã có tác động tiêu cực và mạnh mẽ lên nền kinh tế thế giới và Việt Nam
Vì vậy, mỗi quốc gia phải có những giải pháp để hạn chế rủi ro của dịch bệnh đối với nền kinh tế,
bảo đảm tăng trưởng hợp lý, ổn định xã hội, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững trong những năm tới (Nguyễn Quang Thuấn, 2020)
Trong bối cảnh nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh thì du lịch được cho là
ngành bị ảnh hưởng lớn nhất Dịch bệnh Covid-19 (hay còn gọi là SARS-CoV-2), bắt đầu
* ThS Nguyễn Thị Mộng Thu, Giảng viên Khoa Kinh tế - Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến
Trang 2720
nghiêm trọng từ đầu năm 2020, trở thành đại dịch của thế giới với mức độ nghiêm trọng nhất
trong vòng 100 năm trở lại đây trên phạm vi toàn cầu Du lịch được dự báo là một trong những
ngành chịu tổn thất nặng nề nhất Tác động của Covid-19 tới ngành du lịch được dự báo là rất
lớn, vượt xa những đợt dịch bệnh mà thế giới trải qua trong vài thập kỷ gần đây Trước một dịch
bệnh nghiêm trọng, ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu, nhiều nước trên thế giới đã đưa ra những
giải pháp khẩn cấp nhằm cứu nguy nền kinh tế như hạ lãi suất, đưa ra những gói cứu trợ lớn hỗ
trợ doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng… Chính phủ Việt Nam cũng đã nhanh chóng có những
giải pháp đưa ra những chính sách và gói cứu trợ cụ thể để giúp cho các doanh nghiệp, trong đó
có các doanh nghiệp trong ngành du lịch có thể chống đỡ và tồn tại trong dịch bệnh Covid-19
Tuy vậy, tới tháng 4 năm 2020, khi tình hình dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp trên phạm
vi toàn cầu, mức độ ảnh hưởng của bệnh dịch tới ngành du lịch ngày càng rộng lớn và lâu dài,
cần có những đánh giá, phân tích cập nhật và sâu sắc hơn về tác động của dịch Covid-19 đối với
ngành du lịch của Việt Nam Các diễn biến và tác động của dịch Covid-19 cũng cần được phân
tích cụ thể trong ngành du lịch để từ đó có một cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ, mang tính chiến
lược cho một vấn đề có tính chất lâu dài như dịch bệnh Covid-19 (Phạm Trương Hoàng và cộng
sự, 2020)
Vì vậy, bài viết này nhằm mục đích giới thiệu một số chiến lược du lịch quốc gia do Tổ chức
du lịch thế giới của Liên Hiệp Quốc (UNWTO-World Tourism Organization) đề xuất Đồng thời
tổng hợp một số quốc gia trên thế giới đại diện cho các Châu lục đã ứng dụng những chiến lược
này như thế nào Đây có thể là khung tham chiếu cho lãnh đạo ngành du lịch Việt Nam nhằm tìm
ra giải pháp phù hợp để vực dậy ngành du lịch Việt Nam khi đại dịch Covid-19 kết thúc
2 Chiến lược phục hồi kinh tế du lịch theo khuyến nghị của UNWTO
Ngày 30 tháng 12 năm 2011 Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch đã phê duyệt chiến lược
phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Với những quan điểm cụ thể như sau:
- Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao
trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
- Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng
phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng
cạnh tranh
- Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế; chú trọng du lịch quốc tế đến;
tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài
Trang 2821
- Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân
tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát
triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc,
thế mạnh đặc trưng các vùng, miền trong cả nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch (Bộ Văn
Hóa, Thể Thao và Du lịch, 2014)
Tuy nhiên, đến năm 2020 với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến ngành du lịch Dịch bệnh đã phá hủy những chiến lược và mục tiêu kinh tế trước đây
Như vậy làm thế nào để các quốc gia phục hồi kinh tế đặc biệt là kinh tế du lịch một cách nhanh
chóng khi đại dịch Covid-19 kết thúc Đó là vấn đến còn lúng túng và nan giải của nhiều quốc gia
trên thế giới trong đó có Việt Nam Với vai trò và trách nhiệm của mình tổ chức UNWTO đã đề
xuất những chiến lược du lịch nhằm giúp cho các quốc gia thúc đẩy kinh tế du lịch hiệu quả và
bền vững trong thời gian sắp tới
Nhằm xây dựng tiêu chuẩn cho việc phân tích các chiến lược du lịch quốc gia sẽ được tiến
hành sau khi kết thúc dịch Covid-19, bài viết đã sử dụng các chiến lược và chiến thuật do
UNWTO đề xuất bao gồm ba chiến lược như sau: 1 Quản lý khủng hoảng và giảm thiểu tác
động của đại dịch, 2 Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế, 3 Chuẩn bị cho tương lai (Noga
Collins-Kreiner, Yael Ram, 2020)
Bảng tổng hợp dưới đây gồm 3 chiến lược chính với 10 thành phần và 22 tiêu chí tham chiếu
trên 5 quốc gia gồm: Úc, Brazil, Trung Quốc, Ý và Nhật Năm quốc gia khảo sát được lựa chọn
dựa trên yếu tố địa lý, các giai đoạn của đại dịch, các cuộc khủng hoảng lịch sử trong quá khứ và
tình trạng biên giới (mở hoặc đóng cửa) Thông tin dưới đây chủ yếu dựa trên báo cáo của mỗi
quốc gia cho UNWTO về chính sách du lịch quốc gia của họ
Trang 29hoảng và giảm
thiểu tác động
của đại dịch
Kế hoạch quốc gia
Chiến lược của UNWTO 2 Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế
Kế hoạch quốc gia
Chiến lược của UNWTO 3 Chuẩn bị cho tương lai
Kế hoạch quốc gia
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
Úc 3.1 Chuẩn bị cho
khủng hoảng, xây dựng khả
Úc
Trang 30hoảng và giảm
thiểu tác động
của đại dịch
Kế hoạch quốc gia
Chiến lược của UNWTO 2 Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế
Kế hoạch quốc gia
Chiến lược của UNWTO 3 Chuẩn bị cho tương lai
Kế hoạch quốc gia
Úc
3.2 Đầu tư vào nguồn nhân lực
và phát triển tài năng
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
Trung Quốc
du lịch ở tất cả các cấp
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
Trung Quốc
Trang 31hoảng và giảm
thiểu tác động
của đại dịch
Kế hoạch quốc gia
Chiến lược của UNWTO 2 Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế
Kế hoạch quốc gia
Chiến lược của UNWTO 3 Chuẩn bị cho tương lai
Kế hoạch quốc gia
Úc
3.5 Đặt du lịch bền vững vào chương trình thảo luận quốc gia
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
để khôi phục niềm tin và kích cầu
Úc
3.6 Đầu tư vào thị trường điện toán thông minh
Trung Quốc
Úc
Trung Quốc
Trung Quốc
3 Thảo luận về mức độ áp dụng các chiến lược du lịch do UNWTO ở các nước
Trang 3225
