1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Trịnh gia chính phả pptx

130 1,9K 54
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trịnh Gia Chính Phả
Tác giả Trịnh Như Tấu
Trường học Universidad Việt Nam
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Tài liệu lịch sử
Năm xuất bản 1933
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lại xét đến sự tình liên lạc của Nguyễn với Trịnh: đức Thế Tổ Trịnh Kiểm nhờ đức Chiêu Huân Nguyễn Kim mới gây lên cơ đồ Vương nghiệp Đức Đoan Quốc Nguyễn Hoàng lại nhờ có Đức Thành Tổ T

Trang 1

TRỊNH GIA CHÍNH PHẢ

Tác giả : Trịnh Như Tấu - xuất bản năm 1933

Trang 2

Là quyển gia phả của chúa Trịnh, chép hết công việc của 12 đời chúa, từlúc thịnh đến lúc suy, gồm đủ mọi việc chính trị, văn chương, ngoại giao, nộichiến, quốc thể, nhân tài,vv Về đời vua Lê, chúa Trịnh: tóm lại là hết thảynhững điều quan hệ đến lịch sửnước Nam trong klhoảng 249 năm từ thế kỷthứ XIV đến thế kỷ thứ XVIII (1539 – 1787) đều có quyển sách này.

Trang 3

Ông Trịnh Như Tấu, dòng dõi nhà Tông, tính lại ham học, mới đỗ Tham

tá, chuyên học sử khoa Trong hạn Thượng du, được ngày công hạ, tự xem Gia phả, dịch ra Quốc văn, thấy chỗ nào khiếm khuyết, lấy “Khâm địch Việt sử” thêm vào cho đủ, thấy chỗ nào sai nhầm trích “Việt Nam sử được” chua vào cho tường Tóm tắt cả thẩy mười hai đời, chia ra làm năm giai đoạn Nói có chứng cứ, như dao chém đá, như đinh đóng cây Văn không cầu kỳ, trẻ con dễ

Trang 4

xem, đàn bà dễ hiểu Lại kê cửu niên hiệu nhà Lê sóng mấy dương lịch, làm thành một quyển có linh trăm tờ, nhan đề: “Trịnh Gia Chính Phả” Làm xong đưa tôi xem: tôi đọc từ đầu đến cuối, hết lòng kính phục, nên cầm bút làm tựa này

Lão Nhai, ngày 15 tháng 3 năm Nhân Thân

Niên hiệu Bảo Đại thứ bảy (21 mars 1932)

Tú tài Hàn lâm viện kiểm thảo

Đầu hoa Trần kinh nam

Trang 5

Chúng ta khi còn nhỏ, thường nghe nói: “Vua Lê Chúa Trịnh”, vẫn tưởng là câu ngạn ngữ thường của thôn quê ta Lúc đã đi học lại thường

ngâm câu: “Trịnh tồn Lê tại, Trịnh bại Lê vong”, cũng không hiểu ý nghĩa

câu ấy thế nào? Sau học đến sử Nam, mới biết câu ngạn ngữ kia phát hiện

ra từ đời hậu Lê, mà có quan hệ với quốc dân lắm, và sự giải quyết hai câu

nọ là tình hình liên lạc của hai nhà, cũng ví như ngũ quan đối với dây thần kinh vậy.

Lê nhờ có Trịnh mới khôi phục được cơ đồ, dẹp yên được loạn giặc, tuyệt diệt được Ngụy Mạc, thu phục được Nam Triều: tìm tòi giống cũ, thay đổi chính mới, đều là nhờ tay chúa Trịnh cả

Trịnh nhờ có Lê mới được vinh tổ diệu tông, phong thê ấm tử: sắclệnh ra Bắc, Bắc phải tuân; vinh quyền sang Nam, Nam phải phục; thu phục được nhân tài, hiệu lệnh được thiên hạ, đều nhờ có vua Lê cả Nên ông Trạng Trình có bảo nhà chúa rằng: “ muốn ăn lúa phải tìm thóc giống cũ” lại dẫn

ra chùa mà chỉ bảo nhà sư: “nên thành kính phụng Phật thì được thụ lộc” Thế nên Trịnh dẫu quyền khuynh thiên hạ mà vẫn phải giữ đạo tử thần, không dám bắt trước như Vương Mãng nhà Hán, Lộc Sơn nhà Đường vậy Vua Lê mấy phen toan mưu trừ chúa Trịnh mà cũng không xong, là bởi tại thiên số Đến sau Nguyễn Hữu Chỉnh dẫn Tây Sơn vào, mượn tiếng “phù

Lê diệt Trịnh”, té ra Trịnh mất thì Lê cũng không còn: thế là kết cục của hai nhà.

Trang 6

Lại xét đến sự tình liên lạc của Nguyễn với Trịnh: đức Thế Tổ Trịnh Kiểm nhờ đức Chiêu Huân Nguyễn Kim mới gây lên cơ đồ Vương nghiệp Đức Đoan Quốc Nguyễn Hoàng lại nhờ có Đức Thành Tổ Trịnh Tùng mới

mở mang được Nam Triều Ấy là đoạn thứ nhất, đoạn giữa thì tuy rằng Nguyễn với Trịnh tranh hành nhau mà vẫn duy trì nhau: Nguyễn vì e có Trịnh mà hết sức mở đất cõi để giúp vua Lê ở ngoài, Trịnh e có Nguyễn mà hết sức giữ đạo thần tử để giúp vua Lê ở trong.

Sau cùng thì Trịnh thất thế mà Nguyến lại lên ngôi, nhớ đến tình xưa nghĩa cũ, sắc cho con cháu nhà Trịnh được coi giữ việc tế tự Tiên Vương Nhà Trịnh có Bản Triều mà được hưởng hương hỏa trăm năm, không đến nỗi luân duyệt như họ Hồ, họ Mạc Thế là nhờ có trung huân của Liệt Vương để lại cho đó.

Nay nhân ông Trịnh Như Tấu đưa tôi xem bộ “ Trịnh Gia Chính Phả”, vậy xin cẩn thuật để làm tựa.

Giang Nam, Ngọc Hồ cư sĩ

Phạm Ngọc Đan

Cẩn tự

Trang 7

BÀI TỔNG LUẬN

Nhà Trịnh, từ đức Thái vương Trịnh Kiểm theo đức Triệu Tổ NguyễnKim giúp vua Lê trung hưng dẹp yên được Châu Hoan, Châu Ái, lấy lạiđược Trấn Hưng, Trấn Tuyên, trải thờ vua Trang Tôn, vua Trung Tôn, vuaAnh Tôn nhà Lê tặng tước Minh Khang Đại Vương

Đức Trịnh Tùng phong tước Bình An Vương, bắt giết được Mạc MậuHợp, lấy lại được thành Thăng Long, nối dõi trí cha, giúp lên nghiệp đế, trảithờ bốn triều, dựng thành Vương phủ, anh hùng tiếng lừng Trung Quốc

Đức Trịnh Tráng phong tước Thanh Vương, giúp quân cứu nhà Minh, saitướng trừ Ngụy Mạc, tôn phù vua Thần Tông, vua Chân Tôn; vua nhà Minhtặng phong “An Nam Phó Quốc Vương”

Đức Trịnh Tạc phong tước Tây Vương, trải thờ vua Thần Tôn, vua ChânTôn; vua nhà Minh tặng phong “An Nam Phó Quốc Vương”

Đức Trịnh Tạc phong tước Tây vương, trải thờ vua Thần Tôn, HuyềnTôn, Gia Tôn, bốn triều, đánh bắt được giặc Mạc Kinh Vũ, lấy lại được trấnCao Bằng

Trang 8

Đức Trịnh căn phương tước Định vương, khi tuổi trẻ giúp ông và cha, lấylại được nhiều cảnh thổ, thờ vua Lê Hi Tôn, Lê Dụ Tôn.

Đức Trịnh Cương phong tước An vương, sửa đổi nhiều việc trong nước.Đức Trịnh Giang phong tước Uy vương, dựng vua Thuần Tôn, vua ÝTôn, săn sóc việc chính trị, khuyến khích bọn nho thần

Đức Trịnh Doanh phong tước Minh vương, tôn phủ vua Lê Hiển Tôn,chọn dùng kẻ hiền tài, dẹp yên được loạn giặc,lưu tâm về việc chính trị, trăm

Đức Trịnh Bồng phong tước Ấn độ vương, trí toan khôi phục, lại bịNguyễn Hữu Chỉnh đánh thua, chán nản sự đời, xuất gia đầu Phật

Họ Trịnh nhà ta, từ Đức Thái vương Trịnh Kiểm tổng chính đến đức Ấn

độ vương Trịnh Bồng xuất gia truyền ngôi chúa, mười hai đời chẵn, cộng haitrăm bốn mươi chín năm, thực là một nhà không phải là Đé, cũng khôngphải là Bá, quyền khinh thiên hạ mà vẫn giữa đạo tử thần Không những cácvua đời nhà Lê tấn phong vương tước mà dẫn đến vua đời nhà Nguyễn còntruy niệm ân tình Nên có sắc dụ cho tổ tôn họ Trịnh đã trở về trước được

Trang 9

biệt cấp tự đièn mà nòi giống họ Trịnh ta về sau này đòi được miễn trừ sưudịch.

