1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình lịch sử kinh tế

651 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 651
Dung lượng 3,58 MB
File đính kèm Giáo trình Lịch sử kinh tế (1).zip (3 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giaó trình lịch sử kinh tế Khoa kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân là 1 giáo trình không thể thiếu đối với các sinh viên ngành kinh tế. Tài liệu giúp sinh viên hiểu hơn về quá trình hình thành và phát triển cũng như phân tích về các hình thái kinh tế qua nhiều thời kì

Trang 1

LỜI GIỚI THIỆU

Trong sự phát triển của nhân loại, từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp và vươn tới nền văn minh trí tuệ, lịch sử đã cho thấy bao biến động diễn ra trong quá trình phát triển kinh tế của thế giới, cũng như sự phát triển thăng trầm của từng quốc gia Đặc biệt trong mấy thập

kỷ gần đây, những biến cố trong đời sống nhân loại càng thu hút nhiều người Việt Nam quan tâm hơn đến những vấn đề kinh tế đã và đang diễn

ra Đó là sự phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1952-1973), là sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) Đông Á, là hình ảnh về nền kinh tế tri thức ở các nước phát triển cùng xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới và ngay cả những vấn đề bức xúc về cơn bão khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á tuy đã qua nhưng không ít người vẫn tiếp tục đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa của nó Đó còn là sự tan rã của một mô hình kinh tế ở Liên Xô và Đông Âu qua cải tổ, cải cách, là thành công của những nền kinh tế chuyển đổi, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam v.v Thời gian gần đây, cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát từ Mỹ năm 2007 và lan nhanh sang nhiều nước trên thế giới được coi là cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ sau cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới (1929-1933) Mặc

dù tác động của nó đến các nước có khác nhau nhưng không một quốc gia nào thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng này Về bản chất, đây là cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng của mô hình phát triển theo chủ nghĩa

tự do mới và cuối cùng đó là khủng hoảng chu kỳ của chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn cầu Thực tế cho thấy, xu hướng toàn cầu hóa là động lực cho tăng trưởng ở nhiều nước đang phát triển thì đây cũng chính là kênh truyền dẫn khiến cho cuộc khủng hoảng này lan ra toàn cầu Chính vì vậy, một câu hỏi đặt ra là liệu một chiến lược phát triển dựa trên sự mở cửa với thương mại quốc tế và dòng vốn quốc tế còn phù hợp nữa hay không? Các nước đang phát triển có nên từ bỏ chính sách tự do hơn để tìm kiếm tăng trưởng mới hay không

Trang 2

Trước những biến động và những thay đổi kỳ diệu trong đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại, người Việt Nam nhìn ra nước ngoài càng suy ngẫm về con đường phát triển kinh tế của đất nước, về mục tiêu tăng trưởng bền vững và khả năng thu hẹp khoảng cách với nhiều nước phát triển đi trước, về hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả v.v Là một nước đang phát triển và đang trong quá trình hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế, Việt Nam cũng phải lường đến những tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, đồng thời cũng đòi hỏi Việt Nam cần có những chính sách ứng phó để ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng, đảm bảo đời sống, việc làm và an sinh xã hội

Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, nghiên cứu môn học,

Bộ môn Lịch sử kinh tế đã tổ chức biên soạn mới nội dung giáo trình theo những quan điểm đổi mới của Đảng về kinh tế và gắn với những đổi mới nhận thức về xu thế phát triển của thời đại Những vấn đề kinh tế thế giới

và Việt Nam đang nóng bỏng và thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng,

từ các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia kinh

tế đến các tầng lớp dân cư đã được nghiên cứu và kịp thời đưa vào nội dung của giáo trình môn học nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và kinh doanh bậc đại học ở nước ta Trước đó, giáo trình Lịch sử kinh tế đã được biên soạn theo chương trình môn học của Hội đồng đào tạo ngành kinh tế duyệt ngày 25 tháng 7 năm 1990 và được Hội đồng môn học Lịch sử kinh tế và Vụ Đại học của

Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua Trong quá trình biên soạn cuốn giáo trình Lịch sử kinh tế lần này, kế thừa một số nội dung trong cuốn giáo trình biên soạn lần trước, các tác giả đã kết cấu lại các chương, mục trong từng chương; một số chương được phân kỳ lại cho phù hợp với cách tiếp cận đánh giá mới Nội dung các chương được bổ sung, cập nhật kịp thời các phát hiện nghiên cứu mới gắn với những chuyển biến ngày càng nhanh chóng và đa dạng của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế các quốc gia, vùng lãnh thổ và quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam nhằm hướng đến mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Ngoài chương 1 với nội dung giới thiệu những vấn đề tổng quan về

Trang 3

môn học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn học, Giáo trình Lịch

sử kinh tế gồm hai phần: Phần I: Lịch sử kinh tế các nước ngoài và Phần II: Lịch sử kinh tế Việt Nam

Chủ biên: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, TS Phạm Huy Vinh, TS Trần Khánh Hưng

Các tác giả tham gia biên soạn cuốn giáo trình này gồm có:

- Chương 1: TS Phạm Huy Vinh, TS Trần Khánh Hưng

- Chương 2: PGS TS Phạm Thị Quý, TS Trần Khánh Hưng

- Chương 3: TS Chu Thị Lan, Ths.NCS Đỗ Thị Thu Hương

- Chương 4: TS Trần Khánh Hưng, TS Lê Quốc Hội, ThS Đinh

Thị Nhâm

- Chương 5: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, TS Phạm Huy Vinh, TS

Nguyễn Quang Hồng

- Chương 6: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, TS Nguyễn Quang Hồng

- Chương 7: TS Phạm Huy Vinh, TS Trần Khánh Hưng

- Chương 8: TS Phạm Huy Vinh, TS Trần Khánh Hưng

- Chương 9: PGS.TS Hoàng Văn Hoa, TS Lê Tố Hoa, TS Nguyễn

Quang Hồng

- Chương 10: TS Phạm Huy Vinh, TS Trần Khánh Hưng

- Chương 11: PGS.TS Phạm Thị Quý

- Chương 12: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, TS Chu Thị Lan

- Chương 13: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, PGS.TS Phạm Thị Quý, TS

Lê Quốc Hội, Ths Đinh Thị Nhâm

- Chương 14: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, TS Phạm Huy Vinh, TS

Trần Khánh Hưng

- Chương 15: GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh, TS Phạm Huy Vinh, TS

Trần Khánh Hưng

Trang 4

Cuốn giáo trình này nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức

cơ bản về quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và của Việt Nam Trong học tập và nghiên cứu, sinh viên sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm từ sự phát triển kinh tế của các nước và của Việt Nam Đồng thời, từ việc nhận thức được đặc điểm phát triển kinh tế, các mô hình kinh tế và xu hướng phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và Việt Nam sẽ mở rộng tầm nhìn cho sinh viên

Do điều kiện và thời gian nghiên cứu còn có những hạn chế nên cuốn giáo trình không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong được

sự góp ý xây dựng của bạn đọc để chúng tôi bổ sung và hoàn thiện ở lần xuất bản sau

BỘ MÔN LỊCH SỬ KINH TẾ

KHOA KINH TẾ HỌC - TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tê châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á

CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân

CHLB Cộng hòa Liên bang

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

EEC Cộng đồng kinh tế châu Âu

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT Hiệp định chung về thương mại và thuế quan

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

IBRD Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế

ICOR Tỷ lệ gia tăng vốn trên sản lượng

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

NICs Các nước công nghiệp mới

NIEs Các nền kinh tế công nghiệp mới

ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

R&D Nghiên cứu và phát triển

SEV Hội đồng tương trợ kinh tế

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11 Chương 2:KINH TẾ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 31

Chương 5: KINH TẾ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 199

Chương 8: KINH TẾ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 317

Chương 10: KINH TẾ VIỆT NAM THỜI KỲ PHONG KIẾN 405 Chương 11: KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ THỰC

(TỪ 1986 ĐẾN NAY)

613

Trang 9

Chương 1

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 MẤY NÉT GIỚI THIỆU VỀ LỊCH SỬ KINH TẾ

Trong quá trình phát triển kinh tế của nhân loại, từ kinh tế tự nhiên sang phát triển kinh tế hàng hóa giản đơn, tiến tới kinh tế hàng hóa và giai đoạn cao của nó là kinh tế thị trường; từ sản xuất bằng các công cụ thủ công sang cơ khí hóa và tự động hóa là những biểu hiện cho sự chuyển biến về chất của lực lượng sản xuất Những chuyển biến của lực lượng sản xuất lên những nấc thang mới cùng với những thay đổi trong các quan hệ kinh tế - xã hội đã làm cho các hoạt động sản xuất và tiêu dùng vượt ra khỏi biên giới quốc gia, từ đó hình thành trật tự phân công lao động quốc tế Toàn cầu hóa đời sống kinh tế quốc tế đang là vấn đề thời sự của thế giới đương đại ngày nay Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào thu mình mà có thể phát triển được và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình kinh tế khu vực và thế giới Mỗi quốc gia

sẽ cần phải có những hình thức và bước đi phù hợp nhằm phát huy lợi thế của mình trong hội nhập kinh tế quốc tế để hướng tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Nhìn vào bức tranh toàn cảnh thế giới hiện nay, nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những thành công và hạn chế khác nhau Những nước tư bản Âu, Mỹ, Nhật Bản

đã sớm thành công trong công nghiệp hóa, trở thành các nền kinh tế phát triển và bước vào xã hội hậu công nghiệp gắn với sự phát triển của kinh tế tri thức Một số quốc gia và vùng lãnh thổ trong một vài thập kỷ gần đây cũng đã hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa và gia nhập hàng ngũ các nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo Những năm cuối của thập niên 1990 và bước sang bên thềm thế kỷ XXI, sự phát triển đi lên của các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin…

Trang 10

đã làm thay đổi bản đồ kinh tế thế giới Cũng trong bối cảnh ấy, còn nhiều quốc gia vẫn đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa và xu hướng phổ biến của các nước này là chuyển sang kinh tế thị trường cùng với việc

mở cửa nền kinh tế Nói chung, sự phát triển kinh tế của các nước trên thế giới diễn ra với rất nhiều hình vẻ khác nhau và ở nhiều trình độ khác nhau Với ý nghĩa ấy, việc tìm hiểu quá trình phát triển kinh tế để tìm ra đặc điểm phát triển kinh tế của các nước qua từng giai đoạn lịch sử sẽ giúp cho các quốc gia như Việt Nam có thể tìm những cơ hội để mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế

Lịch sử kinh tế là một môn khoa học xã hội, nghiên cứu sự phát triển kinh tế của một nước hoặc một nhóm nước qua các thời kỳ lịch sử hay trong một giai đoạn lịch sử cụ thể

Sự ra đời của khoa học lịch sử kinh tế gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu Trong thời gian này ở một số nước như Đức, Anh, Pháp, Hà Lan đã xuất hiện những công trình nghiên cứu đầu tiên trên giác độ lịch sử kinh tế Đó là những công trình luận bàn về các sự kiện, các hiện tượng và các quá trình kinh tế ở một quốc gia, một vùng, một địa phương ở trong một thời kỳ hay một giai đoạn lịch sử cụ thể Thực tế, sự xuất hiện những yếu tố mới trong nền sản xuất xã hội như các loại công cụ lao động mới, các hình thức tổ chức sản xuất mới, các quan hệ kinh tế - xã hội mới ở một số nước châu Âu đã góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh

mẽ của sức sản xuất xã hội, tạo ra những bước phát triển vượt bậc của nền kinh tế so với các thời kỳ trước đó Điều đó cũng đã kích thích sự nghiên cứu, tìm hiểu của các nhà sử học, các nhà kinh tế Ngoài việc tái hiện lại những chuyển biến của nền kinh tế, của các ngành, các lĩnh vực kinh tế cụ thể, các học giả còn đi vào luận giải nguyên nhân, nguồn gốc của những hiện tượng, những sự kiện kinh tế, luận bàn về những nhân tố tác động đến

sự phát triển của nền kinh tế như sự phát triển của kỹ thuật, sự ra đời các loại máy móc, công cụ lao động, cách thức tổ chức sản xuất mới gắn với sự phát triển của phân công lao động Tuy nhiên, do sự chi phối bởi quan điểm tư sản nên những công trình này đã mất đi phần nào tính khách quan của lịch sử, lược bỏ tính chất xã hội trong sự phát triển kinh tế nhằm chứng minh cho tính ưu việt và tính vĩnh hằng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Trang 11

Chủ nghĩa Mác ra đời tạo nên một bước ngoặt cho sự phát triển của khoa học xã hội, trong đó có khoa học lịch sử kinh tế Từ giữa thế kỷ XIX, lịch sử kinh tế đã tách khỏi các khoa học lịch sử để trở thành một ngành khoa học độc lập như các ngành khoa học kinh tế khác Chính C Mác và

Ph Ăngghen đã đặt cơ sở lý luận và phương pháp luận cho khoa học lịch

sử kinh tế và đặt nó vào vị trí xứng đáng Lịch sử kinh tế ngày càng có ý nghĩa to lớn giúp cho việc nhận thức và luận giải đúng đắn về tiến trình phát triển kinh tế của các nước và khả năng rút ra các quy luật vận động trong phát triển kinh tế Điều đó đã làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn trong phát triển kinh tế

Từ đó đến nay, khoa học lịch sử kinh tế được mở rộng nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Các nước phát triển Mỹ, Nhật, Tây Âu đều có những công trình nghiên cứu đồ sộ về lịch sử phát triển kinh tế của nước mình, cũng như sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới Đồng thời, các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế đã tìm ra những phương pháp nghiên cứu với nhiều cách thức tiếp cận đa dạng để phản ánh và đánh giá sát thực hơn tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế của một nước hoặc một số nước Năm 1993, giải thưởng Nobel về kinh tế đã được trao cho hai nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế Mỹ là

Robert W Fogel (University of Chicago) và Douglass C North (University

of Washington) để ghi nhận đóng góp của các ông về những nghiên cứu mới về lịch sử kinh tế Mỹ và châu Âu bằng cách vận dụng lý thuyết kinh tế

và những phương pháp lượng hóa để giải thích sự thay đổi về kinh tế và thể chế

Ở nước ta, từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, khoa học lịch sử kinh tế ngày càng được chú trọng Trong mấy thập kỷ gần đây, nhiều viện nghiên cứu ở Việt Nam đã tập trung nghiên cứu về lịch sử kinh tế các nước cũng như Việt Nam Đặc biệt là nghiên cứu về công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của đất nước cùng quá trình mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế Từ 1967, Trường Đại học Kinh tế kế hoạch (nay là Đại học Kinh tế quốc dân) đã thành lập Bộ môn Lịch sử kinh tế để nghiên cứu và giảng dạy lịch sử kinh tế cho sinh viên bậc đại học, sau đại học Hiện môn học Lịch sử kinh tế được lựa chọn giảng dạy ở các trường đại học khối kinh tế

Trang 12

1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử kinh tế là sự phát triển của các nền kinh tế và những thay đổi của nền kinh tế ở các nước trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Từ mục tiêu nghiên cứu, chủ đề nghiên cứu của lịch sử kinh tế có thể đi sâu vào các vấn đề mang tính chất chuyên ngành như lịch

sử kinh doanh, lịch sử tài chính và bao trùm một số lĩnh vực của lịch sử xã hội như lịch sử biến động của dân số và lao động

Thực tế, một nền kinh tế được cấu thành bởi một hệ thống tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các chủ thể sản xuất, kinh doanh, các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và luôn gắn với một quốc gia hoặc một vùng, một khu vực cụ thể Nền kinh tế có thể được coi như một cơ thể sống và tất cả các hoạt động nghề nghiệp, các quyết định của các chủ thể kinh tế hay các hoạt động kinh tế đang diễn ra đều trực tiếp tác động đến sự phát triển, sự thay đổi của nền kinh tế Các hoạt động tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư cũng đều là những yếu tố tác động đến sự phát triển của nền kinh tế

Theo cách tiếp cận truyền thống về hình thái kinh tế xã hội của C Mác, lịch sử kinh tế tập trung nghiên cứu những chuyển biến của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong những thời kỳ lịch sử nhất định Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác “Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất”, mỗi phương thức sản xuất bao gồm hai mặt có quan hệ biện chứng với nhau là quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, trong đó quan hệ sản xuất là hình thức và lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất xã hội

Lịch sử kinh tế nghiên cứu sự phát triển của quan hệ sản xuất vì quan

hệ sản xuất là cơ sở kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội, nó biểu hiện tính chất xã hội của nền kinh tế Nó cũng là tiêu thức để phân biệt sự khác nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội Khi quan hệ sản xuất thay đổi thì

xã hội cũng biến đổi từ hình thái này sang hình thái khác Nghiên cứu sự phát triển của quan hệ sản xuất để thấy được vai trò của những chuyển biến

về quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là mở

Trang 13

đường hay kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Với một chế độ

xã hội khi đặt trong điều kiện cụ thể có thể tồn tại nhiều loại hình quan hệ sản xuất cùng tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất, do vậy vấn đề đặt ra cần là xác định được loại hình quan hệ sản xuất nào đóng vai trò tích cực với xu hướng phát triển của nền kinh tế

Trong nghiên cứu về sự phát triển của quan hệ sản xuất, lịch sử kinh

tế bàn đến cả ba mặt của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối Thực tế cho thấy, mỗi sự thay đổi về quan hệ sở hữu có thể dẫn đến sự thay đổi về quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, đồng thời tác động đến sự biến đổi của lực lượng sản xuất và suy cho cùng là tác động đến sự phát triển của nền kinh tế Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản cho thấy, việc hình thành những công ty cổ phần trên cơ sở vốn góp của nhiều cổ đông đã giải thoát được

sự hạn chế của tư bản cá biệt trước yêu cầu hình thành những doanh nghiệp

có quy mô vốn lớn đủ sức đầu tư xây dựng những nhà máy, xí nghiệp, những ngành công nghiệp mới dựa trên những phát minh sáng chế kỹ thuật mới Cũng bởi những công ty này có quy mô lớn nên cách thức tổ chức, quản lý phải thay đổi cho phù hợp Những người điều hành các hoạt động trong công ty có thể không phải là chủ sở hữu mà là những người được thuê Vấn đề phân phối cũng trở nên phức tạp hơn, ngoài việc chi trả các loại chi phí sản xuất, tiền lương… phần lợi nhuận thu được phải chia cho các cổ đông… Và điểm quan trọng nhất là sự ra đời của các công ty này đã góp phần đưa những tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, phát triển sức sản xuất xã hội, ngoài ra nó còn mang lại lợi thế về quy mô gắn liền với việc giảm giá thành sản xuất

Lịch sử kinh tế nghiên cứu sự phát triển của lực lượng sản xuất, vì lực lượng sản xuất nói lên trình độ phát triển kinh tế và là tiêu thức để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại C Mác đã từng chỉ ra rằng: “Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”1 Để làm rõ trình độ phát triển của nền kinh tế có thể dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau như: trình

độ của người lao động, công cụ lao động, sự phát triển của các ngành kinh

1 C Mác, Ph Ăngghen, Tuyển tập, tập 1 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr 380

Trang 14

tế, sự phân công lao động xã hội v.v Trong xu thế mở cửa hội nhập kinh

tế quốc tế ngày nay, việc nghiên cứu về chuyển biến cơ cấu kinh tế có vai trò hết sức quan trọng Các vấn đề về lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi vùng cũng là những nội dung ngày càng được chú trọng nghiên cứu

Lịch sử kinh tế nghiên cứu lực lượng sản xuất không phải chỉ để hiểu

rõ bản thân sự phát triển của lực lượng sản xuất mà còn phải làm rõ ý nghĩa kinh tế - xã hội của nó, đồng thời chỉ ra sự tác động qua lại với quan hệ sản xuất Lý luận đã khẳng định rằng lực lượng sản xuất phát triển nhanh hay chậm về số lượng, về chất lượng cũng như hiệu quả là phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ sản xuất có phù hợp với nó hay không Nếu giữa chúng

có mối quan hệ phù hợp, lực lượng sản xuất sẽ có những điều kiện thuận lợi để phát triển Ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất, không chỉ khi quan hệ sản xuất cũ lỗi thời mà ngay cả khi quan hệ sản xuất tiên tiến hơn so với lực lượng sản xuất, thì nó sẽ cản trở

và kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất được đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với lực lượng sản xuất thì khi đó quá trình biến đổi, tích lũy về lượng của lực lượng sản xuất sẽ nhanh hơn

để tạo ra bước phát triển mới về chất của lực lượng sản xuất Đồng thời, quá trình phát triển của lực lượng sản xuất cũng tuân theo những quy luật vận động nội tại, khách quan của nó Con người chỉ có thể tác động tự giác hoặc tự phát để thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nó tùy theo khả năng nhận thức và cơ sở khoa học của hành động

Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế còn đề cập đến một số yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng như đường lối chính sách, luật pháp của nhà nước

là những vấn đề thuộc về thể chế kinh tế và có ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế

Thời gian gần đây, sự ra đời của những lý thuyết kinh tế mới đã tạo

cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử kinh tế với những cách tiếp cận mới và những phương pháp mới Đối tượng nghiên cứu của lịch sử kinh tế vẫn sẽ bao hàm tất cả các nội dung trên

Hiện nay, việc nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển của nền

Trang 15

kinh tế thường dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu tập trung vào luận giải các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, trong đó có vấn

đề thể chế kinh tế Thực tế, sự phát triển của một nền kinh tế chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố kinh tế, kỹ thuật – công nghệ, chính trị, xã hội Những nhân tố này có thể quy về hai dạng đó là các nhân tố kinh tế (bao gồm vốn, lao động, công nghệ và tài nguyên) và các nhân tố phi kinh tế (bao gồm cơ chế, chính sách, văn hóa xã hội…) Trước đây, các nhà kinh tế thường coi trọng các yếu tố vật chất như vốn, lao động, đất đai là những yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế nhưng thực tế đã cho thấy, cơ chế, chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Nó phản ánh vai trò định hướng, điều hành, điều tiết của nhà nước với nền kinh tế Ngoài ra, trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, những yếu tố tác động bên ngoài cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế của mỗi nước Trong sự phát triển của nền kinh tế mỗi nước qua các thời kỳ, những nhân tố ấy thường xuyên biến động và thay đổi Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố này chính là nhằm luận giải về sự phát triển của nền kinh tế Lịch sử kinh tế có quan hệ chặt chẽ với môn kinh tế chính trị Mối quan hệ giữa kinh tế chính trị và lịch sử kinh tế là mối quan hệ giữa cái trừu tượng và cái cụ thể Kinh tế chính trị nghiên cứu các quy luật và phạm trù kinh tế của các phương thức sản xuất, còn lịch sử kinh tế nghiên cứu những hoạt động cụ thể trong thực tiễn phát triển kinh tế ở những nước khác nhau và trong những giai đoạn phát triển riêng biệt của chúng

Lịch sử kinh tế còn quan hệ chặt chẽ với môn thông sử Đối tượng nghiên cứu của thông sử là toàn bộ các sự kiện, hiện tượng trong đời sống

xã hội, nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu các sự kiện chính trị, xã hội Lịch sử kinh tế chủ yếu nghiên cứu các vấn đề kinh tế Do vậy, có thể nói mối quan hệ giữa thông sử và lịch sử kinh tế là mối quan hệ giữa cái chung

và cái riêng

Lịch sử kinh tế còn có mối liên hệ chặt chẽ với các môn kinh tế chuyên ngành (nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp, tài chính, tiền tệ), nhưng lịch sử kinh tế không chú trọng nghiên cứu các khía cạnh về tổ chức và quản lý, mà chỉ nghiên cứu dưới giác độ

Trang 16

của lịch sử kinh tế ngành và trong mối quan hệ với sự phát triển tổng hợp

nền kinh tế

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận nghiên cứu của lịch sử kinh tế là phương pháp duy vật biện chứng Phương pháp duy vật biện chứng nhìn nhận các hiện tượng và quá trình hoạt động của nền kinh tế trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, có phủ định và kế thừa nhau trong sự vận động và phát triển không ngừng Do vậy, khi nghiên cứu lịch sử kinh tế không chỉ chú ý đến các hiện tượng kinh tế riêng biệt mà còn phải chú ý xem xét, phân tích và đánh giá các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ phổ biến vì nền kinh tế như một cơ thể sống, luôn diễn ra đa dạng, phức tạp và nhiều khi hàm chứa cả mâu thuẫn Điều đó có nghĩa là khi nghiên cứu lịch sử kinh tế, nếu chỉ tách biệt để phân tích hiện tượng kinh tế một cách riêng biệt thì

dễ dẫn đến những kết luận chủ quan mà không thấy được động thái tích cực và xu hướng vận động của nền kinh tế trong sự tác động tương tác của nhiều nhân tố Trong đó, có những nhân tố mang tính quyết định, phản ánh đặc trưng và xu hướng phát triển của nền kinh tế

- Cơ sở lý luận của lịch sử kinh tế là hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các lý thuyết kinh tế học và đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta Đó cũng là cơ sở để xác định những phương pháp

cụ thể trong phân tích và đánh giá động thái phát triển của nền kinh tế,

luận giải về các sự kiện, các hiện tượng và các quá trình kinh tế

- Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic

Phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu sự phát triển kinh tế gắn với các sự kiện, hiện tượng kinh tế theo tiến trình thời gian và trong hoàn cảnh cụ thể Sử dụng phương pháp này, khoa học lịch sử kinh tế mới

có thể thực hiện được tốt nhất nhiệm vụ phản ánh trung thực, khách quan lịch sử phát triển của các nền kinh tế

Phương pháp lôgic là phương pháp nghiên cứu bỏ qua những hiện tượng kinh tế ngẫu nhiên, đi vào bản chất của hiện tượng kinh tế, từ đó khái quát lý luận về tiến trình phát triển kinh tế

Trang 17

Về cơ bản, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Phương pháp lịch sử có ưu điểm là hết sức rõ ràng, cụ thể nhưng lại

có nhược điểm là hạn chế khả năng nhận thức Phương pháp lôgic có tính chất khái quát nhưng phân tích dưới dạng thuần túy trừu tượng nên không nói lên mặt cụ thể của sự phát triển Do vậy, trong nghiên cứu lịch sử kinh

tế, sự kết hợp chặt chẽ cả hai phương pháp lịch sử và lôgic sẽ hạn chế việc thiên về mô tả các sự kiện một cách tự nhiên chủ nghĩa, đồng thời hạn chế việc thiên về khái quát lý luận và suy diễn chủ quan, không coi trọng thực

tế lịch sử

Thực tế cho thấy, khi nghiên cứu lịch sử kinh tế nếu các hiện tượng kinh tế không rõ ràng, đầy đủ thì những kết luận khoa học rút ra từ các sự kiện kinh tế cụ thể sẽ không chắc chắn và kém thuyết phục vì lịch sử kinh

tế luôn diễn ra với tính muôn màu, muôn vẻ của nó Do vậy, nếu chỉ sử dụng phương pháp lịch sử đơn thuần sẽ không giúp người nghiên cứu nắm được chân lý khách quan Ph Ăngghen đã nói rằng: “Mới thoạt nhìn thì hình thức đó (phương pháp lịch sử) có cái ưu điểm là rõ ràng hơn, vì ở đây người ta theo dõi tiến trình phát triển hiện thực, nhưng thực ra hình thức đó nhiều lắm cũng chỉ là hình thức phổ cập hơn mà thôi Lịch sử thường phát triển qua những bước nhảy vọt và những bước khúc khuỷu quanh co, và nếu nhất định bất cứ ở chỗ nào cũng phải đi theo nó, thì không những sẽ phải nêu lên nhiều tài liệu không quan trọng mà thường còn phải ngắt đoạn tiến trình từ tưởng nữa”1 Đồng thời, khi nói về phương pháp lôgic trong mối quan hệ với phương pháp lịch sử, Ăngghen cũng chỉ ra rằng: “… Lịch

sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng phải bắt đầu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trừu tượng và nhất quán về lý luận; nó là sự phản ánh đã được uốn nắn, nhưng uốn nắn theo những quy luật mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung cấp”2

+ Phương pháp phân kỳ lịch sử

Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế phân chia quá trình phát triển kinh

tế thành các thời kỳ và giai đoạn khác nhau Phương pháp này nhằm làm rõ

1 C Mác – Ăngghen toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 614

2 C Mác – Ăngghen toàn tập, tập 13, Sđd tr 614

Trang 18

đặc trưng trong phát triển kinh tế của các nước trong từng thời kỳ và từng giai đoạn lịch sử cụ thể

+ Các phương pháp tiếp cận liên ngành

Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác như: các phương pháp thống kê, phương pháp toán kinh tế, phương pháp đối chứng, so sánh, phương pháp xã hội học v.v Thực tế, yêu cầu phát triển của khoa học ngày nay là đồng thời với quá trình chuyên môn hóa, chuyên ngành hóa gắn với quá trình mở rộng, liên kết, thâm nhập vào nhau, hòa quyện lẫn nhau giữa các chuyên ngành khoa học Phương pháp liên ngành nảy sinh trong bối cảnh như thế và ngày càng trở thành xu thế quan trọng trong đời sống học thuật Tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu liên ngành đòi hỏi phải tăng cường các hoạt động thông tin khoa học, tổ chức nhiều hội thảo bao gồm chuyên gia của các chuyên ngành khác nhau cùng luận bàn những vấn đề liên quan trong tiếp cận nghiên cứu của mình Đồng thời, tiếp cận liên ngành cần có sự kết hợp chặt chẽ hài hòa giữa các phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, phải tìm cách cập nhật thành tựu mới của khoa học công nghệ và nhanh chóng hiện đại hóa phương pháp nghiên cứu

1.3 TÁC DỤNG CỦA MÔN HỌC

Lịch sử kinh tế là một môn học kinh tế cơ sở ngày càng trở nên cần thiết trong nội dung kiến thức trang bị cho sinh viên khối kinh tế, góp phần nâng cao trình độ nhận thức cho sinh viên về tình hình kinh tế - xã hội trong nước, khu vực và thế giới

Thứ nhất, nghiên cứu lịch sử kinh tế góp phần nâng cao trình độ

lý luận kinh tế

Những kiến thức về lịch sử kinh tế giúp cho sinh viên nắm vững lý luận kinh tế cơ bản sâu sắc hơn và phong phú hơn trên cơ sở thực tiễn Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu đời sống kinh tế, điều kiện phát triển của xã hội, nghiên cứu sự sản xuất ra của cải vật chất chính là cơ sở khoa học trong việc xây dựng hệ thống lý luận kinh tế của C Mác và Ph Ăngghen Chính các tài liệu lịch sử kinh tế đã giúp C Mác và Ph Ăngghen

Trang 19

chứng minh một cách tuyệt diệu lý luận kinh tế của mình và phát hiện ra những quy luật phát sinh, phát triển và những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế - xã hội ở các nước tư bản