Các kết quả được trình bày trong Bảng 1 phản ánh sự khác biệt đáng kể về mức độ áp dụng
ba chiến lược du lịch do UNWTO đề xuất cụ thể như sau:
Chiến lược đầu tiên của UNWTO về “Quản lý khủng hoảng và giảm nhẹ tác động của đại
dịch” đã được chấp nhận một phần Ý và Brazil hoàn toàn áp dụng hai chiến thuật trong số bảy
chiến thuật, và các quốc gia khác chỉ áp dụng một (Nhật Bản và Úc) hoặc không áp dụng bất kỳ
chiến thuật nào (Trung Quốc) Các chiến thuật được áp dụng rộng rãi nhất là: 1.1 - “Khuyến
khích duy trì việc làm, duy trì hoạt động kinh doanh tự do và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương
nhất”; và 1.2 - “Hỗ trợ tính thanh khoản của các công ty.” Mỗi chiến thuật này đã được áp dụng
hoàn toàn bởi hai quốc gia và một phần bởi bốn quốc gia khác
Chiến lược đề xuất thứ hai “Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế” cũng được các nước
khác nhau áp dụng ở mức độ một phần Ý áp dụng bốn chiến thuật trong số tám chiến thuật, Nhật
Bản áp dụng một chiến thuật, và ba quốc gia còn lại không áp dụng Theo đó, chỉ có chiến thuật
2.2 - “Rà soát thuế, phí và các quy định ảnh hưởng đến việc đi lại và du lịch” và 2.5 -“Tạo điều
kiện thúc đẩy du lịch” được ít nhất bốn trong năm quốc gia áp dụng toàn bộ hoặc một phần
Chiến lược thứ ba của UNWTO về “Chuẩn bị cho tương lai” hầu như không được áp dụng,
vì bốn trong năm quốc gia được coi là không thông qua khuyến nghị nào và Ý chỉ áp dụng một
trong bảy chiến thuật là 3.2 - “Đầu tư vào nguồn nhân lực và phát triển tài năng bằng cách duy trì
việc làm” Các chiến thuật khác 3.5; 3.7 hoàn toàn không được thông qua Đối với chiến lược thứ
ba, chỉ có một chiến thuật được thực hiện hoàn toàn bởi một quốc gia (Ý) Các vấn đề về phát
triển bền vững 3.5; 3.7, vốn con người 1.5; 2.4; 3.2, và quản trị 1.6; 3.3 hầu như không được
quốc gia nào áp dụng
Như vậy, trong số tất cả các quốc gia được khảo sát, Ý đã áp dụng nhiều khuyến nghị nhất,
với bảy trong số 22 chiến thuật được thông qua hoàn toàn và một chiến thuật được áp dụng một
phần Nhật Bản và Brazil đã áp dụng hoàn toàn hai chiến thuật (ngoài ra có năm chiến thuật áp
dụng một phần), Úc áp dụng hoàn toàn một chiến thuật (ngoài ra có tám chiến thuật áp dụng một
phần), và quốc gia còn lại – Trung Quốc - đã không thực hiện đầy đủ bất kỳ chính sách nào được
UNWTO khuyến nghị
4 Thảo luận về các chiến lược phát triển du lịch quốc gia tại Việt Nam
Thứ nhất, các quốc gia được lấy mẫu, mặc dù khác nhau về nhiều mặt, nhưng tất cả vẫn chưa
có chiến lược và kế hoạch phục hồi toàn diện cho ngành du lịch của họ, và hiện tại, các biện pháp
chiến thuật khác nhau được thực hiện nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng hiện nay như một
Trang 3326
phần của chính sách du lịch của quốc gia đó Xu hướng chung ở các quốc gia này là thực hiện các
giải pháp ngắn hạn mang tính địa phương, đặc biệt là không quốc gia nào có thể quyết định về du
lịch trong và ngoài nước trong thời gian dịch bệnh xảy ra
Thứ hai, không có chính sách hay chiến lược duy nhất nào phù hợp với tất cả các quốc gia,
và do đó mỗi quốc gia đã áp dụng các kế hoạch khác nhau điều này có thể hiểu được, vì mỗi quốc