Thế mấy biết: Nước có thay đổi, nhà có thịnh suy nhưng bao giờ đối vớinước cũng phải lấy Trung làm đầu, đối với nhà phải lấy Hiếu làm trọng, nêntường thuật hành trạng của tổ tôn đời trước, soạn thành bộ Gia phả này,mong con cháu đời sau trông đó làm gương, sao giữ được:

“ Con nhà tông, chẳng giống lông cũng giống cánh”

Trang 10

LỊCH SỬ VƯƠNG NGHIỆP NHÀ TRỊNH

ĐOẠN THỨ NHẤT CÔNG ĐỨC LIỆT TỔ

Cụ Hưng tổ Phúc ấm vương Trịnh Liễu, người làng Sáo Sơn, huyện VĩnhPhúc, phủ Thiệu Hóa, trấn Thanh Hóa, lúc bé cha mẹ mất sớm, lấy nghề càycấy chăn nươi để sinh nhai, lại vốn có lòng nhân từ hiền hậu Một hôm, trờigần tối, chợt gặp ông già bảy mươi tuổi trên bờ sông, xin ngủ trọ một dêm

Cụ chào mời vui vẻ, cùng đi về nhà, tiếp đài rất hậu Đêm khuya, ông giàbảo cụ rằng: “Tôi xem ông có lòng thành thực tiếo đẫi tôi Bên nam núiHùng Lĩnh có một ngôi đất, để mả ở đấy, bốn đời sau, có thể làm lên Vươngnghiệp Tôi muốn lấy chỗ đất đấy trả ơn ông, ông nghí sao?- Cụ thưa rằng: “Tôi dám mong đâu thế!”- ông già lại bảo rằng: “Trời cho người cho, khôngphải tìm cũng được”.Cụ theo nhời ông cùng đi lấy hài cốt thiên nhân vềchôn chỗ đó, song cùng đi đến bên Đông núi Lệ Sơn, xứ Ngõ Thắng, xãBiện Thượng Ông già chỉ bảo cụ rằng: “Chỗ này có thể lập ngôi dương cưđược” Lại đi đến Mả Thắm, ông già nói rằng: “Chỗ này quý địa, trăm nămsau có thể làm âm phần tiếp phúc được”, rồi hai người cùng trở lại Sáo Sơn.Đương lúc chè chén vui vẻ, ông già đủng đỉnh ra ngoài, rồi không biết đi đâumất, tìm không thấy mới biết là Thần trên trời giáng xuống (sau phong làTống Thiền Thần Vương)

Cụ lấy con gái họ Hoàng làng Biện Thượng rồi rời sang ở đấy

Cụ sinh ra đức Diễn Khánh vương Trịnh Lan

Trịnh Lan sinh ra đức vương Trịnh Lâu

Trang 11

Trịnh Lâu lấy con gái họ Hoàng thôn Hồ, làng Vệ Quốc (huyện YênĐịnh), sinh ra đức Thế Tổ Minh Khang Đại Vương Trịnh Kiểm.

Trịnh Kiểm gây lên Vương nghiệp truyền mười hai đời, cộng hai trăm bốn mươi chín năm

Trang 12

ĐOẠN THỨ HAI HÀNH TRẠNG CỦA LIỆT TỔ

1 ĐỜI THẾ TỔ MINH KHANG ĐẠI VƯƠNG (1539 – 1569)

Trịnh Kiểm mặt vuông, tai to, mồ côi cha từ năm lên sáu Mẹ con nghèođói, ai cũng khinh để Trịnh Kiểm phân tri, bỏ Biện Thượng lại về Sáo Sơn,thường nhật vẫn chăn trâu thuê trong núi Lệ Sơn, tụ tập trẻ mục đồng, lấy gàvịt làm lương thực, lấy trâu bò giả làm voi ngựa, bẻ bông lau giả làm cờ xí,bầy cơ ngũ, tập trận mạc Người làng khó chịu, toan mưu hại Trịnh Kiểmmới chạy về với bầy tôi nhà Mạc là tước Ninh Bang Hầu người làng BiệnThượng, chăn ngựa cho tước hầu ở Thạch Thành (xách Thọ Liêu), rồi lấymột con ngựa giỏi chạy sang Mường Sùng (Cổ Lũng Ai lao), còn bà mẹ phảitrốn về quê mình là làng Vệ Quốc Trịnh Kiểm nghe tin về thăm mẹ Cóngười tố giác với tước Hầu, tước Hầu sang Sáo Sơn vây bắt, nhưng khôngbắt được Trịnh Kiểm, bèn trói bà mẹ đem dìm xuống sông làng BiệnThượng Xác bà trôi dạt vào bờ sông, gặp người họ Mai làng Đông Biện vớtđem lên bờ, đương tìm ván cuốc toan chôn, ra đến nơi mối đã đùn lên thành

mộ Người ta ai cũng cho là thiên táng Chỗ mộ ấy đến nay xa bồi ra đếngiữa sông, có nhiều cây cổ thụ Trịnh Kiểm được tin mẹ bị nạn, khóc lóc vật

vã, nói không ra lời làm lễ tế mộ, rồi xa lũ Vũ Thời Tung Định đi táng về xứĐông Lãng, thôn Sáo Sơn

Lúc bấy giờ đức Hưng quốc công Nguyễn Kim tôn phủ nhà Lê đóng đồn

ở đất Mường Sùng sứ Ai Lao đang toan trính khôi phục cơ đồ nhà Lê, thấy

Trang 13

Trịnh Kiểm có dũng lược Nguyễn Kim mới tâu cho làm chức Tri mã cơ Dụcnghĩa hầu ông lại gả con gái là Ngọc Bảo cho để cùng gia sức phù Lê.

Vua tôi nhà Lê nương náu ở Cẩm Châu để chiêu tập binh mã Mãi đếnnăm Canh Tý (1540), mới đem quân về đánh Nghệ An và Thanh Hóa, thuphục đất Tây Đô (1543) Bấy giờ quan tổng trấn nhà Mạc là Dương ChấpNhất ra hàng Trịnh, uy tiếng ngày một lừng lẫy

Năm Ất Tỵ (1545) Vua Lê tiến binh ra đánh trấn Sơn Nam, Nguyễn Kim

là Đô tướng Thái Tể Tiết chế thủy bộ mọi dinh, đánh đâu được đấy Khôngngờ Mạc Phúc Hải ủy cho Dương Chấp Nhất là hoạn quan giả cách hàng vua

Lê để thám thính tình thế Vua Lê tính thực, cho binh theo đánh Mạc Mộthôm đi đến huyện Yên Mô, vua Lê mời Nguyễn Kim đến bàn tâm sự, gặptrời nắng bức, đem dưa mời Nguyễn Kim ăn giải khát Nguyễn Kim ngộ phảithuốc độc chết Chấp Nhất trốn về với Mạc Trước khi chết, Nguyễn Kimgiao cả binh quyền cho con rể là Trịnh Kiểm

Trịnh Kiểm được ra phong làm Đô úy tướng Tiết chế thủy bộ mọi dinhgồm tổng chức Ngoại binh Chương quân Quốc trọng sự hàm Thái sư, tướcLượng quốc công

Năm Bính Ngọ (1546), Trịnh Kiểm rút quân về Thanh Hóa lập hành điện

ở đồn Vạn Lại thuộc huyện Thụy Nguyên (Thanh Hóa) để cho vua ở, dựnghành dinh ở xã Biện Thượng rồi chiêu mộ những kẻ hào kiệt, luyện tập quân

sĩ, tích trữ lương thảo để lo việc nước Anh hùng hào kiệt ở Châu Hoan,Châu Diễn (Nghệ An) đều vui lòng theo dung nên cảnh thổ Châu Ái ( ThanhHóa) cũng dần dần bình trị cả

Năm Mậu Thân (1548) , vua Trang Tôn mất, Trịnh Kiểm lập Thái tử làDuy Hiên lên làm vua: tức là Trung Tôn, được 8 năm rồi băng hà

Trang 14

Trong mấy năm đời vua Trung Tôn, Trịnh Kiểm giữ thế thủ ở đất ThanhHóa để sửa sang việc binh lương, đợi ngày tiến đánh họ Mạc.

Vua Trung Tôn mất không có con mà lúc bấy giờ dòng dõi họ Lê cũngkhông có ai; việc binh quyền vẫn ở trong tay Trịnh Kiểm cả

Trịnh Kiểm thân đi tìm con cháu nhà Lê, đến làng Bố Vệ ( huyện ĐôngSơn) gặp được cháu huyền tôn ông Lam Quốc công Lê Trừ ( anh vua TháiTổ) tên là Duy Bang (tục gọi là Chúa Chổm) rước về dựng lên làm vua, tức

là vua Lê Anh Tôn

Năm Mậu Ngọ niên hiệu Chính Trị thứ nhất (1558), trời mưa to luôn,trong nước mất mùa, dân tình đói kém, Trịnh Kiểm sắp sửa tiến binh phảihoãn đến năm sau, cho qua nạn đói Bấy giờ đất Thuận Hóa mới bình định,nhà Lê đặt chức Tam ty và phân ra các phủ, huyện để cai trị nhưng nhân tâmvẫn chưa yên, vả đấy lại là nơi xa hiểm nên Trịnh Kiểm ngày đêm rất lo vềmặt Nam Nguyễn Hoàng nhờ chị là công chúa Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểmcho vào trấn đất Thuận Hóa Tháng mười năm ấy (1558), Trịnh Kiểm dâng

biểu tấu vua Anh Tôn: “đất Thuận Hóa là nơi hình thắng xưa nhà nước nhờ binh tài ở đấy mà thành lên đaị nghiệp Nay nhân tâm chưa yên, nhiều người trốn ra theo Mạc, sợ sau này có kẻ đem giặc vào cướp phá chăng? Nếu không được một người tướng giỏi chấn thủ, không sao yên được Đoạn quân công Nguyễn Hoàng vốn dòng thế tướng, gồm đủ dũng lược, có thể cho vào trấn thủ Thuận Hóa để cùng với các thủ tướng ở miền Quảng nam làm thế ỷ dốc Như vậy nhà vua mấy khỏi cái lo về phía Nam” Vua Lê Anh

Tôn nghe nhời Trịnh Kiểm tâu, chuẩn cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủThuận Hóa, sắc cho mọi việc được chuyên trách, chỉ hàng năm phải cốngthuế

Trang 15

Trịnh Kiểm không phải lo đến mặt Nam nữa, năm sau (1559), khởi binhđánh Mạc.