Cũng từ nghiên cứu những diễn biến sinh động của thực tiễn lịch sử kinh tế của các nước trên thế giới, một số nhà kinh tế học đã đúc kết, xây dựng các lý thuyết phát triển kinh tế làm phong phú thêm kho tàng học thuyết kinh tế và có ý nghĩa chỉ đường cho thực tiễn xây dựng phát triển kinh tế của mỗi nước gắn với những giai đoạn lịch sử cụ thể

Nhìn lại lịch sử, cuộc Đại suy thoái kinh tế những năm 1929 – 1933

đã đánh dấu sự sụp đổ của tư tưởng tự do kinh tế, của lý thuyết kinh tế tự điều chỉnh với “bàn tay vô hình” của thị trường Sự thất bại của lý thuyết này đã dẫn đến sự ra đời của lý thuyết kinh tế “chủ nghĩa tư bản có điều tiết” của J.M Keynes (1936) với chủ trương nhà nước can thiệp, điều tiết nền kinh tế Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1974 – 1975, với những căn bệnh trầm trọng của chủ nghĩa tư bản như lạm phát gắn với suy thoái, khủng hoảng cơ cấu đã làm cho học thuyết của J Keynes rơi vào khủng hoảng Suốt trong thời gian dài từ những năm 1980 đến nay, lý thuyết chi phối sự vận hành của nền kinh tế Mỹ bắt nguồn trong lý thuyết kinh tế thị trường tự do mới từ thời cầm quyền của tổng thống Mỹ R Reagan và thủ tướng Anh M Thatcher Cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng lần này đã cho thấy sự thất bại của mô hình kinh tế thị trường tự do mới Điều đó chứng tỏ nếu thiếu sự kiểm soát của nhà nước trong hoạt động của thị trường tài chính sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro bất ổn và dẫn đến khủng hoảng Joseph E Stiglitz đã phát biểu rằng: “Thế giới dường như đang tỏ ra không còn mặn mà với chủ nghĩa tự do mới, một chiếc túi đầy ý tưởng dựa trên nền tảng cơ bản là thị trường luôn luôn tự điều tiết, phân bổ hiệu quả các nguồn lực và phục vụ lợi ích chung” Thực tế, một phần tư thế kỷ vừa qua, một số nước đang phát triển khi áp dụng lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới cũng không đem lại kết quả như mong muốn, đặc biệt là những bất cập về khoảng cách rất lớn giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân Rõ ràng, nếu hai lợi ích này không hài hòa thì kinh tế thị trường cũng không thể phát triển Theo J Stiglitz: “Tư tưởng tự do mới là một học thuyết chính trị phục vụ cho lợi ích cá nhân, nó không dựa trên nền tảng của một học thuyết kinh tế

Trang 20

Nó cũng không dựa trên một kinh nghiệm lịch sử nào Đây là bài học duy nhất cần rút ra từ mối đe dọa đang đè nặng lên nền kinh tế thế giới hiện nay” Và đây chính là sự cáo chung của chủ nghĩa tự do mới

Với ý nghĩa ấy, học thuyết kinh tế của C Mác vẫn còn giá trị thực tiễn lớn để luận giải những vấn đề kinh tế - tài chính nóng bỏng hiện nay như vấn

đề khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Nhà sử học Eric Hobsbawn đã nói:

“Chúng ta không chút ngạc nhiên rằng các nhà chính trị cũng như các doanh nhân thành đạt nhất ở phương Tây, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực tài chính toàn cầu giờ đây đang quay trở lại nghiên cứu học thuyết của

C Mác và tìm thấy trong đó lời giải thích về nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ

hệ thống tài chính của thế giới đương đại”1

Thứ hai, học tập, nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ giúp nắm bắt và học tập những bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế

Việc học tập, nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ giúp sinh viên nắm được những bài học kinh nghiệm về xây dựng, phát triển kinh tế của các nước cũng như của nước ta Những bài học kinh nghiệm này được rút ra từ những thành công, thậm chí cả từ những hạn chế trong phát triển kinh tế Điều đó giúp sinh viên hiểu và vận dụng được nguyên tắc kế thừa và phát triển trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, vì hiện tại là sự phát triển cao của quá khứ C Mác đã viết: “Mỗi hiện tượng xuất hiện đều nhất thiết phải từ trên một nền tảng kinh tế nhất định trực tiếp sẵn có, do quá khứ để lại”2 Đồng thời, từ nghiên cứu lịch sử kinh tế, sinh viên sẽ nhận thức được xu hướng và đặc điểm phát triển kinh tế của thế giới cũng như của Việt Nam

Khi nghiên cứu về kinh tế các nước tư bản đã cho thấy vai trò của cách mạng khoa học – công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự đa dạng của kinh tế thị trường, cũng như thấy được những khuyết tật của nó và sự cần thiết về chức năng điều tiết của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế Từ thực tế khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng

1 Dẫn theo PGS.TS Phạm Quốc Trung, Khủng hoảng kinh tế thế giới – Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 20

2 C Mác, Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapac Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, tr 13

Trang 21

phát từ Mỹ năm 2007 cho thấy, nhiều vấn đề bất ổn đã tiềm tàng ẩn chứa trong nền kinh tế các nước tư bản Nó dễ dàng tạo ra những bất ổn định với chính nền kinh tế các nước này và gây tác động tiêu cực tới kinh tế toàn cầu Đó cũng là những giới hạn phát sinh từ bản chất nội tại của nền kinh

tế các nước tư bản và nó cũng buộc các nước này luôn phải tự điều chỉnh

để tồn tại Điều đó đã được Đảng ta nhận định và đánh giá: “Nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản vẫn chưa hết khả năng phát triển, nhưng cách mạng khoa học kỹ thuật và lực lượng sản xuất càng phát triển, càng làm cho các mâu thuẫn cơ bản trong hệ thống tư bản chủ nghĩa sâu sắc thêm, trước hết

là mâu thuẫn giữa lao động và tư bản Sự phát triển của lực lượng sản xuất cũng đưa tới những đảo lộn lớn trong quan hệ kinh tế giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau, nhất là giữa ba trung tâm Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Các nước tư bản mâu thuẫn và cạnh tranh với nhau, đồng thời chúng cố tìm mọi phương pháp và phương tiện, lợi dụng cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật để phát triển, để hòa hoãn những mâu thuẫn bên trong và liên minh với nhau chống các lực lượng cách mạng”1

Khi nghiên cứu về kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trong lịch sử và hiện nay cho thấy mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã tồn tại ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong điều kiện cụ thể đã phát huy được vai trò tích cực của nó và cũng đem lại những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, việc kéo dài mô hình này là không phù hợp do cơ chế kinh tế xơ cứng, hệ thống quản lý cồng kềnh, bao cấp tràn lan cả trong sản xuất và đời sống v.v… và hệ quả dẫn đến là sự trì trệ

và khủng hoảng trong phát triển kinh tế Những hạn chế của mô hình này

đã được Đảng ta chỉ rõ: “Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông, và đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội”2 và “cơ chế cũ gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1987, tr.35

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, sđd, tr.62

Trang 22

giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan duy ý chí”1 Thực tế ấy đã dẫn đến cải tổ, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa vào nửa cuối thập niên 1970, 1980 Những thành công hay thất bại trong cải tổ, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa thời gian qua đều để lại những bài học kinh nghiệm về sự kết hợp cải cách kinh tế và cải cách chính trị, về hình thức, bước đi và mục tiêu trong cải tổ, cải cách…

Việc nghiên cứu lịch sử kinh tế của NICs Đông Á cho thấy, Việt Nam có thể phát huy được lợi thế của một nước đi sau, thực hiện mô hình rút ngắn để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của cách mạng khoa học – công nghệ thời đại

đã làm thay đổi cả tư duy, nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực tế, những bài học kinh nghiệm của các nước đi trước đều có ý nghĩa

lý luận thực tiễn sâu sắc Điển hình như về vấn đề công nghiệp hóa, bài học kinh nghiệm được rút ra là cần phải xác định được mô hình công nghiệp hóa phù hợp để kết hợp tối ưu nguồn lực bên trong, bên ngoài, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa Mô hình công nghiệp hóa của Việt Nam cần phải nắm vững các quan điểm: công nghiệp hóa phải bám sát xu thế vận động của kinh tế thế giới, vừa tạo điều kiện khai thác lợi thế của mình, vừa tận dụng những cơ hội do thời đại tạo ra; công nghiệp hóa phải hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững Từ kinh nghiệm của NICs Đông Á cho thấy, cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thị trường không thể là một cơ cấu cố định được vạch ra theo nhận thức duy ý chí như dưới thời kế hoạch hóa tập trung “lấy công nghiệp nặng làm then chốt” để từ đó tự “chốt” mình vào một công thức cứng nhắc không có khả năng phát triển, coi nhẹ hoặc bỏ lỡ những thời cơ, những khả năng và cơ hội phát triển của các ngành công nghiệp khác Như vậy, cơ cấu mới trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta phải là một cơ cấu động dựa trên nguyên tắc tận dụng có hiệu quả nhất các lợi thế so sánh của đất nước Lợi thế so sánh thay đổi thì cơ cấu kinh tế cũng thay đổi, chỉ có như vậy mới phù hợp với sự vận động của kinh tế thị trường, mới đón được các cơ hội tốt của thị trường

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, sđd, tr.63

Trang 23

Thứ ba, nghiên cứu lịch sử kinh tế góp phần bồi dưỡng quan điểm lịch sử, quan điểm thực tiễn và nâng cao lập trường tư tưởng cho sinh viên

Nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế sẽ giúp cho việc nhận thức các vấn đề kinh tế một cách cơ bản và khách quan nhất V.I Lênin đã nói:

“Muốn đề cập tới vấn đề một cách đúng đắn, nghiêm chỉnh, chắc chắn thì trước hết phải nhìn toàn bộ lịch sử phát triển của nó”1 Đồng thời, việc phân tích, làm rõ các điều kiện lịch sử cụ thể của các sự kiện, các hiện tượng, các quá trình kinh tế chính là cơ sở cho việc nghiên cứu và vận dụng phù hợp những kinh nghiệm từ lịch sử phát triển kinh tế của các nước cũng như của Việt Nam Như vậy, việc học tập và nghiên cứu lịch sử kinh

tế sẽ bồi dưỡng cho sinh viên quan điểm lịch sử và quan điểm thực tiễn

Ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, trong nhận thức ta thường đồng nhất sản xuất hàng hóa với kinh tế thị trường và đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản Vì vậy, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua phát triển tư bản chủ nghĩa cũng là bỏ qua phát triển kinh tế thị trường, ít chú trọng đến phát triển sản xuất hàng hóa Ngày nay, nhận thức về kinh tế thị trường đã có những thay đổi căn bản Kinh tế thị trường được coi là thành quả văn minh chung của nhân loại và kinh tế thị trường có thể gắn với những thể chế chính trị - xã hội khác nhau Do vậy, có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhưng không thể bỏ qua phát triển sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta Đảng ta xác định rõ vai trò của kinh tế thị trường cũng như cơ chế thị trường trong phát triển kinh tế: “Cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa”2