gia chịu tác động khác nhau của đại dịch và có những đặc điểm riêng biệt, thể hiện qua các yếu tố
chính trị địa phương, mạng lưới du lịch và các tác nhân xã hội và văn hóa (Head, 2007)
Thứ ba, chiến lược “Chuẩn bị cho tương lai” của UNWTO đã không được hưởng ứng, vì các
quốc gia có xu hướng tập trung vào các chiến thuật địa phương và ngắn hạn để tái khởi động du
lịch thay vì đầu tư vào kế hoạch bền vững dài hạn (Gössling và cộng sự, 2020)
Bảng 1 chỉ thể hiện kết quả tổng hợp của năm quốc gia Úc, Brazil, Trung Quốc, Ý và Nhật
đại diện cho các Châu lục, nhưng trong báo cáo của UNWTO thì không có Việt Nam
Do đó, căn cứ vào “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030” Tác giả sẽ so sánh các chiến thuật Việt Nam đang thực hiện với chiến lược và chiến thuật
đề xuất của UNWTO thông qua bảng tổng hợp sau đây:
Bảng 2 Giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trước khi xảy ra đại dịch Covid-19
VIỆT NAM Chiến lược của
UNWTO 1 Quản lý khủng hoảng và giảm thiểu tác động
Chiến lược của UNWTO 2 Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế
Chiến lược của UNWTO 3 Chuẩn bị cho tương lai
1.Phát triển sản phẩm
du lịch
3.4 Đa dạng hóa thị trường, sản phẩm và dịch vụ
Trang 3427
VIỆT NAM Chiến lược của
UNWTO 1 Quản lý khủng hoảng và giảm thiểu tác động
Chiến lược của UNWTO 2 Kích thích và tăng tốc phục hồi kinh tế
Chiến lược của UNWTO 3 Chuẩn bị cho tương lai
tế, hỗ trợ cho phát triển
3.5 Đặt du lịch bền vững vào chương trình thảo luận quốc gia
6 Hợp tác quốc tế về
du lịch
3.7 Chuyển đổi sang quan hệ kinh tế đa phương và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững
7 Quản lý nhà nước
về du lịch
(Nguồn: Tác giả tổng hợp và so sánh)
Qua bảng so sánh trên chúng ta thấy rằng các giải pháp của Việt Nam có sự tương thích một
phần với chiến lược thứ 2 và thứ 3 của UNWTO đề xuất là tập trung vào phát triển sản phẩm du
lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực, phát triển du lịch bền vững và
hợp tác quốc tế đẩy mạnh phát triển du lịch Lưu ý rằng các giải pháp của Việt Nam được phê
duyệt khi chưa có đại dịch Covid-19 xảy ra, nhưng hiện tại dịch Covid-19 đang diễn biến rất
phức tạp và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành du lịch Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Việt
Nam nên đề ra các giải pháp khẩn cấp phù hợp với tình hình thực tại để giúp ngành du lịch vượt
qua được khó khăn trước mắt Như vậy, chiến lược đề xuất thứ 1 của UNWTO sẽ làm cơ sở tham
Trang 3528
khảo hợp lý cho các nhà lãnh đạo du lịch Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đang
đối mặt với sự tàn phá kinh tế nặng nề do đại dịch Covid-19 gây ra
Như vậy, thông qua báo cáo này mỗi quốc gia tuy có áp dụng chiến lược của UNWTO
nhưng dựa vào đặc điểm khác biệt của mỗi quốc gia mà họ sẽ lựa chọn và kết hợp nhiều chiến
thuật khác nhau Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có tiềm năng kinh tế du lịch rất
mạnh Do đó, lãnh đạo ngành du lịch Việt Nam có thể tham khảo các chiến lược du lịch của
UNWTO đề xuất cũng như của các quốc gia khác từ đó tìm ra một hướng đi mới giúp cho kinh tế
du lịch Việt Nam nhanh chóng phục hồi và hội nhập quốc tế