Mạc Kinh Điển đem binh vào đánh Thanh Hóa cả thảy kể hơn mười trận,trận nào cũng đại bại phải rút quân về, Trịnh Kiểm tiến binh đánh Sơn Nam

kể vừa sáu lần, mà không lần nào được toàn thắng Chỉ có năm Kỷ Mùi(1559), Trịnh Kiểm tự lĩnh sáu vạn quân tiến lên mặt Bắc, chiếm được tỉnhSơn Tây, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Kinh Bắc, Lạng Sơn và các huyện thuộcHải Dương, nhưng lại bị Mạc Kinh Điển đo đường bộ vào đánh úp ThanhHóa, tình thế rất nguy cấp Trịnh Kiểm phải bỏ xứ Bắc về giữ Tây Đô.Thành ra hai bên cứ giữ nhau mãi, không bên nào được hẳn mà cũng khôngbên nào thua hẳn

Trịnh Kiểm tuy chưa lấy lại được đất Bắc Kỳ nhưng đã dẹp yên đượcChâu Hoan, Châu Ái, lấy lại được trấn Hưng, trấn Tuyên, lại vốn có dũnglược hơn người, biết xếp đặt các kế hoạch để chống giữ, biết trù tính việc lâu

dài, khiến cho thế lực nhà Lê mỗi ngày một thêm mạnh Nhà Lê nhờ Trịnh Kiểm mới trung hưng được, mà họ Trịnh lập lên nghiệp Chúa cũng là khởi đầu tự Trịnh Kiểm vậy.

Năm Kỷ Tỵ thứ 12 (1569), Trịnh Kiểm được gia phong làm quan thượngtướng chức Thượng phu Thái quốc công Năm Canh Ngọ niên hiệu chính trịthứ 13 (1570) tháng hai ngày 18, Trịnh Kiểm mất thọ 68 tuổi truy tôn MinhKhang Đại Vương, miếu hiệu là Thế Tổ Chiếu cho con trưởng là Trịnh Cốitước Đại quốc công thay quyền cha lo việc đánh dẹp Nhưng Trịnh Cốikhông biết thương quân sĩ, nên tướng tá không ai quy phục đều bỏ theo cả vềvới em là Trịnh Tùng, Trịnh Tùng nhân đấy được nối nghiệp Vương

Trang 16

2 ĐỜI THÀNH TỔ TRIẾT VƯƠNG TRỊNH TÙNG (1570 - 1623)

Trịnh Tùng con thứ hai của Trịnh Kiểm, thấy tướng tá không quy phụcanh là Trịnh Cối mà theo cả mình, bèn cùng với Lê Cập Đệ và Trịnh Báchrước vua về đồn Vạn Lại (Thanh Hóa) Trịnh Cối được tin đem quân đuổitheo nhưng không đuổi kịp, lại gặp Mạc Kinh Điển đốc mười vạn quân sangđánh cửa bể Linh Trường, Hội Trào, Chi Long; quân đóng ở phủ Hà Trung,khói lửa liền liền hơn mười dặm ta Trịnh Cối tự lượng thế không chống lạiđược, bèn đem quân về hàng họ Mạc, Mạc lại cho giữ quan tước như cũ.Mạc thừa thế kéo binh lên Sông Mã, từ Cửa ứng trở xuống sông Lương TừBổng lật trở về, khói lửa rực trời, tinh kỳ rợp đất Bên tả ngạn sông Mã:Châu Ra, Châu Tầm; ở hữu ngạn sông Mã: huyện Lôi Dương, huyện NôngCống đều biến thành nơi chiến trường Quân Mạc tiến đến vây hành điện chỗvua Lê đóng Trấn Thanh Hóa lại sắp về nhà Mạc

Bấy giờ vua Anh Tôn rời về Đông Sơn phong cho Trịnh Tùng làm TảThừa tướng Tiết chế mọi dinh tướng sĩ, để chống với quân Mạc, Trịnh Tùngsai các tướng giữ các nơi hiểm yếu, rất là chắc chắn Mạc Kinh Điển đánhmãi không được, lâu ngày hết cả lương thực Trịnh Tùng thừa thế rước xagiá đem quân đánh lấy lại được huyện Thụy Nguyên, huyện Yên Định, thắngcho đến huyện Đông Sơn, trọ dinh ở đấy rồi sai ông Hoàng Đình Ái đánh lấyhuyện Lôi Dương, huyện Nông Cống và địa phận Quảng Xương nữa, và saiông Lại Thế Khánh đánh lấy huyện Tống Sơn, huyện Nga Sơn Quân Mạcthua chạy, Kinh điển phải nhổ trại rút quân về Bắc

Năm Tân Mùi niên hiệu chính trị thứ 14 (1571), vua Lê Anh Tôn bàn đếnchiến công, gia phong cho Trịnh Tùng làm quan Thái úy tước Trưởng quốccông và thăng trưởng cho các tướng sĩ Quan thái phó là Lê Cập Đệ sinh

Trang 17

lòng ghen ghét, mưu với vua toan hại Trịnh Tùng Trịnh Tùng giả làm ngườithường lấy vàng ngọc tặng cho Lê Cập Đệ Ngày 21 tháng 11 năm ấy, LêCập Đệ thân lại tạ, Trịnh Tùng phục binh giết ngay Vua Anh Tôn lo sợ lắm,cùng bốn hoàng tử đưa ra tuần ở ngoài, chạy vào Nghệ An lánh ở huyện LôiDương, rồi mất ngày 22 tháng giêng năm Quý Dậu niên hiệu Hồng Phúc thứhai (1573).

Trịnh Tùng thấy vua xuất ngoại rồi bèn rước hoàng tử thứ năm là Lê DuyĐàm ở làng Quảng Thị (huyện Thụy Nguyên) về dựng lên làm vua, đổi niênhiệu là Gia Thái, ấy là vua Lê Thế Tôn

Thời bấy giờ quân Mạc đang tung hoành, Trịnh Tùng một mặt chia quânphòng giữ các nơi hiểm yếu, một mặt tiến đại binh đánh nhau với Mạc ởthành Khoái Châu Tướng nhà Mạc là Lê Thế Viêm, Mạc Kinh Điển yếu thếphải cùng nhau rút quân về Kinh Đô

Rồi trong 10 năm từ Quý Dậu (1573) đến Quý Mùi (1583), Trịnh Tùng

cứ giữ vững đất Thanh Hóa, Nghệ An khiến cho Mạc đánh vào phải haobinh tổn tướng Tướng nhà Mạc là Mạc Kinh Điển, Nguyễn Quyện và MạcNgọc Liễn khi thì vào đánh Thanh Hóa, khi thì đánh cả Thanh Hóa và Nghệ

An nhưng không bao giờ thành công lại phải rút quân về

Năm Mậu Dần (1578), đổi niêm hiệu là Quang Hưng

Đến năm Quý Mùi (1583), Trịnh Tùng xem thế mình đã mạnh, mới cửbinh mã ra đánh Sơn Nam (Nam Định) lấy được rất nhiều lương thực Vềsau năm nào cũng ra đánh khiến cho quân nhà Mạc sức một ngày một suy.Nhà Mạc thấy thế nhà Lê một ngày một mạnh, bèn bắt quân dân đắp ba từnglũy, đào ba lần hào ở ngoại thành Đại La để phòng giữ lũy

Trang 18

Lũy ấy bắt đầu từ làng Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân về phía Tây Bắc HàNội, quanh Tây Hồ, qua xã Yên Thái (làng Bưởi làm giấy ta) theo đông ngạnsông Tô Lịch đến Gia Kiều (nay là Thịnh Quang) suốt sang đông cho đến bờ

đê sông Nhị Hà gần xã Vĩnh Tuy (thuộc huyện Thanh Trì)

Thế là Thăng Long, phía đông sông Nhị Hà về phía tây, nam, bắc có lũybao bọc rất là kiên cố