Thực tế, kinh tế thị trường là mô thức kinh tế có tính đa dạng cao,

cả về hình thức của lực lượng sản xuất và hình thức của quan hệ sản xuất, trong đó có sự biểu hiện phong phú về trình độ của công cụ sản xuất, của

1 V.I Lênin, Vấn đề Nhà nước Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr 73

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.26

Trang 24

phương tiện kỹ thuật, của kỹ năng và trình độ tay nghề của người lao động Tính đa dạng ấy còn thể hiện ở nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh, ở quy mô, tính chất của hoạt động kinh doanh, của lĩnh vực sản xuất và kinh doanh… Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật của nó như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ… tác động một cách đồng bộ vào người sản xuất, quản lý và kinh doanh Sự tác động đó có ý nghĩa sống còn đối với mỗi chủ thể kinh

tế - xã hội và với nền kinh tế nói chung Sự tác động đó đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội năng động hơn, hiệu quả hơn trên cơ sở phân bổ, sử dụng các loại nguồn lực Trong quá trình phát triển và chuyển biến của các phương thức sản xuất, sự tác động đã làm cho bước đi từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa như là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất Sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng vươn lên nhờ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Như vậy, mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường thể hiện vừa trực tiếp, vừa gián tiếp và điều này quy định tính hai mặt của kinh tế thị trường

Từ chuyển biến của nền kinh tế thế giới trong mấy thập kỷ qua cho thấy, toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng bao trùm của sự phát triển thế giới ngày nay, trong đó các hoạt động kinh tế và sản xuất kinh doanh của mỗi nước, dưới tác động của những biến đổi mới về công nghệ - kỹ thuật

và dòng vốn lưu chuyển xuyên quốc gia đã phát triển vượt ra biên giới quốc gia dân tộc liên kết dựa trên chỉnh thể thị trường toàn cầu và đồng thời với quá trình đó là sự gia tăng mạnh mẽ của làn sóng hình thành và hoàn thiện các định chế, tổ chức quốc tế tương thích nhằm quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế đã ngày càng lệ thuộc chặt chẽ vào nhau giữa các nước và các khu vực Do vậy, toàn cầu hóa kinh tế là khuôn khổ để phân bổ lại nguồn lực phát triển trên thế giới Nó đặt ra yêu cầu cho các quốc gia phải tham gia vào quá trình tự do hóa nhằm dỡ bỏ các rào cản về thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ, lao động và thể chế cho các tiến trình phát triển toàn cầu Điều đó cho thấy, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ là quá trình gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua việc thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế mỗi nước Như vậy, trong phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập

Trang 25

kinh tế quốc tế là điều tất yếu đặt ra với nước ta Chủ trương đa dạng hóa,

đa phương hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước là

sự mở rộng có ý thức, có lựa chọn hình thức và đối tác hợp tác nhằm thúc đẩy thu hút đầu tư quốc tế và thương mại quốc tế để kinh tế đối ngoại thực

sự trở thành động lực quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế

Lịch sử kinh tế với nội dung nghiên cứu phong phú sẽ giúp người học nhận thức rõ hơn cơ sở khoa học và thực tiễn trong đường lối và các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, góp phần vào việc hình thành

tư duy khoa học để giải quyết những vấn đề thực tiễn trong chuyên môn nghiệp vụ

*

Khoa học lịch sử kinh tế ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức lý luận cũng như công tác thực tiễn Điều đó đúng như Đảng ta đã chỉ rõ: “Chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động và sáng tạo, bớt được những sai lầm và những bước đi quanh co, phức tạp”1 Việc nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ làm giàu thêm kiến thức, làm sâu sắc thêm lý luận và sẽ làm sáng tỏ thêm thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay./

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1991, tr 56

Trang 26

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Triết học, tập 1, 2, 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993

2 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 2002

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII Nxb

Sự thật, Hà Nội, 1991

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

6 V.I Lênin, Vấn đề Nhà nước Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960

7 Lịch sử phép biện chứng mácxít Từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác đến giai đoạn Lênin, Nxb Tiến bộ và Nxb Khoa học xã hội, Mátxcơva, 1986

8 C Mác, Ph Ăngghen, Tuyển tập, tập 1 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980

9 C Mác, Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 23 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

Trang 27

PHẦN THỨ NHẤT

LỊCH SỬ KINH TẾ

CÁC NƯỚC NGOÀI

Trang 29

Chương 2 KINH TẾ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa tư bản nảy mầm trong lòng chế độ phong kiến Chế độ phong kiến đã xuất hiện vào các thời điểm khác nhau ở những lục địa khác nhau Ở châu Á, chế độ phong kiến ra đời từ trước công nguyên, còn ở châu Âu nó được thiết lập vào thế kỷ thứ V sau công nguyên và phát triển

từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV Trong quá trình phát triển của chế độ phong kiến ở châu Âu, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã nảy mầm, phát triển và trở thành một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

2.1.1 Phân công lao động và sự ra đời thành thị phong kiến

Thời kỳ sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, sản xuất nông nghiệp trong các lãnh địa phong kiến châu Âu tuy chưa có sự thay đổi lớn về kỹ thuật canh tác Tuy nhiên, trong hoàn cảnh mới người nông dân không còn như thời kỳ nô lệ đã nhiệt tình hơn với sản xuất Họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm canh tác, áp dụng nhiều biện pháp thâm canh, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp, làm vườn, trồng nho Năng suất lao động nông nghiệp tăng lên Sản xuất nông nghiệp có những bước phát triển mới Tầng lớp phong kiến nhờ thu tô đã giàu lên, đời sống của nông dân cũng khá hơn Từ đó, các nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thủ công nghiệp cũng ngày càng gia tăng Một số nông dân có thể tách một phần thời gian hay bỏ nông thôn ra thị trấn làm nghề thủ công Họ sản xuất ra sản phẩm nhằm đáp ứng các nhu cầu của tiêu dùng của các lãnh chúa và toàn xã hội, qua

đó cũng gia tăng thu nhập cho bản thân

Trong nghề thủ công, kỹ thuật đúc và chế biến kim loại, dệt vải, thuộc da, sản xuất gỗ v.v có nhiều tiến bộ Do địa tô thu về được nhiều, tầng lớp phong kiến tha hồ tiêu xài, thừa để trao đổi lấy hàng thủ công cần

Trang 30

thiết Các quý tộc trước kia may âu phục bằng vải lanh hay da cừu, nay (thế kỷ X) họ cần áo choàng bằng len Muốn sản xuất loại hàng đặc biệt này, phải có người thợ chuyên môn, có địa điểm ổn định, rộng rãi và có thiết bị Các lãnh chúa cần có nhà thờ bề thế để cúng lễ; có tu viện để đào tạo thầy tu; có lâu đài tráng lệ bằng đá cao, chắc chắn để tự vệ Nhu cầu mới nảy sinh, lại xuất hiện nhiều loại thợ, nhiều xưởng biệt lập

Đến thế kỷ XI, sản xuất trong nông nghiệp và thủ công nghiệp trong phạm vi các lãnh địa đã tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn Nhiều nghề thủ công nghiệp được chuyên môn hóa, tách khỏi nông nghiệp Thủ công nghiệp không còn là cái đuôi của nông nghiệp như trước nữa Giữa hai khu vực đó hình thành mối quan hệ trao đổi, thúc đẩy nhau phát triển, thúc đẩy

sự ra đời của những thành thị phong kiến Đó là những trung tâm sản xuất thủ công nghiệp và trao đổi hàng hóa

Ở châu Âu thời trung cổ đã xuất hiện những thành thị phong kiến tự

do Những thành thị này thoát khỏi sự khống chế của thế lực phong kiến, trong đó thủ công nghiệp là ngành kinh tế chính, đồng thời các ngành thương nghiệp, cho vay lấy lãi cũng phát triển Mỗi nghề đều tổ chức thành các phường hội riêng Trong thành thị phong kiến, lúc đầu người thợ thủ công vừa là người sản xuất ra sản phẩm, vừa là người đem chào bán hàng của họ Nhưng khi thị trường tiêu thụ hàng hóa mở rộng ra ngoài phạm vi thành thị đã xuất hiện những người chuyên mang hàng của xưởng thợ đi bán, đi mua nguyên vật liệu cho xưởng thợ đó sản xuất - đó là các thương nhân

Thương nhân hợp thành từng đoàn người đi khắp lục địa châu Âu và sang Ấn Độ để bán hàng Trên đường đi, họ có chỗ dừng chân, gặp nhau

để trao đổi hàng ở một số địa điểm nhất định, gọi là hội chợ Hội chợ đầu tiên trên thế giới là hội chợ Sampanhơ (Pháp)

Khi mang hàng bán, thương nhân cần nhiều tiền để mua hàng Đầu tiên, những thương nhân thừa tiền cho thương nhân khác vay, về sau, hình thành những tổ chức cho vay Tổ chức cho vay lớn nhất vào thế kỷ XIV-

XV là các hãng Mêđeli (Ý), Vendecốp (Đức) Các hãng này không chỉ là chủ nợ của thương nhân, mà của cả các quý tộc, vua chúa phong kiến

Trang 31

Thương nhân giàu có trở thành những nhân vật trung tâm trong thành thị phong kiến Thừa tiền, họ tự đứng ra tổ chức xưởng thợ, thuê lao động,

tự sản xuất hàng hóa đem đi bán theo nhu cầu của thị trường, không cần lệ thuộc vào người thợ thủ công nữa Như vậy, đã xuất hiện một tầng lớp người mới Họ không trực tiếp sản xuất, có vốn, thuê lao động, sản xuất ra hàng hóa để bán và kiếm lời Đó là mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ở một số thành phố ven bờ biển Địa Trung Hải vào thế kỷ XIV-XV Tuy nhiên, thời đại của chủ nghĩa tư bản chỉ bắt đầu từ thế

kỷ XVI, nó gắn liền với nhiều điều kiện mới

2.1.2 Ảnh hưởng của các phát kiến địa lý vĩ đại

Ở Tây Âu vào thế kỷ XV, mặc dù nông nghiệp và thủ công nghiệp đều có sự phát triển nhưng các nguồn thu của triều đình ở nhiều quốc gia phong kiến vẫn không đủ để thanh toán các khoản chi phí xa xỉ trong triều đình Để bù đắp cho khoản thiếu hụt đó, triều đình đã phải đi vay nợ, chủ yếu là của thương nhân Vua chúa nợ thương nhân đã nhiều, ngân khố nhà nước vẫn thiếu hụt “Khát vàng” là động lực thúc đẩy các quốc gia phong kiến tìm con đường mới sang phương Đông để tìm kiếm vàng bởi con con đường giao thương quen thuộc giữa châu Âu và các nước phương Đông khi đó là Trung Quốc, Ấn Độ trên Địa Trung Hải đã bị đế quốc Thổ Nhĩ