5 Kết luận
Các chiến lược phục hồi du lịch hiện tại của UNWTO không phải là các chính sách dựa trên
nghiên cứu thực nghiệm mà chỉ cung cấp một phần các giải pháp quốc tế nhằm giúp các quốc gia
có phương hướng phục hồi ngành du lịch hiệu quả Tuy nhiên, chưa có cơ sở dữ liệu nào cung
cấp minh chứng mức độ hiệu quả khi áp dụng các chiến lược này
Tuy vậy, việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ mục tiêu và một chính sách mới dựa
trên cơ sở dữ liệu thực chứng là những nhu cầu quan trọng của ngành du lịch trong giai đoạn
Covid-19
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Quang Thuấn, (2020) Tác động của đại dịch Covid-19 và một số giải pháp chính
sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới Tạp chí Cộng Sản
2 Phạm Trương Hoàng và cộng sự, (2020) Tác động của đại dịch Covid-19 đến ngành du
lịch Việt Nam và những giải pháp ứng phó Tạp chí Kinh tế và Phát triển
3 Head B.W, (2007) Three lenses of evidence-based policy The Australian Journal of
Public Administration
4 Gössling S., Scott D., Hall C.M, (2020) Pandemics, tourism, and global change: A rapid
assessment of Covid-19 Journal of Sustainable Tourism
5 Noga Collins-Kreiner, Yael Ram, (2020) National tourism strategies during the
Covid-19 pandemic Public Health Emergency COVID-Covid-19 Initiative
6 Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du lịch, (2014) Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn 2030
7 https://data.oecd.org/industry/tourism-gdp.htm
Trang 3629
VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ LỰC LƯỢNG NHÂN SỰ HOẠT ĐỘNG
TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH GIAI ĐOẠN COVID-19
Võ Hoàng Bắc * Tóm tắt
Các vấn đề kinh tế như thu nhập thấp, công việc dễ bị tổn thương & triển vọng nghề nghiệp
thấp, thất nghiệp và kế sinh nhai là những nguyên nhân chính dẫn đến sự chuyển đổi nghề nghiệp
của lực lượng nhân sự ngành du lịch và khách sạn ở Việt Nam Sự chuyển đổi này tuy giúp những
người làm dịch vụ có tình hình kinh tế khả quan trong thời kỳ đại dịch, nhưng lại gây ra nhiều
vấn đề cần được thảo luận cho cả bản thân nhân viên ngành dịch vụ và các bên liên quan như
đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định, tình trạng thiếu lao động chuyên môn sau đại dịch, trình độ
của nhân viên không được cập nhật, mục tiêu phát triển bền vững của ngành du lịch … Bài báo
này thảo luận về các vấn đề chuyển đổi nghề do các yếu tố kinh tế trong đại dịch Covid - 19 bằng
cách thu thập số liệu thống kê về sự thay đổi về thu nhập của nhân viên dịch vụ du lịch, tỷ lệ thất
nghiệp, số lượng chuyển đổi nghề và cố gắng tìm hiểu những thách thức chính đối với sự gắn
bó nghề nghiệp của người lao động trong ngành dịch vụ đặc biệt trong giai đoạn bất ổn như
khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh Trên cơ sở thảo luận, bài viết này đưa ra một số đề xuất nhằm
tăng mức thu nhập cho nhân viên ngành du lịch & khách sạn nhằm để duy trì, cũng như gắn bó
với công việc trong ngành mà họ đã chọn trong thời điểm khó khăn này
Từ khóa: Vấn đề chuyển đổi nghề, yếu tố nghề nghiệp, thu nhập của của nhân viên ngành
dịch vụ.
Abstract
Economic issues such as low income, vunerable & poor career prospect, unemployment and
livelihoods are the main reasons leading to career transition of the tourism & hospitality industry
in Vietnam This transition helps these service workers have better economic situation during the
pandemic, but causes a lot of issues that bring under discussion for both service employees & its’
stakeholders such as employment security, stable income, lack of labor after pandemic,
employees’ qualifications, tourism sustainable development goals This paper discusses the
transition issues due to economic factors in the Covid – 19 pandemic by collecting statistics on
the income of each service worker, unemployment rate, transitioning numbers and try to
* ThS Võ Hoàng Bắc, Giảng viên Khoa Kinh tế - Quản trị, Trường Đại học Văn Hiến
Trang 3730
Đổi nghề
Yếu tố cá nhân: sở thích,
đam mê, năng khiếu…
Quyết định
understand the main challenges on service workers’ long-lived professions Basing on the
discussion, this paper gives some suggestions to increase the income level for the tourism &
hospitality employees to sustain and ensure longevity in a career path they’ve chosen in this
difficult time
Key words: career transition issues, profession factors, service worker income
1 Đặt vấn đề
Theo Meryl Reis Louis (1980) nhận định thì chuyển đổi nghề nghiệp là khoảng thời gian mà
một cá nhân đang thay đổi vai trò hoặc thay đổi định hướng của họ đối với một vai trò nghề
nghiệp đã được đảm nhiệm Do đó, thuật ngữ chuyển đổi gợi ý cả một quá trình thay đổi và
khoảng thời gian mà sự thay đổi đang diễn ra Điều đó có nghĩa là chuyển đổi nghề nghiệp là
hành động dịch chuyển của một người hay của nhóm người từ lĩnh vực nghề nghiệp này sang lĩnh
vực nghề nghiệp khác với lựa chọn nghề nghiệp trước đó với mục đích hoặc có khả năng gắn bó
với lĩnh vực mới một thời gian, có thể là một năm hoặc lâu hơn Bingli Jiang & John Tribe
(2010) chỉ ra rằng trong điều kiện bình thường có nhiều yếu tố dẫn đến việc chuyển đổi nghề
trong lĩnh vực du lịch và khách sạn như lý do cá nhân, tính chất công việc, yếu tố con người, yếu
tố học vấn và yếu tố quản lý (Hình 1)
Hình 1 Các tác động thay đổi nghề
(Nguồn: Jiang & cộng sự, 2009)
Yếu tố con người & giáo dục: mối quan hệ, địa vị
xã hội, cơ hội học tập &
phát triển nghề…
Trang 3831
Dựa vào phân tích đó ta dễ phân định các yếu tố trên thành hai nhóm nguyên nhân: nhóm
nguyên nhân thuộc tính chất ngành nghề & nhóm nguyên nhân thuộc về yếu tố cá nhân Trong đó
ngoài các yếu tố xuất phát từ nguyên nhân cá nhân (không phù hợp với nghề, sức khỏe, gia
đình…) thì các yêu tố thuộc nhóm tính chất ngành nghề (mùa vụ, công việc & thu nhập không ổn
định, dễ bị ảnh hưởng bởi các thay đổi của kinh tế, an ninh, dịch bệnh…) dẫn đến nguy cơ một số
lượng lớn hơn các cá nhân có thể sẽ chuyển dịch nghề nghiệp trong lĩnh vực du lịch và khách sạn
sang một lĩnh vực nghề nào đó có điều kiện tốt hơn
Theo báo cáo của tổ chức Lao Động Quốc Tế (2020) thì các vấn đề như: triển vọng nghề
nghiệp kém, nghề nghiệp dễ bị tác động & tổn thương, lương thấp, giờ làm việc phi xã hội, và
căng thẳng của công việc sẽ là một trong những nguyên nhân hàng đầu Như vậy dựa vào yếu tố
ngành thì làm việc theo ca và làm việc ca đêm, việc làm thời vụ, tạm thời hoặc bán thời gian, lao
động thuê ngoài hoặc hợp đồng phụ, và các hình thức việc làm không theo chuẩn khác, thường