Trịnh Tùng bèn nhất quyết cử đại binh ra đánh Thăng Long

Năm Tân Mão (1591), Trịnh Tùng sai Diễn quận công Trịnh Văn Hải,thái quận công Nguyễn Tất Lý đem binh trấn thủ các cửa bể và các nơi hiểmyếu; sai Thọ quận công Lê Hòa ở lại giữ ngự dinh và trông nom cả địa hạtThanh Hóa Phòng bị đâu đấy rồi, Trịnh Tùng bèn chia năm vạn (50.000)quân ra làm năm đạo, giao cho Thái phó Nguyễn Hữu Liên, Thái úy HoàngĐình Ái, Lân quận công Hà Thế Lộc, Thế quận công Ngô Cảnh Hựu mỗingười lĩnh một đạo; còn mình tự thân chính làm tướng đem hai vạn quânthẳng cửa Thiên Quan (Ninh Bình) tiến đánh nhà Mạc

Vua nhà Mạc là Mạc Hậu Hợp được tin Trịnh Tùng đem quân ra Bắc,bèn hợp tất cả quân bốn vệ và quân năm phủ được hơn mười vạn, chia làm

ba đạo, sai Mạc Ngọc Liễn và Nguyễn Quyện lĩnh hai đạo đi làm tả hữudực;còn mình tự dẫn trung quân đến đóng đối trận với quân Trịnh Tùng.Trịnh Tùng thấy quân Mạc đã đến bèn tự mình dốc tướng sĩ, thề đánh chođược giặc để yên trong nước Hai bên đánh nhau ở bên sông Hát Gian Quân

họ Trịnh đánh rất hăng Quân nhà Mạc chống không nổi, thua chạy quasông, đảng lốt tranh thuyền, lăn xuống sông chết quá nửa Mạc Hậu Hợp bỏchạy Quân họ Trịnh thừa thế đuổi tràn gần đến thành Thăng Long, đóngquân trên sông Nhuệ (Ninh Giang) Vừa gặp tết Nguyên Đán nên Trịnh

Trang 19

Tùng định chiến cho quân sĩ nghỉ ngơi ăn tết Qua sang tháng giêng nămNhâm Thìn thứ 15 (1592), Trịnh Tùng lập đàn tế trời đất và các Tiên đế nhà

Lê rồi đặt ba điều để nghiêm cấm quân sĩ:

Điều thứ nhất: không được vào nhà dân lấy lương thực và củi đuốc.

Điều thứ hai: không được cướp của cải và chặt cây cối.

Điều thứ ba: không được dâm hiếp đàn bà con gái, không được vị tư thù

mà giết người

Ai phạm ba điều ấy sẽ lấy quân pháp nghiêm trị

Đoạn rồi, Trịnh Tung tiến quân đánh Thăng Long thành Quân sang sôngNhuệ, đóng ở chùa Thiên Xuân thuộc xã Thanh Xuân cách tỉnh lỵ Hà Đônggần hai cây số rồi đến cầu Nhân Mục nghỉ chân

Bấy giờ Mạc Hậu Hợp tuy thua quân cậy có tràng giang để thủ hiểm,thấy quân nhà Trịnh tiến lên bèn sai lũ Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê,Nguyễn Quyện và Trần Bách Niên ở lại cố giữ thành Thăng Long, rồi đemquân qua sông Nhị Hà sang đóng ở lang Thổ Khối (huyện Gia Lâm), dùngmột trăm chiếc chiến thuyền chống giữ mặt đông thành Thăng Long MạcNgọc Liễn thống lĩnh đại quân giữ mặt Bắc, tây - bắc và tây thành ThăngLong, từ sông Nhị Hà (xã Nhật Chiêu) đến cửa Bảo Khánh Bùi Văn Khuê

và Trần Bách Niên cầm bốn đạo quân giữ mặt Tây Nam: cửa Gia Kiều,Mộng Kiều và Triền Kiều (từ Tiên lãng đến Bạch Mai) Còn Nguyễn Quyệnthì dốc quân chống giữ mặt Nam và Đông Nam từ Bạch Mai đến sông NhịHà

Mồng 5 tháng giêng năm ấy (1592), Trịnh Tùng kéo quân qua cầu NhânMục sang sông Tô Lịch, đóng ở Sạ Đôi, để bày trận thế rồi truyền cho các

Trang 20

tướng sĩ nội nhật phải lấy được thành Thăng Long và tướng nào vào đượctrong thành trước sẽ được trọng thưởng.

Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Ninh làm tả dực cầm một vạn quân và voiđánh lấy cầu Gia Kiều (nay là Thịnh Quang) cùng Bùi Văn Khuê và TrầnBách Niên đại chiến ở cửu tây

Hoàng Đình Ái và Trịnh Đồng làm hữu dực có 10.550 quân và voi, đánhnhau với Nguyễn Quyện mặt Nam thành Thăng Long: cửu Triền Kiều (BạchMai) và cửa Nam Giao

Tiền quân và trung quân có Trịnh Đỗ đốc xuất

Quân Nguyễn Hữu Liên lấy được cửa tây, xông vào trong thành, đốt phálâu đài, dinh thự, rồi kéo thẳng đến bến sông Nhị Hà

Trang 21

Hoàng Đình Ái chiếm được cửa Triền Kiều (Bạch Mai), phá cầu TriềnKiều, khiến cho quân Nguyễn Quyện không lối tháo than, chết hại rất nhiều,Nguyễn Quyện bị bắt còn hai con tử trận.

Trịnh Tùng thắng trận rồi, kéo toàn lục quân kỵ binh và voi vào thànhThăng Long Quân Mạc bị chết hoặc bị bắt rất nhiều; phần thì chạy về phíađông, bơi qua sông Nhị Hà để trốn, bị chết đuối rất nhiều Mạc hậu Hợp chốnggiữ hai bên bờ sông Nhị Hà cứu được nhiều đảng lốt trốn qua sông

Khi bắt được Nguyễn Quyện rồi, Trịnh Tùng đối đãi rất ân cần, hỏiNguyễn Quyện những kế hoạch để diệt Mạc Nguyễn Quyện khuyên nên pháluỹ Đại La san phẳng ra làm bình địa, rồi tiếp chiến luôn

Tuy phá mất nhiều thì giờ và tốn công phu mấy xong nhưng Trịnh Tùngcũng nghe theo Nguyễn Quyện bắt quân lấp vào, phá luỹ

Thế là cuối năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng thu phục được thànhThăng Long và cả xứ Bắc Kỳ (phía nam tỉnh Hưng Yên và Thái Bình khôngkể)

Công việc xong rồi, Trịnh Tùng thân về Thanh Hoá đem tin thắng trậncho Vua biết

Trịnh Tùng đã bỏ Thăng Long về Thanh Hoá, Mạc Hậu Hợp không biếtnhân cơ hội ấy chỉnh đốn quân bị, sửa đổi chỉnh thể, lại cứ say đắm trong vòngtửu sắc, bạc đãi các tướng sĩ, đến nỗi các công việc hư hỏng, thân mình bị hại

Tướng nhà Mạc là Bùi Văn Khuê có người vợ tên là Nguyễn Thị, nhansắc hơn người Mạc hậu Hợp toan giết Văn Khuê để lấy Nguyễn Thị làm vợ.Văn Khuê biết ý, đem vợ vào huyện Gia Viễn (Ninh Bình) Mậu Hợp cho quântheo bắt, Văn Khuê phải xin về hàng Trịnh Tùng

Trang 22

Trịnh Tùng mừng lắm, sai Hoàng Đình Ái ra đón Văn Khuê cho VănKhuê làm tiền khu, tự mình lại đem đại binh trở ra Tràng An, gặp quan nhàMạc ở sông Thiên Phái (huyện Ý Yên và Phong Doanh thuộc tỉnh Nam Định),đánh nhau một trận kịch liệt, lấy được 70 chiếc thuyền chiến Tướng nhà Mạc làTrần Bách Niên hàng Trịnh Tùng.

Quân Trịnh Tùng kéo ra Bình Lục (Hà Nam) rồi sang huyện Thanh Oai(Hà Đông) đóng ở bãi Tinh Thần (xã Thanh Thần bây giờ), sau tiến lên đếnsông Hát Giang (cửa sông Đáy ra sông Hồng Hà), gặp tướng nhà Mạc là MạcNgọc Liễn đánh cho một trận điên bái, lấy được kể hàng nghìn chiếc thuyềnchiến Quân Mạc bị tan vỡ

Mạc Hậu Hợp được tin quân mình thua to, bỏ thành Thăng Long đembinh chạy về đóng ở Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương

Trịnh Tùng ra tới Thăng Long sai Nguyễn Thất Lý, Bùi Văn Khuê vàTrần Bách Niên đem quân tiến đánh Kim Thành, đánh Mạc Hậu Hợp lấy đượcrất nhiều của cải vàng bạc và bắt được mẹ Mạc Hậu Hợp cùng quân nhu chiến

mã đem về

Mạc Hậu Hợp thấy nhiều phen quân mình bất lợi bèn cử con là Mạc Toàngiám quốc, rồi tự mình thân chinh đem quân đi đánh Nhân sai người đến hỏiTrạng Trình quốc công mưu kế nên làm thế nào? Trạng Trình bảo: “Một mainước có biến cố, đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng cũng khá di duyên được vài đời”

Bấy giờ quan nhà Mạc là bọn Đỗ Uông, Ngô Tạo cả thảy 17 người, vềhàng nhà Lê

Trịnh Tùng sang đón ở huyện Vĩnh Lại, rồi sai Phạm Văn Khoái đemquân đuổi đánh Mậu Hợp ở huyện Yên Dũng (Bắc Giang) và huyện Vũ Ninh

Trang 23

(nay là huyện Vũ Giang thuộc tỉnh Bắc Ninh), Mạc Hậu Hợp cùng thế phải bỏthuyền chạy lên bộ, vào ẩn trong chùa ở huyện Phượng Nhưỡng (Bắc Giang),Văn Khoái đuổi đến đấy, có người chỉ dẫn bắt được Mậu Hợp đem về ThăngLong, làm tội sống 3 ngày rồi đem chém ở bên sông Bồ Đề, đầu Mậu Hợp đemvào bêu ở trong Thanh Hoá.