Kỳ chiếm giữ Nhà nước phong kiến Tây Ban Nha, lúc này đang ở giai đoạn hùng cường nhất, đã tổ chức tìm kiếm những con đường mới sang phương Đông Đó chính là nguồn gốc của những phát kiến địa lý vĩ đại Năm 1492, Christopher Columbus đã thực hiện những chuyến đi vượt Đại Tây Dương đi vào vùng biển Caribê mở ra những cuộc thám hiểm châu Mỹ Năm 1497, Vasco da Gama, một nhà hàng hải người Bồ Đào Nha, là thuyền trưởng của một hạm đội xuất phát từ Bồ Đào Nha vượt qua Đại Tây Dương để tìm đường sang Ấn Độ Tháng 5-1498, hạm đội của ông đã đến được Ấn Độ và trở thành hạm đội đầu tiên đi thẳng từ châu Âu đến Ấn Độ Chuyển đi đó đã thực hiện được mục tiêu của các nhà hàng hải lúc đó là đi vượt qua điểm cực Nam của châu Phi, tìm ra con đường biển thuận lợi để tiếp cận được những của cải quý báu của Ấn Độ (chủ yếu là hồ tiêu đen và các loại hương liệu khác) Trong khoảng thời gian ba năm, từ năm 1519 đến năm 1521, Ferdinand Magellan đã tiến hành một chuyến đi

Trang 32

vòng quanh thế giới bằng đường biển Hành trình của ông đã chứng minh

là người ta có thể đi buôn bán bất cứ từ đâu, đến bất cứ nơi nào mà vẫn có thể trở lại chỗ cũ được

Những phát kiến địa lý vĩ đại đã ảnh hưởng to lớn đến sự ra đời của

chủ nghĩa tư bản:

- Thương nghiệp phát triển và hình thành thị trường thế giới

Những lục địa mới phát hiện là thị trường rộng lớn cho tiêu thụ hàng hóa ở châu Âu, đồng thời là những nơi cung cấp các nông sản phẩm đa dạng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp ở châu Âu phát triển Trước năm 1500, người ta mới biết diện tích 50 triệu km2 trong tổng diện tích quả đất là 510 triệu km2; đến năm 1600, diện tích đó được biết là 310 triệu km2 Nhiều nông phẩm trước kia châu Âu chưa hề biết như thuốc lá, ca cao, cà phê, chè đã được nhập vào ngày càng nhiều Nhiều loại trước kia đã có thì nay tăng lên gấp bội, như hồ tiêu từ 200 tấn tăng lên 7.000 tấn Phương pháp thương nghiệp quốc tế thay đổi Nhiều nước thành lập các tổ chức thương nghiệp độc quyền, chuyên bán một thứ hàng ở một thị trường nhất định, như công ty châu Phi ở Anh, công ty Đông Ấn của Hà Lan, Anh Trung tâm buôn bán cũng thay đổi, từ Địa Trung Hải chuyển lên phía Bắc

Âu Trước thế kỷ XVI, các thành phố miền bắc nước Ý rất nổi tiếng Từ thế kỷ thứ XVI về sau, lại là các thành phố của Anh, Pháp, Hà Lan Thành phố Auvenpun, sau đó là thành phố Amsterdam của Hà Lan trở thành trung tâm buôn bán quốc tế lúc đó Nghiệp vụ thương nghiệp quốc tế thay đổi, người ta không cần mang hàng đến chỗ mua bán, mà chỉ mang hàng mẫu, rồi kí hợp đồng, nhận hàng và trả tiền Các hình thức tín dụng,

kế toán thương mại quốc tế trở thành công cụ phổ biến trong các hình thức mua bán

- Cách mạng giá cả ở châu Âu

Từ những lục địa mới, vàng và bạc bị cướp đoạt đưa về châu Âu tăng nhanh, vàng từ 590.000 kg lên 1.192.000 kg, bạc từ 7 triệu kg tăng lên 21,4 triệu kg Phương tiện thanh toán bằng kim loại quý tăng lên, trong khi đó

số lượng hàng hóa sản xuất ra không tăng tương ứng Vì vậy mà giá cả tăng vọt, trung bình 3 lần Tình hình đó đã tác động rất lớn đến tình hình

Trang 33

kinh tế - xã hội ở châu Âu Thương nhân, chủ các công trường thủ công có dịp làm giàu và tích lũy vốn Một bộ phận lớn nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa Một bộ phận tầng lớp quý tộc cũng rơi vào tình trạng phá sản mà nguyên nhân là do nguồn thu của họ chỉ dựa vào địa tô thu bằng tiền mà số tiền thu được lại không đủ đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng

xa xỉ nên họ phải vay nợ của thương nhân, của những người giàu có, vì vay

nợ nhiều, không có khả năng trả nợ cuối cùng bị phá sản và phải đi làm thuê để sinh sống Người làm thuê trong các xưởng thợ cũng gặp nhiều khó khăn Cuộc cách mạng giá cả tác động mạnh đến sự phân hóa xã hội sâu sắc, làm tan rã cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến, thúc đẩy sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Chế độ thuộc địa hình thành

Những vùng đất mới khai phá đã trở thành những vùng thuộc địa của các nước đế quốc Đó là những nơi để các nước đế quốc khai thác tài nguyên, cưỡng bức cung cấp lao động và phải trao đổi hàng hóa không bình đẳng Đế quốc thuộc địa đầu tiên của thế giới là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Tiếp theo là các đế quốc thuộc địa Anh, Pháp, Hà Lan

Trong lịch sử, chế độ thuộc địa mới chỉ bắt đầu vào thế kỷ thứ XVII nhưng các thủ đoạn bóc lột thuộc địa dần dần được áp dụng phổ biến như buôn bán không ngang giá, khai thác vơ vét tài nguyên mang về chính quốc Bóc lột các nước thuộc địa đã trở thành một trong những biện pháp tích lũy nguyên thủy điển hình của chủ nghĩa tư bản

XVI-2.1.3 Tích lũy nguyên thủy tư bản

Bản anh hùng ca của các phát kiến địa lý vĩ đại đã mở ra thời đại tích lũy nguyên thủy tư bản Đó là quá trình dùng bạo lực để tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất của họ, trở thành người làm thuê, đồng thời tích lũy tiền của vào trong tay các nhà tư bản

Quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản ở mỗi nước diễn ra ở các thời điểm khác nhau và có những nét riêng biệt Ở nước Anh, quá trình này diễn ra sớm, tàn khốc với nhiều biện pháp điển hình như: tước đoạt ruộng đất của nông dân bằng bạo lực, buôn bán nô lệ và cướp biển, xâm chiếm thuộc địa, phát hành công trái, độc quyền ngoại thương Bằng các biện

Trang 34

pháp đó, đến cuối thế kỷ XVI, các nhà tư bản Anh đã tích lũy được những khoản vốn lớn

2.1.4 Sự phát triển kỹ thuật và các hình thức tổ chức sản xuất mới

Thế kỷ XV-XVI có nhiều tiến bộ kỹ thuật về năng lượng và luyện kim: đó là sử dụng sức gió, sức nước trong việc xay bột, khai thác than, đặc biệt là trong ngành luyện kim Hình thức của một lò luyện kim khép kín đã hình thành Những phương pháp sản xuất mới giữ được nhiệt độ cao

và liên tục cho phép luyện được những mẻ kim loại lớn, phục vụ cho việc đúc vũ khí chiến tranh để xâm chiếm thuộc địa và sản xuất ra nhiều loại công cụ sản xuất mới Số lượng kim loại được sản xuất tăng lên, phương pháp chế biến kim loại thay đổi, những công cụ để chế biến kim loại cũng thay đổi theo Thời gian này đã xuất hiện những loại búa máy đơn giản, máy bào, gọt, mài thô sơ, đã có bộ cần trục thô sơ hạ sâu trong lòng mỏ Đến cuối thế kỷ XVI, con người đã chế tạo được đồng hồ xách tay Cơ cấu của bộ máy tự động là điểm xuất phát cho những nghiên cứu phát minh mới sau này Trong ngành dệt, bàn dệt hoàn toàn bằng thủ công dần dần được cải tiến, lắp bàn đạp thay thế thao tác của hai bàn tay

Lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển ngày càng mâu thuẫn với phạm vi chật hẹp của nền sản xuất nhỏ trong các thành phố trung cổ Thị trường mở rộng, vốn đầu tư và lao động làm thuê tăng lên, cơ sở kỹ thuật được cải tiến đã tạo điều kiện để tổ chức sản xuất với quy mô lớn hơn Công trường thủ công tư bản chủ nghĩa ra đời, đó là hình thức quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, giữ vai trò thống trị ở châu Âu từ thế kỷ XVI đến 1/3 cuối thế kỷ XVIII

2.1.5 Cách mạng tư sản và sự thiết lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Kinh tế địa chủ ở nông thôn và kinh tế phường hội thủ công nghiệp ở thành thị phong kiến trở nên lỗi thời, kìm hãm sức sản xuất mới đang phát triển ở các nước Hà Lan, Anh Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến đang trở nên lỗi thời, lạc hậu đã dẫn đến những cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến và thiết lập chính quyền mới của giai cấp tư sản Đó là các cuộc cách mạng tư

Trang 35

sản ở Hà Lan năm 1566, ở Anh (1640-1660), ở Pháp (1789-1794), ở Nga (1861) Đến cuối thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển ở nhiều nước trên thế giới

Xuất phát từ những điều kiện lịch sử cụ thể riêng, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở mỗi nước có những đặc điểm riêng, đặc biệt là sự nảy sinh chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp

Theo C Mác, chủ nghĩa tư bản ở Anh, Hà Lan thuộc dạng cổ điển có đặc trưng như: cách mạng ruộng đất bắt đầu sớm, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh trong nông nghiệp, tài nguyên khai thác từ các nước thuộc địa, chính sách của nhà nước phong kiến có tác động mạnh đến quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản Ở Pháp, sự ra đời của chủ nghĩa tư bản cũng mang những hình thức cổ điển như ở Anh, Hà Lan, nhưng điểm khác biệt

là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp diễn ra trong những điều kiện thuận lợi hơn cho nông dân vì cách mạng tư sản Pháp diễn

ra triệt để đã quét sạch các đẳng cấp phong kiến

Ở Mỹ, Canađa, Ốtxtrâylia… chủ nghĩa tư bản phát triển trong nông nghiệp theo con đường trang trại, còn gọi là con đường “kiểu Mỹ”

Theo V.I Lênin, con đường phát triển chủ nghĩa tư bản ở Đức, Ba Lan, Hungary, Rumani, Nhật Bản, Nga là con đường “kiểu Phổ” Ở các nước này chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp phát triển chậm chạp vì các quý tộc bảo tồn tàn dư của chế độ nông nô trong các trang trại quý tộc Chủ nghĩa tư bản phát triển trong nông nghiệp dựa trên cơ sở của lao động cưỡng bức nên cũng bị phong kiến hóa Chủ nghĩa tư bản quan liêu đã hình thành, cản trở sự phát triển của nền sản xuất xã hội

2.2 THỜI KỲ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRƯỚC ĐỘC QUYỀN (1640-1870)

Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được khẳng định về mặt pháp

lý ở nhiều nước sau khi cách mạng tư sản thành công Song để cho phương thức sản xuất tư bản chiến thắng hoàn toàn, chủ nghĩa tư bản còn phải trải qua một giai đoạn xây dựng lực lượng sản xuất tương ứng với quan hệ sản xuất của nó Đó là giai đoạn hình thành và phát triển hệ thống công xưởng dựa trên kỹ thuật máy móc, thay thế cho công trường thủ công

Trang 36

2.2.1 Cách mạng công nghiệp

a Cách mạng công nghiệp ở nước Anh

Cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới diễn ra ở nước Anh Cách mạng công nghiệp là quá trình thay thế kỹ thuật thủ công bằng kỹ thuật cơ khí Cách mạng công nghiệp ở nước Anh gắn với cuộc cách mạng

kỹ thuật lần thứ nhất, song nó không chỉ là hiện tượng kỹ thuật thuần tuý,

mà còn có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xã hội và tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản

- Tiền đề

Cách mạng công nghiệp dựa trên những điều kiện tiền đề nhất định, nhưng điều kiện đó không giống nhau giữa các nước Ở nước Anh, những điều kiện của cách mạng công nghiệp xuất hiện sớm và thuận lợi hơn nhiều

so với ở các nước khác

Nguồn vốn của nước Anh dựa vào ưu thế ngoại thương, buôn bán len

dạ với giá độc quyền, trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa và các nước lạc hậu khác như Bắc Mỹ, Ấn Độ, Ailen, Đức Hoạt động xuất khẩu len dạ đã mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho những nhà tư bản Anh Năm 1701, xuất khẩu len đạt trị giá 2 triệu bảng Anh, chiếm khoảng hơn 1/4 tổng giá trị xuất khẩu và đến năm 1770 đạt 4 triệu bảng Anh, chiếm khoảng từ 1/4 đến 1/3 tổng giá trị xuất khẩu của nước Anh1 Từ năm 1780 đến năm 1800 giá trị xuất khẩu tăng lên 2,7 lần, đạt 55,831 triệu bảng Anh; giá trị nhập khẩu tăng 3 lần, đạt 55,4 triệu bảng Anh Các cuộc xâm chiếm

và khai thác thuộc địa đã cung cấp một nguồn tài chính lớn cho cuộc cách mạng công nghiệp Anh Đế quốc Anh chiếm Ailen (1649-1652), cướp thuộc địa của Tây Ban Nha (châu Mỹ), của Pháp (Canađa, Ấn Độ ), của

Hà Lan (Nam Phi, Ốtxtrâylia) Cho đến thế kỷ XIX, nước Anh đã chiếm được những vùng thuộc địa rộng lớn

Buôn bán nô lệ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn vốn cho cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh Cuộc viễn chinh cướp nô lệ sớm

1 Arnold Toynbee, Lectures on The Industrial Revolution in England, 1884,

http://socserv2.socsci.mcmaster.ca/~econ/ugcm/3ll3/toynbee/indrev

Trang 37

nhất xảy ra từ năm 1562 Chính phủ Sáclơ II ủng hộ và cho thành lập một công ty độc quyền - Công ty châu Phi của Hoàng gia (thành lập năm 1672) chuyên buôn bán nô lệ Từ năm 1680-1686, trung bình có khoảng 5.000 nô

lệ được chuyển từ châu Phi sang châu Mỹ Từ năm 1700-1786 có 61.000

nô lệ châu Phi được chuyển đến Jamaica, nếu tính từ 1680 đến 1786 có tới

2 triệu nô lệ bị Anh bán khắp nơi Liverpool là trung tâm buôn bán nô lệ Vào những năm 80 của thế kỷ XVIII, lợi nhuận về buôn bán nô lệ của Liverpool lên tới 300.000 bảng Anh mỗi năm

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp cũng là tiền đề cho cách mạng công nghiệp Anh Những đạo luật về ruộng đất của chính quyền tư sản Anh đã mở cửa cho việc bán ruộng đất của giáo hội, quý tộc được dễ dàng Từ 1760-1797 có khoảng 2,9 triệu acre bị rào (1 acre = 4047

m2) Năm 1801, “Đạo luật về rào đất” được ban hành, cho phép chủ đất thả cửa cướp ruộng đất của nông dân Số lượng ruộng đất còn bị rào nhiều hơn nữa Các quý tộc đã thuê lao động, tổ chức thành các trang trại kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa Trong sản xuất đã có những cải tiến kỹ thuật như cày nặng có hai bánh xe do bò kéo đã thay thế cho loại cày nhẹ không

có bánh xe, dùng bùn, vôi, trồng điền thanh để bón ruộng Không có một nước nào trong thời kỳ này nông nghiệp được phát triển như vậy Nền nông nghiệp Anh cung cấp ngày càng nhiều lông cừu cho nghề dệt len dạ Công nhân nông nghiệp là những người tiêu thụ hàng công nghiệp Nông nghiệp phát triển là cơ sở cho công nghiệp Ngược lại, khi thành thị phát triển, công nghiệp mở rộng cần lương thực ngày càng nhiều Sự tác động giữa công nghiệp và nông nghiệp đã thúc đẩy quá trình cách mạng công nghiệp Anh

Cách mạng công nghiệp ở nước Anh có những tiền đề chính trị thuận lợi Chế độ phong kiến bị tan rã dần trong quá trình rào đất và tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân từ thế kỷ XV Đến thế kỷ XVIII, chế độ đó bị thủ tiêu hoàn toàn Nhà nước quân chủ chuyên chế có xu hướng ủng hộ chủ nghĩa tư bản Các đạo luật về ruộng đất, những luật lệ bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản như độc quyền buôn bán với các nước thuộc địa, luật định cư năm 1662, luật khuyến khích nông nghiệp năm 1660-1673, 1689, luật cấm lao động kỹ thuật ra nước ngoài năm 1719-1750, cấm xuất khẩu

Trang 38

dụng cụ máy móc và bản vẽ kỹ thuật năm 1774-1781, 1782-1785,

1786-1795, đạo luật phê chuẩn các cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha năm

1700-1713, với Áo năm 1748-1770, với Pháp năm 1756-1763 Những chính sách đó thực sự tạo những điều kiện thuận lợi cho cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh

- Tiến trình

Cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh thực sự diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển của các nhà máy công nghiệp vào những năm 60 của thế kỷ XVIII nhưng những dấu hiệu đầu tiên của cuộc cách mạng là những phát minh, những cải tiến kỹ thuật đã xuất hiện từ đầu thế kỷ Năm 1733, người thợ dệt kiêm thợ máy John Kay đã phát minh “cái thoi bay” chạy bằng dây và sức đẩy của bàn đạp thay thế việc đưa bằng tay Năm 1760, thoi bay của John Kay đã được sử dụng rộng rãi ở các cơ sở dệt vùng Lancashire và sau đó ở nhiều vùng khác Việc áp dụng phổ biến thoi bay

đã gây ra mâu thuẫn trong ngành dệt: dệt nhanh dùng nhiều sợi nhưng sợi không cung cấp kịp

Vì thiếu sợi, nên năm 1761 “Hội cổ động nghệ thuật và kỹ nghệ” đã treo giải thưởng cho bất kỳ một phát minh nào về máy kéo sợi Năm 1768, một thợ mộc kiêm thợ dệt là James Hargreave đã đóng được một bàn kéo sợi và đặt tên là “Jenny” theo tên con gái mình Sau đó nó bắt đầu được sử dụng phổ cập và đến năm 1778 đã có gần 20.000 cái Sợi của máy Jenny

có ưu điểm là mượt, song không bền Năm 1779, một chủ đất nhỏ kiêm thợ thủ công Samuel Compton đã đóng được chiếc máy kéo sợi có ưu điểm

có hình thức tương tự như hiện nay Kỹ thuật dệt vải đổi mới, các ngành có liên quan như tẩy trắng, in hoa, nhuộm màu cũng có nhiều cải tiến

Trang 39

Những phát minh lớn nảy sinh cả trong ngành luyện kim Ngay từ đầu thế kỷ XVII, người ta đã thí nghiệm dùng than đá để nấu gang thay cho dùng gỗ vì gỗ đã bắt đầu khan hiếm Năm 1784, Henry Cort phát minh

ra cách dùng than đá để nấu gang thành sắt Phát minh của Henry Cort đã

mở ra một giai đoạn mới cho cuộc cách mạng trong ngành luyện kim Việc

áp dụng phát minh mới đã làm cho năng suất lao động trong ngành luyện kim tăng lên Sắt nhiều, người ta bắt đầu thay thế các công trình trước kia bằng gỗ Năm 1789, cầu sắt đầu tiên được xây dựng tại thành phố Looc (Anh)