xuyên xảy ra trong ngành du lịch vì thế phần lớn nhân sự trong lĩnh vực này được chi trả cho các
khoản bảo hiểm xã hội, công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp Như được nêu ở Hình 2 đặc trưng của
nhiều công việc trong ngành du lịch là mức lương thấp, thời gian làm việc dài, tỷ lệ chuyển việc
cao và hạn chế về chế độ trợ xã hội Ngoài ra, tỷ lệ việc làm phi chính thức lớn, một phần do tính
thời vụ của ngành, kết hợp với sự quản lý, thực thi và tổ chức lao động thiếu chặt chẽ, là một
thách thức quan trọng cản trở nỗ lực thúc đẩy các sắp xếp đảm bảo việc làm thỏa đáng trong
ngành này Lao động di cư, lao động trẻ và phụ nữ chiếm một tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao
động du lịch và đặc biệt có nguy cơ thiếu tiếp cận tới việc làm thỏa đáng, như bị trả lương thấp,
không được hưởng chế độ bảo trợ xã hội thỏa đáng và có nguy cơ bị phân biệt đối xử dựa trên
giới tính Lao động phi chính thức hiếm khi được nghỉ phép hoặc nghỉ ốm và ít có khả năng được
bảo vệ bởi các cơ chế bảo trợ xã hội thông thường hoặc các hình thức hỗ trợ thu nhập như các
ngành nghề khách
Hình 2 Nhóm lao động dễ bị tổn thương
(Nguồn: Tổ chức Lao Động Quốc Tế, 2020)
Trang 3932
Nguồn lao động trong ngành kể cả nam giới và phụ nữ rất đa dạng đã tạo nên một lực lượng
lao động dồi dào, góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành du lịch của Việt Nam Trong
phân tích nêu trên, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch và liên quan tuy dồi
dao nhưng vẫn còn rất hạn chế về mặt số lượng và chất lượng với chỉ khoảng 42% được đào tạo
chuyên môn Như vậy, ngoài những mặt tích cực thì tính chất không ổn định và dễ bị tổn thương
của việc làm tác động quá lớn đến sự thiếu gắn bó của lực lượng lao động có chuyên môn dẫn
đến nhiều thách đố cho ngành du lịch và khách sạn nước nhà Những thách thức đó có khả năng
trở nên trầm trọng thêm trong đại dịch Covid-19 và sau khi đại dịch đi qua Như vậy dựa trên
những nhận định của chuyên gia, các bài nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức và số liệu thống kê
của chính phủ, tác giả muốn tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc chuyển đổi nghề nghiệp của lực
lượng lao động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch & khách sạn, đồng thời nhấn mạnh tác động của
nguyên nhân yếu tố nghề nghiệp (đại diện là sự thiếu ổn định và tính dễ bị tổn thương) đến việc
chuyển đổi nghề nghiệp hàng loạt trong giai đoạn khủng hoảng nhằm giúp cho chúng ta có những
giải pháp phù hợp nhằm giải quyết vấn đề này
2 Nguyên nhân yếu tố nghề nghiệp & mối liên hệ giữa thực tế vấn đề ngành du lịch
Việt Nam với chuyển đổi nghề từ lĩnh vực du lịch sang lĩnh vực khác
Du lịch là một trong những ngành kinh tế năng động nhất và tăng trưởng nhanh nhất trên thế
giới hiện nay Tầm quan trọng của ngành du lịch như một động lực giúp tạo việc làm và thúc đẩy
phát triển kinh tế, văn hóa và sản phẩm địa phương Du lịch đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào
việc tạo việc làm, đặc biệt là cho phụ nữ và thanh niên, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng thông qua
các doanh nghiệp siêu nhỏ, vừa và nhỏ Theo báo cáo của hội đồng lữ hành & du lịch thế giới thì
trong năm 2018, ước tính ngành lữ hành và du lịch đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
toàn cầu 10.4 % và đóng góp trực tiếp là 3.2% Trước khi dịch COVID-19 bùng phát, tổng đóng
góp và đóng góp trực tiếp của ngành này vào GDP vào năm 2019 ước tính đạt mức tương ứng là
11.5% và 3.5% Tính cả số trực tiếp và gián tiếp, ngành du lịch đóng góp khoảng 319 triệu việc
làm trên toàn thế giới vào năm 2018, tương đương 10% tổng số việc làm toàn cầu Đối với mỗi
công việc được tạo ra trực tiếp trong ngành du lịch, gần 1,5 công việc khác tăng thêm được tạo ra
theo một cách gián tiếp hoặc phát sinh Theo thống kê của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam năm
2019 thì trong xu thế chuyển đổi và phát triển nền kinh tế Việt Nam, ngành dịch vụ, bao gồm
ngành du lịch và khách sạn, luôn đóng một vai trò quan trọng Tổng đóng góp của Lữ hành & Du
lịch vào GDP của Việt Nam là 32,8 tỷ USD (9,2% GDP) vào năm 2019 và hỗ trợ trực tiếp cho
Trang 4033
2,9 triệu việc làm (xem bảng 2) Điều đó minh chứng rằng ngành công nghiệp không khói là một
trong những ngành nghề đặc biệt quan trọng đóng góp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam và
tạo ra rất nhiều công ăn việc làm góp phần ổn định an sinh xã hội
Bảng 2 Bảng thống kê tỷ lệ việc làm trong lĩnh vực du lịch & phụ trợ
(Nguồn: Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, 2019)
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng Covid-19 đang có tác động tàn phá đối với nền kinh tế và việc
làm toàn cầu Sau khi vi-rút lây lan khắp khu vực châu Á và Thái Bình Dương, Covid-19 nhanh
chóng lan rộng ra tất cả các khu vực khác trên thế giới Vào giữa năm 2020, du lịch quốc tế về cơ
bản đã bị đình trệ Các biện pháp như hạn chế di chuyển, hủy các chuyến bay và đóng cửa các
doanh nghiệp du lịch đã có tác động ngay lập tức và làm giảm đáng kể cung và cầu các dịch vụ
du lịch nội địa và quốc tế Ngành du lịch là ngành thâm dụng lao động và sử dụng hàng triệu lao
động bị trả lương thấp và tay nghề kém, phần lớn trong số họ là phụ nữ Ở nhiều quốc gia, những
người lao động hiện phải đối mặt với việc giảm giờ làm một cách mạnh mẽ và nghiêm trọng,
giảm lương đáng kể và có nguy cơ mất việc làm Hầu như tất cả các doanh nghiệp trong tiểu
ngành cung cấp dịch vụ lưu trú và thực phẩm, dù là doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ, có khả
năng phải đấu tranh để trụ lại Các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ, chiếm một phần lớn trong
ngành du lịch, đặc biệt dễ bị tổn thương Thật vậy, chi phí phát sinh do cuộc khủng hoảng
Covid-19, bao gồm cả những chi phí liên quan đến các biện pháp phòng ngừa và thay đổi quy trình làm
việc, có thể cao hơn nhiều đối với các doanh nghiệp, vì các nguồn lực thường bị hạn chế và
những khó khăn mà họ thường gặp phải khi cố gắng tiếp cận nguồn vốn Nhiều công ty không có
lựa chọn nào khác ngoài việc tạm thời giảm các hoạt động của mình để giảm thiểu chi phí vận
hành, trong khi nhiều chính phủ đã bắt buộc đóng cửa tất cả các hoạt động kinh doanh không
thiết yếu để bảo vệ sức khỏe cộng đồng Điều này là một trong những minh chứng rõ ràng nhất
cho tính chất thiếu sự ổn định và dễ bị tổn thường trong ngành nghề lĩnh vực du lịch, cũng như
các dịch vụ liên quan
Các hoạt động trong lĩnh vực khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và giao thông hầu hết bị hoãn
lại do lệnh đóng cửa trên toàn quốc Ngoài ra, ngành Hàng không cũng bị ảnh hưởng nặng nề khi
hàng loạt các chuyến bay nội địa và quốc tế đến và đi từ Việt Nam đều bị hủy Lượng khách quốc