Nhà Mạc làm Vua kể từ Đặng Dung đến Mậu Hợp gồm 5 đời cộng được

65 năm (1527 - 1692)

Bấy giờ Mạc Kính Chỉ (con Mạc Kinh Điển và chắt Mạc Đặng Dung) ởĐông Triều biết tin Mạc Hậu Hợp đã chết, bèn tự tôn làm vua, đóng ở huyệnThanh Lâm, họp tộc đảng hơn trăm người và các quan văn võ rồi treo bảngchiêu mộ quân sĩ Chẳng bao lâu được sáu, bảy vạn người Mạc Toàn là conMạc Mậu Hợp cũng theo về với Mạc Kính Chỉ

Trịnh Tùng thấy Mạc Kính Chỉ lại nổi lên, thanh thế lừng lẫy bèn đemquân sang đánh ở huyện Cẩm Giàng và huyện Thanh Lâm Ngày 14 thánggiêng năm Quý Tị niên hiệu Quang Hưng thứ 7 (1593), Trịnh Tùng bắt đượcKính Chỉ và họ hàng nhà Mạc cùng các quan văn võ cả thảy 60 người Trong số

đó có hai quận công Khang Hựu và Hùng Lễ Ngày 27 tháng ấy, Mạc Kinh Chỉ

bị xử giảo

Trịnh Tùng đánh được trận ấy, trở về Thăng Long Tháng 3 năm Quý Tị(1593), rước xa giá vua Thế Tôn từ xách Vạn Lại đến Thanh Oai trú chân.Tháng tư rước về kinh ngự chính điện mở triều và thăng thưởng cho các tướng

sĩ Vua Thế Tôn chịu bốn phương chầu mừng và đại xá cho thiên hạ

Năm sau, tướng nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn tìm được một người con MạcKinh Điển là Mạc Kính Cung lập lên làm vua, chiếm giữ châu Yên Bác ở đấtLạng Sơn để làm căn bản Nhưng chẳng bao lâu Trịnh Tùng sai quan Thái úy là

Trang 24

Hoàng Đình Ái đem binh lên đánh, Mạc Kim Cung và Mạc Ngọc Liễn chốngkhông nổi phải bỏ chạy sang Long Châu.

Đến đây nhà Mạc tan hết mà nhà Lê trung hưng mới thực nhất thống được Nam - Bắc.

Trịnh Tùng tuy đã dứt được nhà Mạc, thu phục được đất Đông Đô nhưngnhà Minh nhận của đút của nhà Mạc vẫn cố ý bênh nhà Mạc không chịu nhậnnhà Lê Vả con cháu nhà Mạc và đảng nhà Mạc còn nhiều: nay xưng vương chỗnày, mai nổi loạn nơi khác, cho nên Trịnh Tùng phải dùng đến cả trí lực: dùngtrí để giữ cho nhà Minh khỏi quấy nhiễu; dùng lực để đánh dẹp dư đảng họMạc

Khi Trịnh Tùng lấy lại được thành Thăng Long rồi, nhà Mạc sang kêu vớiMinh Đế rằng không phải con cháu nhà Lê, chính họ Trịnh nổi lên tranh ngôi.Vua nhà Minh sai sứ đến Nam Quan khám xét về việc ấy

Tháng 3 năm Bính Thân (1596), vua Thế Tôn sai quan Hộ bộ thượng thư

Đỗ Uông và quan Đô ngự sử Nguyễn Văn Giai lên Nam Quan tiếp xứ Tầu Saulại sai hai ông Hoàng thân Lê Cảnh và Lê Lựu cùng với quan Công bộ Tả thịlang Phùng Khắc Khoan đem 10 người kỳ mục, 100 cân vàng, 1.000 cân bạc,

ấn An nam Đô thống sứ của nhà Mạc và ấn An nam Quốc Vương của vua Lêngày trước, sang cho sứ nhà Minh khám Nhưng sứ nhà Minh bắt vua Thế Tônphải thân hành sang hội ở Nam Quan

Trịnh Tùng sai Hoàng Đình Ái đem một vạn quân đi hộ giá, đưa Vua sanghội ở cửa Nam Quan Sang đến nơi xứ nhà Minh đòi phải nộp người vàng và ấnvàng như trước, mà không chịu đến hội Vua chờ lâu không xong việc phải bỏvề

Trang 25

Đến tháng tư năm sau, sứ nhà Minh lại sang mời vua Thế Tôn lên ngôi ởNam Quan, Trịnh Tùng sai quan Thái úy Hoàng Đình Ái đem năm vạn quân

đi hộ giá đưa vua sang phó hội

Khi xa giá về, Trịnh Tùng đi các quan đi đón mừng sau sai quan Công bộ

Tả thị lang Phùng Khắc Khoan làm Chánh sứ, Quan thái thượng tự khanhNguyễn Nhân Thiềm làm Phó sứ, đem đồ lễ sang Yên Kinh cống nhà Minh

Từ đó nhà Lê lại cống hiến nhà Minh như trước

Năm Đinh Dậu niên hiệu Phúc Đức thứ hai Đại Đức thứ ba (1597), có haingười tên là Nguyễn Đường Minh quán huyện Yên Phong và Nguyễn MinhTrí quán xã Ngải Kiều (huyện TừLiêm) toan mưu thoán vi nhưng việc lộ rađều bị Trịnh Tùng bắt giết ngay

Từ khi Mạc Hậu Hợp và Mạc Kinh Chỉ phải bắt rồi, tộc đảng họ Mạcnương náu ở các nơi, toan đường khôi phục:

1 Mạc Kinh Chương xưng làm Tráng Vương chiếm giữ từ đất ĐôngTriều cho đến đất Yên Quảng Mùng một tháng giêng năm Bính Thân(1596), Mạc Kinh Chương dời đóng đồn tại Yên Quảng lấy đất VạnNinh và đất Hương Lan làm căn bản Trịnh Tùng sai quan chấn thủHải Dương là Phan Ngạn đem quân vây đánh trấn Kinh Chương bịbắt

2 Mạc Kinh Dụng (con Mạc Kinh Chỉ) chiếm giữ đất Yên Bác (LạngSơn) xưng là Uy vương chẳng bao lâu cũng bị quân nhà Trịnh bắtđược

3 Mạc Kinh Cung trước chạy sang Châu Long sau lại trở về họp duđảng, đánh phá ở đất Cao Bằng và Lạng Sơn, Trịnh Tùng cho quânđuổi đánh, Kinh Cung chạy thoát, sang kêu với nhà Minh Bấy giờ thổ

Trang 26

quan nhà Minh nhận của đút nhà Mạc, tâu vua Minh an sáp cho họMạc ở Cao Bằng.

Nhà Lê bất đắc dĩ phải nhường đất Cao Bằng cho con cháu họ Mạc ở.Trịnh Tùng thu xếp xong việc thông sứ với nhà Minh dứt được họMạc, thu giang sơn lại cho Lê rồi, năm Giáp Ngọ (1594), vua Lê Thế Tônphong cho Trịnh Tùng Tước Vương, phàm chính sự trong nước phải đưaVương Phủ sửa định rồi mới tâu lên thi hành Ngày 7 tháng 4 năm Kỷ Hợiniên hiệu Quang Hưng thứ 12 (1599) vua Thế Tôn ban kim sách phongTrịnh Tùng làm Đô nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ Bình anvương phàm những việc đặt quan thu thuế, bắt lính trị dân đều thuộc về họTrịnh cả Chỉ khi nào thiết triều hay tiếp sứ thì vua làm chủ

Từ đó về sau, họ Trịnh cứ thế lập tước Vương gọi là chúa Trịnh

Từ tháng tám năm Kỷ Hợi (1599) vua Lê Thế Tôn mất, Trịnh Tùngrước ông hoàng thứ là Duy Tân dựng làm vua Lê Kính Tôn, đổi niên hiệu làThuận Đức

Đức Đoan quốc công Nguyễn Hoàng (con thứ đức Chiêu huân Tĩnhcông Nguyễn Kim) đem quân nhu súng ống ra giúp Trịnh Tùng đánh Mạctrong tám năm trời lập được nhiều chiến công to Năm sau (1600) lại về giữđất Thuận Hóa Trịnh Tùng đưa thơ khuyên dụ Nguyễn Hoàng mới chịucống thuế ngoài Bắc

Năm ấy (1600), bọn Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê nổiloạn ở cửa Đại An (Nam Định) Nhưng chẳng bao lâu Phan Ngạn và BùiVăn Khuê sinh lòng nghi kị và giết lẫn nhau Còn Ngô Đình Nga về giúpnhà Mạc

Trang 27

Trịnh Tùng ở Thăng Long sợ bốn mặt thù địch bèn rước xa giá vềThanh Hóa.

Trịnh Tùng đi rồi, thành Thăng Long bỏ không Đảng họ Mạc bènrước bà thứ mẫu của Mạc Hậu Hợp là Bùi Thị về tôn làm quốc mẫu rồi đónMạc Kinh Cung ở đất Cao Bằng về làm vua

Trịnh Tùng rước vua Kinh Tôn vào Thanh Hóa rồi thu xếp quân nhuchiến mã ra lấy lại thành Thăng Long Nhưng còn sợ mặt Thuận Hóa cóbiến chăng, bèn sai quan vào sai ủy dụ Nguyễn Hoàng rồi mới kéo thủy bộđại quân ra Bắc đánh Mạc, Bùi Thị bị bắt giết ngay.Còn Mạc Kinh Cung bỏchạy sang Kim Thành (Hải Dương) rồi trốn lên Cao Bằng

Trịnh Tùng lấy lại Thăng Long rồi sai quân vào rước vua Kính Tôn ra

và sai các tướng đi tiễu trừ đảng nhà Mạc ở Thái Nguyên, Lạng Sơn và YênQuảng

Năm Kỷ Mùi (1607), Trịnh Tùng ra chơi Đông Lâu xem thuyền, đếnngã ba đường, bị đạn bắn vào voi Bắt được người bắn đem về tra tấn mớibiết Vương tử Trịnh Xuân muốn tranh quyền với anh là Trịnh Tráng, bèn

âm mưu với vua Kinh Tôn để giết Trịnh Tùng Nhưng chẳng may sự khôngthành, vua Kinh Tôn lo sợ, bèn thắt cổ chết Trịnh Tùng bắt Trịnh Xuângiam mấy tháng rồi tha

Vua Kinh Tôn chết rồi, Trịnh Tùng dựng hoàng tử Hựu làm vua ThầnTôn đổi niên hiệu là Vĩnh Tộ

Ngày 17 tháng 6 năm Quý Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ năn thứ 5 (1623),Trịnh Tùng bị bệnh ốm, hội các quan giao binh quyền cho thế tử là TrịnhTráng và thứ tử Trịnh Xuân làm phó

Trang 28

Trịnh Xuân không bằng lòng đem binh làm loạn, bắt Trịnh Tùng phải

ra ngoài rồi đốt phá kinh thành Xa giá nhà vua phải rời về Thanh Hóa,Trịnh Tùng thấy biến chạy về xã Hoàng Mai (huyện Thanh Trì) vào nhàTrịnh Đỗ thì dỗ Trịnh Xuân đến để trao quyền cho Trịnh Xuân vào thìTrịnh Tùng sai bắt chém ngay, rồi rời sang quận Thanh Xuân huyện Thanh

oai, mất ngày 20 tháng 8 (đúng ra là ngày 20 tháng 6) năm Quý Hợi (1623)

niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 5 thọ 74 tuổi, làm Chúa 58 năm; Năm Giáp Tý(1624) tôn phong Triết Vương, miếu hiệu Thành Tổ

CHÍNH TRỊ

Trịnh Tùng phải đánh họ Mạc và giẹp nội loạn nên thời kì ấy chỉ có việcchiến tranh không sửa sang việc chính trị được mấy

Binh chế: Đánh được nhà Mạc rồi, Trịnh Tùng đặt ra hai thứ binh lính:

1 Ưu binh: Lính này lấy ở ba phủ đất Thanh Hóa và bốn phủ đất Nghệ An,

ba suất đinh lấy một tên Những lính ấy đóng ở kinh thành làm quan túc vệ,canh giữ đền vua, phủ chúa, không những được cấp công điền, lại được thêmchức sắc

2 Nhất binh: Lính này lấy ở từ trần đất Bắc là Sơn Nam, Kinh Bắc, HảiDương, Sơn Tây, cứ năm xuất đinh lấy một tên Lính ấy chỉ để đủ giữ các trấn,còn cho về làm ruộng lúc cần dùng đến mới gọi ra

Trang 29

Học hành thi cử: Về đời Hậu Lê, trong nước ở đâu cũng lấy nho học làm

trọng, ở quốc tử giám thì đặt quan Tế tửu và quan Tư nghiệp làm giảng quan.Mỗi tháng một lần tiểu tập, ba tháng một lần đại tập

Từ khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, họ Mạc vẫn mở khoa thi ở Thăng Long đểchọn lấy nhân tài Nhà Lê vì bận việc chiến tranh nên mãi đến năm Canh Thìn(1580) mới mở khoa thi hội ở Tây Đô rồi từ đó, cứ ba năm một kì thi Hội, đểchọn nhân tài giúp nước

Trang 30

3 ĐỜI VĂN TỔ NGHI VƯƠNG TRỊNH TRÁNG ( 1623 – 1657 )

Trịnh Tráng là con thứ hai Trịnh Tùng Ngày 20 tháng 6 năm Quý Hợi niênhiệu Vĩnh Tộ thứ 5 (1623), nối nghiệp cha làm Chúa

Được tin Trịnh Tùng mất ở quận Thanh Xuân, Trịnh Tráng mới rước về NinhGiang phát táng, rồi đem linh cữu về Thanh Hóa

Dư đảng Trịnh Xuân đương làm loạn nên Trịnh Tráng rước giá về ThanhHóa Vua Lê Thần Tông phong cho Trịnh Tráng làm Thái úy Thanh quốc công.Tiết chế thủy bộ mọi dinh

Nhân dịp Trịnh Xuân làm loạn Mạc Kinh Khoan cháu Mạc Kinh Cung trước

đã bị quân Trịnh đánh thua mấy trận phải ẩn nấp ở đất Cao Bằng, nay đem quânvào đánh kinh thành Tháng 8 năm Quý Hợi (1623), Trịnh Tráng từ Thanh Hóathân đốc quân sĩ đến sông Nhị Hà đánh vỡ được quân nhà Mạc: Mạc KinhKhoan lại phải chạy về Cao Bằng kinh đô lại được bĩnh tĩnh như cũ

Trịnh Tráng giẹp yên nhà Mạc lại vào rước xa giá về kinh đô Ngày 21 tháng

11 năm Quý Hợi (1623) vua Lê Gia Kim sách phong Trịnh Tráng làm Nguyênsúy, Thống quốc chinh Thanh Đô Vương

Năm Giáp Tí (1624) vua Lê truy phong Bình an vương Trịnh Tùng làm Triếtvương miếu hiệu là Thành Tổ

Năm Ất Sửu (1625), Trịnh Tráng sai con là Trịnh Kiều đem quân lên đánhCao Bằng Mạc Kinh Cung bị bắt giết, còn cháu là Mạc Kinh Khoan chạy sangTàu, rồi cho người về dâng biểu xin hàng

Kinh Khoan được phong làm Thái úy Thống quốc công cho giữ đất CaoBằng

Trang 31

Tháng 10 năm Kỷ Tị niên hiệu Đức Long thứ ba (1629), vua Lê gia phongTrịnh Tráng làm Sư phụ Thanh Vương.

Năm Quý Mùi (1631) vua Lê Thần Tôn truyền ngôi cho Hoàng thái tử, gọi làvua Chân Tôn đổi niên hiệu là Phúc Thái rồi lên làm Thái Thượng Hoàng

Năm Nhâm Thân (1632) Yên Kinh Tàu bị quân Lý Tự Thành vây đánh.Tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế đang chống với quân nhà Thanh ở Sơn HảiQuan phải đem binh về cứu viện, song mới đến nửa đường đã được tin YênKinh thất thủ Tam Quế trở lại Sơn Hải Quan xin hàng nhà Thanh để viện binhđánh Lý Tự Thành

Lý Tự Thành thua, phải bỏ Yên Kinh chạy, vua Thế Tổ nhà Thanh vào kinhlàm vua Trung Quốc, đổi niên hiệu là Thuận Trị

Dòng dõi nhà Minh là Quế Vương xưng đế ở đất Quảng Tây để mưu sự khôiphục, có ý muốn cầu cứu nước Nam Trịnh Tráng sai Trịnh Đồng tiến quân lênCao Bằng để dương thanh thế cho quân nhà Minh

Năm Kỷ Sửu (1648) vua Lê Chân Tôn mất, không có con nối nghiệp TrịnhTráng xin đức Thái thượng hoàng lại lên ngôi đổi niên hiệu là Khánh Đức.Năm Thân Mão thứ ba (1654), vua Quế vương nhà Minh chạy sang thànhNam Ninh, sắc dụ Trịnh Tráng giúp cho voi, ngựa súng ống Tháng 10 nhàMinh sai sứ đem sắc sang phong cho vua Thần Tôn nhà Lê lam An Nam QuốcVương và phong Trịnh Tráng làm An Nam phó Quốc Vương

Tháng tám năm Nhâm Thìn (1652), thế tử Trịnh Tráng là Trịnh Tạc tiếnphong tước Tây định vương

Trang 32

Từ khi Nguyễn Hoàng về Thuận Hóa, vẫn có ý định độc lập, hàng ngày luyệntập quân lính, xây thành, đắp lũy, để chống với họ Trịnh.

Năm Đinh mão (1627), Trịnh Tráng sai quân vào Thuận Hóa đòi tiền thuế haitỉnh Thuận Hóa và Quảng Nam tử năm 1620 chưa nộp Sãi vương Nguyễn PhúcNguyên tiếp sư nhưng không chịu nôp thuế, thác cớ là dân mất mùa TrịnhTráng lại sai sứ mang sắc vua Lê Thần Tôn vào dụ Sãi Vương cho con ra chầu

và nộp 20 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa cống nhà Minh Sãi Vươngcũng không chịu

Trịnh Tráng thấy vậy bèn quyết chí đánh họ Nguyễn sai Nguyễn Khải vàNguyễn Danh Thế đem 5.000 quân đi tiên phong rồi tự xuất đại binh, rước vua

Lê vào đánh phía Nam

Sãi Vương sai cháu là Nguyễn Phúc Vệ làm tiết chế cùng với Nguyễn HữuDật đem binh mã trấn thủ các nơi hiểm yếu Hai bên đánh nhau trên sông Nhựt

Lệ (Đồng Hới ) Trịnh Tráng không đánh được phải rút quân về Bắc

Ba năm sau (1630), nhà Nguyễn tiến quân chiếm cứ đất Nam bố chính ( phíanam tỉnh Hà Tĩnh bây giờ)

Năm Quý Dậu (1633), người con thứ ba Sãi Vương là Ánh trấn thủ đất ởQuảng Nam đưa thư ra Thăng Long, xin Chúa Trịnh đem binh vào đánh: ngoàibắn súng làm hiệu, trong Ánh sẽ nội ứng

Trịnh Tráng liền đem đại binh đóng ở cửa Nhựt Lệ ( Đồng Hới ) Tướng nhàNguyễn là Nguyễn Văn Thăng và Nguyễn Hữu Dật đem quân ra chống giữ.Quân họ Trịnh đợi hơn 10 ngày, không thấy tin tức gì của Ánh bèn lui quân

ra để chờ

Trang 33

Quân lính đợi lâu ngày sinh ra chán nản, bị quân Nguyễn xuất kỳ bất ý, đổ rađánh đuổi.

Trịnh Tráng thấy sự không thành, rút quân về Bắc để Nguyễn Khắc Loát vàmột đạo quân ở lại giữ đất Bắc Bố Chính (Quảng Trạch bây giờ )

Năm Ất Hợi (1635), Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên mất, con là NguyễnPhúc Lan nối nghiệp Chúa: tức là Công Thượng Vương

Ánh ở Quảng Nam nghe tin Sãi Vương mất, anh lên nối nghiệp bèn phát binhlàm phản Công Thượng Vương đánh bắt được Ánh gần Cửa Hàn đem vềThuận Hóa giết đi: đoạn rồi bỏ ngục bốn người em ruột Ánh để phòng nội biến.Trịnh Tráng thấy anh em họ Nguyễn tranh nhau sai đem quân đánh đất Nam

Bố Chính, giết được tướng họ Nguyễn là Bùi Công Thắng, rồi đóng quân ở cửaNhựt Lệ

Năm Canh Thìn (1640), chúa Nguyễn đem binh lấy đươc đất Bắc Bố Chính,rồi định tiến lấy Bắc Hà; hàng ngày bắt quân chuyên luyện vũ bị và thân chínhđến trường tập để mục kích tướng tá luyện quân Một hôm chúa Nguyễn đi tuầntiễu ở Cửa Nọn ( sông Hương Giang chảy ra bể Trung Quốc ) thấy thủy quântrễ biếng bèn truyền cho ba huyện Hương Trà, Quảng Diên và Phúc Vinh phảilập một trường tập ở xã Hoàng Phác ( ngày nay là Hồng Phúc thuộc Phú Vinh ),cho thuỷ quân Trong vòng bảy tháng, thủy quân tập chiến lược, vừa chèothuyền, vừa bắn súng Quân nào tập giỏi đều được thưởng vàng lụa Vì vậy mà

sĩ tốt nhà Nguyễn rất am hiểu việc binh bị

Đến năm Quý Mùi (1643), Trịnh Tráng đem đại quân và rước vua Lê vào đấtBắc Bố Chính Quân Nguyễn phải bỏ chạy Nhưng bấy giờ đương giữa mùa hạ,

Trang 34

quân Bắc không quen nóng nực chết hại rất nhiều Trịnh Tráng phải rút quân vềBắc.

Năm Mậu Tý (1648), Trịnh Tráng sai đô đốc Tiến Quận Công Lê Văn Hiểuđem thủy bộ quân vào đánh chúa Nguyễn: Quân bộ đóng ở đất Bắc Bố Chính,còn thủy quân vào đánh cửa Nhựt Lệ, thắng được nhiều trận nhỏ Quân Trịnhđánh rất hăng, xông pha phá lũy Trường Dục Đạn bắn như mưa, quân Nguyễn

bỏ chạy quá nửa

Bấy giờ Trấn thủ lũy Trường Dục là Trương Phúc Phấn liều chết cố sứcchống giữ Hai cha con ung dung ngồi trước lũy, đánh trống, phất cờ, thúc quân

cự lại Chung quanh tên đạn như mưa, quân sĩ chết ngổn ngang mà Phúc Phấn

cứ trơ như đá, vững như đồng Quân Bắc tưởng một vị thần có phép lạ nênkhông dám tiến gần Nhờ cái can đảm ấy mà lũy Trường Dục tuy bị phá ít nhiềunhưng không đến nỗi mất, lại đủ thì giờ cho quân cứu viện tiếp ứng

Được tin quân Trịnh đương phá lũy Trường Dục, tình thế rất nguy cấp, chúaNguyễn sai con là Nguyễn Phúc Tấn dùng một trăm voi canh năm xông vào trạiquân Trịnh đánh phá Quân Trịnh không kịp chống giữ, thua to chạy về Bắc.Trịnh Tráng thấy quân mình thua, sai Lê Văn Hiểu, Trần Ngọc Hầu, Lê HữuĐức, Vũ Lương và Phạm Tất Hoàn đem binh trấn thủ các cửa bể và các nơihiểm yếu đề phòng bị quân Nguyễn

Lúc bấy giờ, trong Nam, Công Thượng Vương mất, con là Nguyễn Phúc Tấnlên nối nghiệp gọi là Chúa Hiền Vương

Từ đó trong vòng bảy năm trời, hai bên tạm đình chiến

Đến năm Ất Vị ( Mùi ) (1655), quân Trịnh lại vào đất Bắc Bố Chính đánhNguyễn Hiền Vương mang quân ra Nam Bố Chính đối địch Tướng Trịnh là

Trang 35

Phạm Tất Toàn về hàng Nguyễn Quân Nguyễn nhân thế tiến lên Hoành Sơn,rồi thừa đánh đến đồn Hà Trung Tướng Trịnh là Lê Văn Hiểu và Lê Hữu chốngkhông nổi phải rút quân về giữ An Tràng ( Nghệ An bây giờ ).

Trịnh Tráng thấy bọn Lê Văn Hiểu bại binh ở Hà Trung bèn sai sứ vào triệu

về kinh, rồi cho Trịnh Trượng làm Thống lĩnh kinh lược đất Nghệ An

Lê Văn Hiểu bị đạn ở chân, về đến nửa đường thì chết Bọn Lê Hữu Đức, VũLượng đều phải giáng chức cả

Trịnh Trượng tiến binh đóng ở Lạc Xuyên Nguyễn Hữu Dật đem thủy binh

ra đánh ở cửa Kỳ La, đều thừa thắng tiến binh chiếm cứ được đồn Lạc Xuyên.Binh tướng họ Trịnh phải chạy về An Tràng ( Nghệ An )

Tướng nhà Nguyễn bèn yết bảng chiêu dụ nhân dân nên phục tùng nhàNguyễn Người xin quy phụ mỗi ngày một tăng nên chẳng bao lâu bảy huyện:

Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiện Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Thanh Chương và HươngSơn ở phía Nam sông Lam Giang ( sông Cả bây giờ ) đều thuộc về Nguyễn.Trịnh Tráng được tin quân mình thua ở Lạc Xuyên, bèn giáng Trịnh Trượngxuống làm Đô đốc, rồi sai con là Trịnh Tạc làm Thống lĩnh đất Nghệ An đểchống giữ với Nguyễn Trịnh Tạc thân xuất chư tướng đem quân ra đánh, đóng

ở làng An Tràng ( huyện Trân Phúc )

Nhưng bấy giờ ngoài Bắc lắm việc, Trịnh Tráng phải gọi Trịnh Tạc về, đểtướng là Đào Quang Nhiêu ở lại trấn thủ Nghệ An cùng Trấn Văn Quang vàMậu Văn Liên chống giữ các nơi Vũ Văn Thiêm đóng thủy quân ở sông KhuDực ( huyện Nghi Xuân )

Năm Bính Thân (1656) quân họ Nguyễn đến đánh quân Trịnh, bọn Trần VănQuang bỏ chạy Quân Nguyễn thừa thế tiến lên đánh phá thủy binh của Vũ Văn

Trang 36

Thiêm, sau lại gặp quân của Đào Quang Nhiêu Hai bên đánh nhau một trận giữdội bên sông Chế Giang: Đào Quang Nhiêu thua chạy về An Tràng dâng biểu tạlỗi xin viện binh.

Trịnh Tráng sai con út là Tả đô đốc Ninh quận công Trịnh Toàn vào làmThống lĩnh trấn thủ đất Nghệ An, để chống với quân họ Nguyễn

Trịnh Toàn vào đến Nghệ An chia đạo tiến ra địa phương Kỳ Hoa, quânNguyễn phải lui Trịnh Toàn thắng được một trận to ở địa hạt Đại Nại

Triều đình bàn đến chiến công trận đánh Đại Nại, phong cho Trịnh Toàn làmchức Tiết Chế thủy bộ mọi dinh kiêm chức Phó đô tướng đạo Nghệ An, hàmThái úy, tước Ninh quốc công, mở phủ Dương Uy

Tháng hai năm Bính Thân (1656), Thế tử của Tây Định Vương Trịnh Tạc làTrịnh Căn được phong làm Phó đô tướng, tước Phú quận công, mở dinh TảQuốc

Tháng sáu năm ấy, Trịnh Tạc sai con là Trịnh Căn thống lĩnh chư tướng vàoNghệ An hiệp đồng cùng Trịnh Toàn đánh quân nhà Nguyễn

Bấy giờ Trịnh Toàn đóng đồn ở Quảng Trị; Trịnh Căn đóng đồn ở Bạt Trạc.Trịnh Toàn vì ý riêng lui quân về An Tràng Trịnh Căn thấy thế làm nghi kỵ,đem quân đóng đồn ở Phú Long sửa sang thành lũy, để xem Trịnh Toàn làm ăn

ra sao?

Năm Đinh Dậu niên hiệu Thịnh Đức thứ 5 (1657), ngày 16 tháng 4, TrịnhTráng mất, miếu hiệu là Văn Tổ Nghị Vương, thọ 81 tuổi, làm chúa 35 năm.Trịnh Toàn từ khi vào trấn thủ đất Nghệ An, hậu đãi tướng sĩ, yêu mến quândân, lòng người đều quy phụ Gặp lúc Trịnh Tráng mất, thủ hạ khuyên Trịnh

Trang 37

Toàn mưu làm phản Trịnh Toàn không nghe nên chúng đều su phu với dinh TảQuốc ( Trịnh Căn ), lại có kẻ phao ngôn cho Trịnh Toàn có trí làm phản TrịnhToàn mới sai người đưa voi, ngựa, khí giới của bộ ngũ mình đến dâng nộp ởCửa quân Trịnh Căn bảo rằng: “ Sự thể đã như vậy, phải nên đến Cửa Quyếtchờ lệnh vua xem sao?”.

Trịnh Toàn về kinh, Trịnh Tạc phó cho đình thần tra hỏi, xét được tình trạng(vì có kẻ ghen ghét làm chứng buộc tội trạng ) Trịnh Tạc nghĩ Trịnh Toàn làngười trí thần không nỡ xử tử, đặc án cho khóa bạc, bắt giam trong ngục

Năm Bính Tí (1660), Trịnh Toàn mất rồi trong họ có người khiếu oan nênTrịnh Toàn được khai phục chức cũ mà con cháu được ăn lương tôn thất và tùytài bổ dụng

CHÍNH TRỊ

Trịnh Tráng vì bận việc chiến tranh nên việc trong nước không sửa đổi đượcmấy

Việc giao thiệp với người ngoại quốc: Năm Định Sửu (1637), Trịnh Tráng

cho người Hòa Lan đến mở cửa hàng ở phố Hiến ( gần tỉnh lỵ Hưng Yên ), vềsau ở đấy có người Nhật Bản, ngưởi Trung Hoa, người Xiêm La, người Bồ ĐàoNha đến buôn bán làm thành một nơi rất tấp nập “ Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhìPhố Hiến”, là một câu truyền tụng từ thời bấy giờ

Việc mua bán: Niên hiệu Đức Long thứ 6 (1634), Trịnh Tráng định rằng:

Việc mua bán trong các chợ Kinh thành mục đích là dễ lưu hành các hàng hóavẫn thường dùng Các nhà quan trưởng hoặc các công sở không được phép chongười ra chợ uy hiếp lấy không hàng hóa hay đồ vật của khách thương mại Nếutrái phép, Xá Nhân ( Tuần thành ở kinh đô ) có quyền xét hỏi, lấy đủ chứng cứ

Trang 38

và tang vật rồi đệ hồ sơ lên quan trên chung thẩm Nếu xét quả thực, can phạm

sẽ bị trọng phạt

Việc sát sinh: Từ trước vẫn hạn chế việc sát sinh trâu bò Trâu bò còn khỏe

mạnh béo tốt, cấm không được đem giết để ăn thịt

Năm thứ 6 niên hiệu Đức Long (1634), Trịnh Tráng định rằng:

Riêng xã Nghiêu Kỵ thuộc huyện Gia Lâm, Bắc Ninh được phép mua các bògầy giết thịt bán còn da để chế các đồ dùng cho nhà nước

Niên hiệu Phúc Thái thứ 1 (1643), định thêm cho hạng Mực ở Đồng Xuâncầu mỗi ngày được giết một con trâu và bò để lấy da nấu keo làm mực

Trang 39

4 ĐỜI HOÀNG TỔ DƯƠNG VƯƠNG TRỊNH TẠC ( 1657 – 1682 )

Trịnh Tạc con thứ hai Trịnh Tráng, khi làm thế tử được phong tước Tây ĐịnhVương

Tháng tư năm Đinh Sửu (1657), Trịnh Tạc nối ngôi cha, giao binh quyền chothế tử là Trịnh Căn thống trị đạo Nghệ An

Tháng 6 năm ấy, Trịnh Căn chia quân làm ba đạo: sai Hoàng Nghĩa Giao vàTrịnh Thế Công làm tả hữu quân Tướng quân, còn Lê Hiến thì sai làm Tướngtrung quân tiến đánh quân Nguyễn

Tướng Nguyễn là Nguyễn Hữu Tiến biết trước, phòng bị nên quân Trịnhthua, bị vây may có Trịnh Căn tiếp ứng, mới rút về được

Từ đó hai bên cứ giữ nhau ở sông Lam Giang, thỉnh thoảng đánh nhau mộttrận, không chia bên nào thua, bên nào được Mãi đến tháng chạp năm MậuTuất (1658) Trịnh Căn thắng một trân to ở làng Tuần Lễ ( huyện Hương Sơn ).Năm Ất Hợi niên hiệu Vĩnh Tộ thứ hai (1659), tháng chín vua Lê Thần Tôngia phong cho Trịnh Tạc làm chức Thượng Sư Tây Vương

Ngày 11 tháng 9 năm Canh Tí (1660), Trịnh Căn chia quân làm hai đạo, saiHoàng Nghĩa Giao và Phan Kiêm Toàn lĩnh một đạo sang sông Lam Giang, cònmột đạo sai Lê Hiến cùng Mậu Văn Liên thống lĩnh xuống phía Hội Thống rồisang sông

Đến nửa đêm, hai đạo nghe hiệu cùng tiến đánh

Hoàng Nghĩa Giao gặp quân Nguyễn Hữu Dật, hai bên đánh nhau một trận

dữ dội Quân Hoàng Nghĩa Giao bị vây ngặt lắm, may Trịnh Căn cho binh đếncứu nên quân Nguyễn phải chạy

Trang 40

Quân Lê Hiến và Mậu Văn Liên đánh nhau với quân Nguyễn ở làng Tả Ao.Mậu Văn Liên tử trận nhưng quân Nguyễn phải bỏ về đóng ở Nghi Xuân.

Tháng 11 năm ấy, Trịnh Căn chia đạo tiến đánh quân Nguyễn bị thua ở làng

An Điềm và Phù Lưu, Trịnh Căn thừa thắng đuổi quân Nguyễn thẳng đến cửa

bể Nhựt Lệ

Từ bấy giờ bảy huyện ( Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiện Lộc, Nghi Xuân, La Sơn,Hương Sơn, Thanh Chương ) của Nguyễn chiếm cứ ở phía nam sông LamGiang nay lại thuộc về đất Bắc

Vua Lê được tin thắng trận, sai đưa ngân sách đến chỗ quân thứ, phong PhúQuận Công Trịnh Căn làm Khâm Sai Tiết Chế thủy bộ mọi dinh kiêm Tổngquyền chính trong nước, hàm Thái úy, tước Nghi quốc công, mở phủ Lý Quốc.Năm Tân Sửu (1651), Trịnh Căn sai Đào Quang Nhiêu ở lại trấn thủ đấtNghệ An và kiêm lĩnh cả đất Bắc Bố Chính, đề phòng giữ mọi nơi rồi rước cờtoàn thắng kéo quân về kinh

Tháng 10 năm ấy, Trịnh Tạc cử đại binh, rước xa giá vào đánh quân Nguyễn.Trịnh Căn làm thống lĩnh, Đào Quang Nhiêu làm Tổng xuất, Lê Hiến vàHoàng Nghĩa Giao làm Đốc xuất, Lê Sĩ Triết và Trịnh Tế làm Đốc thị đem binhsang sông Linh Giang đến đóng trước thành Đồng Hới

Tướng Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật trấn thủ đất Nam Bố Chính chia quân đắplũy giữ gìn mọi nơi rất là chắc chắn Quân Trịnh đánh luôn mấy tháng khôngđược, sức đã kiệt Tháng ba năm Nhâm Dần (1662), Trịnh Tạc thu quân và rướcvua Lê về Bắc

Ngày đăng: 22/01/2014, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w