Công nghiệp phát triển, yêu cầu phải tăng cường các phương tiện giao thông và đường giao thông Cách mạng trong ngành giao thông bắt đầu từ việc xây dựng kênh đào Năm 1755, kênh đào đầu tiên dài 11 dặm được xây dựng gần Liverpool Trong khoảng thời gian từ 1761 đến 1766 một kênh đào dài 29 dặm được hoàn thành từ Manchester qua Chester đến Mersey phía trên Liverpool Từ thời điểm này, hệ thống kênh đào được mở rộng nhanh chóng Trong khoảng thời gian 1/4 đầu thế kỷ XIX, ở Anh đã

có đến 4.670 dặm kênh đào Giai đoạn hai của cuộc cách mạng về giao thông mở đầu bằng việc đóng tàu thuỷ Từ năm 1812 đến 1854 là giai đoạn

ba của cuộc cách mạng trong lĩnh vực giao thông vận tải - xây dựng đường sắt Năm 1825, đoạn đường sắt đầu tiên trên thế giới được khánh thành nối Stockton với Darlington Năm 1830, đường sắt chạy từ Manchester đến Liverpool được xây dựng, tuyến này có ý nghĩa quan trọng với hoạt động buôn bán Đến năm 1849, liên minh vương quốc Anh – Xcốtlen - Ailen đã

có 5.996 dặm đường sắt Vận tải đường sắt phát triển nối liền các hải cảng với các vùng hẻo lánh nằm sâu trong nội địa Đường sắt đã góp phần thúc đẩy nhịp độ phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Cuộc cách mạng trong lĩnh vực năng lượng có ý nghĩa to lớn đối với

sự phát triển các ngành công nghiệp Năm 1784, Jame Watt đã sáng chế ra máy hơi nước và nó đã trở thành biểu tượng cho thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản Ở Anh từ năm 1801 các nhà máy sợi được trang bị máy hơi nước, đến năm 1815, cả nước Anh đã có 2.000 máy hơi nước Việc sử dụng rộng rãi máy hơi nước đã tỏ rõ ưu thế của nền công nghiệp Anh lúc bấy giờ

Trang 40

Chế tạo ra các loại máy ngày càng nhiều, không thể tiếp tục bằng phương pháp thủ công, mà phải có một ngành cơ khí chế tạo ra máy công

cụ, đảm bảo độ chính xác tinh vi Khoảng thời gian cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các loại máy phay, máy bào, máy tiện đã được sản xuất và thay thế những công cụ thô sơ của thế kỷ XV-XVI Ngành cơ khí chế tạo

ra đời, đến đầu thế kỷ XIX việc dùng máy để sản xuất máy đã trở thành hiện thực Các loại máy móc được sản xuất ở nước Anh không chỉ trang bị cho các ngành kinh tế trong nước mà còn có thể xuất khẩu Năm 1825 nước Anh xóa bỏ lệnh cấm xuất khẩu máy móc mà họ đã đặt ra từ những năm cuối thế kỷ XVIII

Nhìn vào tiến trình cách mạng công nghiệp ở nước Anh cho thấy, ngành dệt luôn chiếm vị trí hàng đầu trong công nghiệp ở nước Anh Năm

1868, ở Anh đã có 2.549 nhà máy dệt với 32 triệu guồng sợi và 379.329 máy dệt chạy bằng hơi nước Sản lượng gang trung bình những năm 1781-

1790 là 69 nghìn tấn, những năm 1825-1829 là 669 nghìn tấn; những năm 1855-1859 lên đến 3.583 nghìn tấn và những năm 1875-1879 là 6.484 nghìn tấn, Anh trở thành nhà xuất khẩu gang lớn nhất châu Âu Sản lượng than trung bình hàng năm trong giai đoạn 1820-1824 là 17,7 triệu tấn, giai đoạn 1840-1844 là 34,2 triệu tấn, giai đoạn 1860-1864 là 86,3 triệu tấn và giai đoạn 1880-1884 là 158,9 triệu tấn, lớn nhất châu Âu1

Động cơ hơi nước được sử dụng phổ biến và trở thành biểu tượng của công nghiệp thời kỳ này Chiều dài đường sắt ở Anh tăng nhanh Năm

1840, chiều dài đường sắt là 2.390 km, năm 1860 là 14.603 km và đến năm

1880 là 25.060 km Việc xây dựng đường sắt ở nước Anh đã đẩy nhanh nhịp độ phát triển của nền kinh tế, mở ra thị trường tiêu thụ và nguyên liệu mới cho công nghiệp

- Đặc điểm

Cách mạng công nghiệp Anh bắt đầu từ công nghiệp nhẹ (ngành dệt) rồi sau đó dẫn đến các ngành công nghiệp nặng như: luyện kim, cơ khí, nhưng công nghiệp dệt luôn đóng vai trò trụ cột trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp Cách mạng công nghiệp diễn ra theo trình tự từ thấp tới

1 Fontana Economic History of Europe Vol 4, Part 2

Ngày đăng: 09/12/2021, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Brochier H., “Câu chuyện thần kỳ về kinh tế của Nhật Bản 1950-1970”, TTXVN, 4.1971, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện thần kỳ về kinh tế của Nhật Bản 1950-1970
3. George Sansom, “Lịch sử Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. Guillain R., “Nhật Bản, cường quốc thứ ba”, Ed du Seuil, Paris, 1969, TTXVN, 1971. Hà Nội 2.1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản, cường quốc thứ ba
5. Haseyama T., Hirata A. và Yanagihara T., “Hai thập kỷ phát triển của châu Á và triển vọng những năm 80”, Nxb Khoa học xã hội và Viện châu Á – Thái Bình Dương, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai thập kỷ phát triển của châu Á và triển vọng những năm 80
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội và Viện châu Á – Thái Bình Dương
6. Herberg H., “Sự thách thức của nước Nhật Bản”, Denoel Paris, 1970, TTXVN, Hà Nội, 11.1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thách thức của nước Nhật Bản
8. Johnson Ch., “MITI và sự thần kỳ Nhật Bản”, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MITI và sự thần kỳ Nhật Bản
10. Morishima M., “Tại sao Nhật Bản thành công? Kỹ thuật phương Tây và tính cách Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao Nhật Bản thành công? Kỹ thuật phương Tây và tính cách Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
11. Nakamura T., “Kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh. Sự phát triển và cơ cấu”, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội,1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh. Sự phát triển và cơ cấu
12. Nakane Ch., “Xã hội Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1991. Nakane Ch., “Xã hội Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1991. Nakane Ch., “Xã hội Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
13. Reischauer E.O., “Nhật Bản: Quá khứ và hiện tại”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản: Quá khứ và hiện tại
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
14. Okita S., “Các nền kinh tế đang phát triển và Nhật Bản: Những bài học về tăng trưởng”, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nền kinh tế đang phát triển và Nhật Bản: Những bài học về tăng trưởng
15. Oshima H.T., “Tăng trưởng kinh tế ở châu Á gió mùa. Nghiên cứu bằng phương pháp so sánh”, Viện châu Á - Thái Bình Dương, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế ở châu Á gió mùa. Nghiên cứu bằng phương pháp so sánh
16. Lê Văn Sang, “Kinh tế Nhật Bản: Giai đoạn thần kỳ”, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Nhật Bản: Giai đoạn thần kỳ
17. Lê Văn Sang – Lưu Ngọc Trịnh, “Nhật Bản: Đường đi tời một siêu cường kinh tế”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản: Đường đi tời một siêu cường kinh tế
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
23. Lưu Ngọc Trịnh, “Chiến lược con người trong “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược con người trong “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
27. Vogel E.F., “Hoa Kỳ học gì ở Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội và Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Kỳ học gì ở Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội và Viện Kinh tế thế giới
29. Yoshihara. K, “Sự phát triển kinh tế Nhật Bản”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển kinh tế Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
30. Yoshino M.Y., “Hệ thống quản lý của Nhật Bản: Truyền thống và sự đổi mới”, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quản lý của Nhật Bản: Truyền thống và sự đổi mới
35. Carl Mosk, Japanese Industrialization and Economic Growth, http://eh.net/encyclopedia/article/mosk.japan.final Link
48. White Paper on International Economy and Trade 2010, (http://www.meti.go.jp/english/report/data/gIT2010maine.html) 49. http://www.applet-magic.com/meiji.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Chiều dài đường sắt của một số nước - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.3. Chiều dài đường sắt của một số nước (Trang 45)
Bảng 2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp ở một số nước tư bản (1905-1913 = - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.2. Chỉ số sản xuất công nghiệp ở một số nước tư bản (1905-1913 = (Trang 45)
Bảng 2.4. Phần trăm đóng góp trong sản xuất công nghiệp của thế giới - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.4. Phần trăm đóng góp trong sản xuất công nghiệp của thế giới (Trang 51)
Bảng 2.5. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của một số nước tư bản - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.5. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của một số nước tư bản (Trang 56)
Bảng 2.6. GDP của các nước tư bản (giá cố định 1975) - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.6. GDP của các nước tư bản (giá cố định 1975) (Trang 58)
Bảng 2.7. Tốc độ tăng năng suất lao động giai đoạn 1951-1970 - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.7. Tốc độ tăng năng suất lao động giai đoạn 1951-1970 (Trang 59)
Bảng 2.9. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm 1973-1982 - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.9. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm 1973-1982 (Trang 64)
Bảng 2.10. Nợ của chính phủ tính theo thu nhập quốc dân năm 1980 - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.10. Nợ của chính phủ tính theo thu nhập quốc dân năm 1980 (Trang 65)
Bảng 2.11. Tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước tư bản - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.11. Tốc độ tăng trưởng kinh tế các nước tư bản (Trang 73)
Bảng 2.12. Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.12. Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế (Trang 74)
Bảng 2.13. Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước tư bản phát triển - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.13. Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước tư bản phát triển (Trang 76)
Bảng 2.14. Tỷ lệ nợ so với GDP của một số nước tư bản phát triển Quốc gia  Tỷ lệ nợ/GDP (%)  Quốc gia  Tỷ lệ nợ/GDP (%) - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 2.14. Tỷ lệ nợ so với GDP của một số nước tư bản phát triển Quốc gia Tỷ lệ nợ/GDP (%) Quốc gia Tỷ lệ nợ/GDP (%) (Trang 78)
Bảng 3.1. Mười ngành có giá trị gia tăng lớn nhất (triệu USD) - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 3.1. Mười ngành có giá trị gia tăng lớn nhất (triệu USD) (Trang 98)
Bảng 3.2. Tỷ lệ đóng góp cho quỹ trợ cấp xã hội - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 3.2. Tỷ lệ đóng góp cho quỹ trợ cấp xã hội (Trang 123)
Bảng 3.3. Tình hình phát triển kinh tế Mỹ từ 1990 đến 2000 - Giáo trình lịch sử kinh tế
Bảng 3.3. Tình hình phát triển kinh tế Mỹ từ 1990 đến 2000 (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN