Từ ấy, Tiếng hát sông Hương, Lão đầy tớ • Xiềng xích: Là những bài thơ sáng tác trong thời gian Tố Hữu bị giam giữ tại các nhà tù của thực dân Pháp trong đó thể hiện tâm tư của 1 người c
Trang 3“ tr
T
à C
át ân tình, g.
t cái m d n lên c a t và lòng Hình nh bình thân thu c ch không mang tính
lính trên hành quân ra m t tr
cho lý
H
chuy khí r
Cùng v láy thanh “r
r p” miêu chân nhanh, khoát
chân càng k tr rung t chuy và hành quân ra tr thành binh mà con trong
nâng lên v vóc tr Khuynh thi và
r g,
Hình c
Hình so sánh “ êm
Trang 4“ tr
T
à C
át ân tình, g.
t cái m d n lên c a t và lòng Hình nh bình
thân thu c ch không mang tính
lính trên hành quân ra m t tr
cho lý
H
chuy khí r
Cùng v láy thanh “r
r p” miêu chân nhanh, khoát
chân càng k tr rung t chuy và hành quân ra tr thành binh mà con trong
nâng lên v vóc tr Khuynh thi và
r g,
Hình c
Hình so sánh “ êm
Trang 5CON ĐƯỜNG THƠ CỦA TỐ HỮU
Tố Hữu đến với thơ và với cách mạng cùng lúc Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn song hành, gắn bó và phản ánh chân thực từng chặng đường đấu tranh cách mạng gian khổ
mà vinh quang của dân tộc, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của chính nhà thơ
1 Tập thơ Từ ấy (1937-1946)
• Là chặng đường đầu tiên trong đời thơ Tố Hữu, là thời gian đánh dấu những bước giác ngộ và trưởng thành người thanh niên quyết tâm đi theo ánh sáng của Đảng
Tập thơ gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích và Giải phóng
• Máu lửa: Gồm những bài thơ sáng tác trong thời kỳ mặt trận dân chủ, đó là lúc người thanh niên trẻ tuổi đang băn khoăn kiếm tìm lẽ sống thì may mắn tiếp nhận ánh sáng của Đảng, tự nguyện gắn bó và dâng hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho cách mạng Nhà thơ đã cảm thông sâu sắc với cuộc sống của những con người lao khổ xung quanh mình, khơi dậy ở họ lòng căm giận, ý chí đấu tranh và niềm tin vào tương lai tươi sáng
(Từ ấy, Tiếng hát sông Hương, Lão đầy tớ)
• Xiềng xích: Là những bài thơ sáng tác trong thời gian Tố Hữu bị giam giữ tại các nhà tù của thực dân Pháp trong đó thể hiện tâm tư của 1 người chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi tha thiết yêu đời, khao khát tự do, kiên cường giữ vững ý chí chiến đấu vượt lên trên những thử thách chốn ngục tù (Tâm tư trong tù, Trăn trối…)
• Giải phóng: Gồm những bài thơ được sáng tác từ khi Tố Hữu vượt ngục cho tới thắng lợi cuộc Cách mạng tháng 8-1945 Đó là những bài thơ tuyên truyền vận động quần chúng đấu tranh giành chính quyền, ca ngợi cách mạng và nền độc lập tự do của đất nước, khẳng định niềm tin yêu của nhân dân với chế độ mới (Hồ Chí Minh, Huế tháng tám…)
Trang 6Hai tập: Ra trận (1962-1971); Máu và hoa (1972-1977)
4.
Hai tập thơ vừa là bản anh hùng ca ca ngợi đất nước và con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ (Mẹ suốt, Hãy nhớ lấy lời tôi); vừa là lời kêu gọi, cổ vũ thiết tha mãnh liệt cả dân tộc ta trong cuộc chiến đấu quyết liệt, hào hứng ở cả 2 miền Nam, Bắc (Bài ca mùa xuân
1967, Bài ca mùa xuân 1968, Bài ca mùa xuân 1971); và cuối cùng, trong những bài thơ mang đậm tính chính luận và chất sử thi như Việt Nam máu và hoa, Tố Hữu đã bộc lộ những suy ngẫm phát hiện về vẻ đẹp kì diệu của dân tộc và con người Việt Nam trong thời đại mới, đồng thời thể hiện niềm vui, niềm tự hào ngày toàn thắng
Hai tập: Một tiếng đờn (1992); Ta với ta (1999)
5.
Hai tập thơ đã thể hiển sự ổn định và khuynh hướng trữ tính chính trị cũng như những chuyển biến mới mẻ trong cảm hứng sáng tác của thơ Tố Hữu Tình yêu với đất nước, với nhân dân, niềm tin vào lý tưởng cách mạng, vào cái đẹp, cái thiện, tâm huyết thiết tha với cuộc đời… vẫn là dòng cảm hứng đáng trân trọng của thơ Tố Hữu thời kỳ này Bên cạnh đó, chứng kiến
và vượt lên bao thăng trầm trải nghiệm, Tố Hữu đã thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc tìm kiếm những giá trị bền vững của cuộc đời trong những bài thơ thâm trầm và cảm hứng đời
tư - thế sự
Trang 7PHONG CÁCH THƠ TỐ HỮU
1 Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, đó là nguyên nhân của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn rất đẹp trong thơ ông.
+ Thơ Tố Hữu luôn hướng tới lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng:
• Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình của Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, về sau là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc
• Lẽ sống lớn: lý tưởng đẹp nhất của mỗi con người là dấn thân đi theo cách mạng, phấn đấu vì cuộc sống tươi đẹp của dân tộc
• Thơ Tố Hữu không đi sâu vào những tình cảm riêng tư mà tập trung đi sâu vào những tình cảm lớn, mang tính chất tiêu biểu, phổ biến của con người cách mạng: tình quân dân cá nước, tình yêu lý tưởng, tình cảm kính yêu lãnh tụ
Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi:
• Cảm hứng lớn nhất trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lịch sử, dân tộc, những vấn đề được nhà thơ quan tâm và phản ánh trong thơ luôn là những vấn đề lớn lao của vận mệnh cộng đồng
• Những sự kiện lịch sử, những vấn đề chính trị quan trọng có tác động lớn tới vận mệnh dân tộc thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự (Huế tháng Tám, Việt Bắc)
• Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu đã là cái “tôi” chiến sỹ, càng về sau càng xác định là cái “tôi” nhân danh Đảng, nhân danh dân tộc, cái “tôi” hòa trong cái “ta”, nhân danh cái ta Có lẽ đó là nguyên nhân khiến thơ Tố Hữu ít thể hiện những tâm tư tình cảm riêng tư
mà thường hướng tới những tình cảm lớn, lẽ sống lớn của cách mạng và con người cách mạng (Việt Bắc, Bác ơi, Tiếng ru ) Nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu thường là con người đại diện cho sức mạnh, vẻ đẹp, phẩm chất, khát vọng, thường mang tầm vóc của lịch sử và thời đại (Lượm, Người con gái Việt Nam)
Thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình, ngọt ngào tha thiết.
• Giọng điệu đặc biệt này không chỉ thừa hưởng từ điệu hồn của con người xứ Huế mà còn xuất phát từ quan niệm của Tố Hữu về thơ: Thơ là chuyện đồng điệu, là tiếng nói của 1 con người đến với những người nào có có sự cảm thông trong thơ Tố Hữu, sự cảm thông thường xuất hiện trong những tâm tình, nhắn nhủ, ngọt ngào, thương mến
2 Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc trong hình thức thể hiện.
• Thơ Tố Hữu nghiêng về tính truyền thống hơn là khuynh hướng hiện đại, đổi mới Tố Hữu đặc biệt thành công trong các thể thơ dân tộc như lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn
• Tố Hữu thường sử dụng lối mới, cách diễn đạt, những phương thức chuyển nghĩa quen
Trang 8thuộc của thơ ca dân gian, thơ ông thường xuất hiện những ngôn từ giản dị, những thi liệu truyền thống trong tác phẩm của ông
• Tố Hữu có biệt tài sử dụng từ láy, phối hợp âm, thanh, vần để tạo ra nhạc tính thể hiện cảm xúc dân tộc, tâm hồn dân tộc
sử ấy, Tố Hữu sáng tác Việt Bắc
• Bài thơ gồm có 2 phần: Phần đầu tái hiện hình ảnh của cách mạng và kháng chiến ở Việt Bắc, phần sau gợi ra viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn của Đảng, của Bác
Hồ đối với dân tộc
Cấu tứ chung của bài thơ
đi, kẻ ở với nghĩa “chúng ta” như “Rừng cây, núi đá, ta cùng đánh tây”…
• Cách xưng hô này thể hiện cuộc biệt li giữa TW Đảng - Chính phủ - Bác Hồ với nhân dân Việt Bắc, chiến khu Việt Bắc Nhưng đây lại là một cuộc chia tay đặc biệt vì người ra đi thực chất lại là người trở về, cuối chặng đường của người đi không phải là chân trời góc bể mà
là cuộc sống hòa bình… Chia tay nhưng gợi lên hy vọng về một ngày mai tươi sáng Tình cảm của người ở lại không chỉ là sự lưu luyến bâng khuâng mà còn là sự nhắc nhớ về cội nguồn, về truyền thống, nghĩa tình
Trang 9II TRỌNG TÂM KIẾN THỨC
ĐỀ 1:
Phân tích đoạn thơ sau (8 câu mở đầu):
“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”
4 câu thơ đầu: tiếng lòng của người ở lại
• Người ở lại xưng là “ta”, gọi người ra đi là “mình”
• Điệp ngữ “Mình về mình có nhớ ” tạo thành hai cặp câu: 1 cặp hỏi về thời gian (15 năm ấy), một cặp hỏi về không gian (cây-núi-sông-nguồn)
• 15 năm ấy: Tính từ khởi nghĩa Bắc Sơn (1940), Việt Bắc là cái nôi cách mạng
• Tình cảm của người ở lại: thiết tha mặn nồng - sự lưu luyến bâng khuâng
4 câu thơ sau: lời của người ra đi
• Tâm trạng: bâng khuâng, bồn chồn
• Hoán dụ: áo chàm: chỉ người Việt Bắc
• Sự lưu luyến nghẹn ngào, không nói nên lời
• Nỗi lòng của kẻ ở người đi được thể hiện qua một hình thức thơ giàu tính dân tộc
Trang 10THAM KHẢO
Hoàn cảnh sáng tác: như phần I
Bài thơ mở ra trong một khung cảnh chia tay với tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn của những con người từng gắn bó sâu nặng với nhau: giữa người cán bộ cách mạng về xuôi với nhân dân Việt Bắc Người ở lại lên tiếng trước như nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay:
“Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn nồngMình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.”
Mới đọc câu đầu tiên ta cứ ngỡ như nghe một câu ca dao tình yêu, người tình nhắc nhở kỉ niệm về mười lăm năm gắn bó Câu thơ mở đầu gợi cho chúng ta nhớ đến câu ca dao:
“Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.”
Hay:
“Mình về ta dặn câu nàyDặn dăm câu nhớ, dặn vài câu thương.”
Tố Hữu đã mượn một hình thức đối đáp quen thuộc của văn học dân gian để gửi gắm những tình cảm lớn lao của thời đại Bốn câu thơ tạo thành hai cặp câu với điệp ngữ “mình về mình có nhớ…”, điệp ngữ “nhớ”, “nhìn” vang lên như một niềm day dứt khôn nguôi của người
ở lại
Câu hỏi được gợi mở rất khéo léo: một câu hỏi về thời gian (mười lăm năm ấy), một câu hỏi về không gian (cây - núi, sông - nguồn) Việt Bắc đã gói trọn một vùng cách mạng, một thời cách mạng
Câu hỏi thứ nhất hướng về thời gian, đó là “mười lăm năm ấy…” Nhớ về thời kì kháng chiến chống Pháp, nhà thơ nhớ tới 15 năm chứ không phải chỉ có 9 năm (1946-1954) Đó là Việt Bắc - quê hương Cách mạng từ thời kì khởi nghĩa Bắc Sơn (1940) và đặc biệt là Việt Bắc mùa xuân năm 1941- khi Bác Hồ sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã trở về Cao Bằng thành lập căn cứ địa Cách mạng Do đó nhớ về Việt Bắc là nhà thơ nhớ về “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa” Đó cũng là những thời gian “thiết tha mặn nồng”, là thời gian mà “ta” và
“mình” từng gắn bó, chia ngọt sẻ bùi với “biết bao nhiêu tình”, biết bao ân sâu nghĩa nặng.Các câu hỏi ở phần sau của người ở lại cũng đều hướng đến hỏi về một thời cách mạng, một vùng cách mạng nên có thể nói, bốn câu thơ mở đầu này đã bao quát đầy đủ nội dung cảm hứng của cả bài thơ
Nếu câu hỏi thứ nhất “Mình về mình có nhớ ta” làm xao xuyến lòng người bởi sự phảng phất giọng điệu những câu ca về tình yêu, thì câu hỏi thứ hai “Mình về mình có nhớ không” lại
Trang 11khiến con người phải trăn trở, suy ngẫm vì sự tha thiết và nghiêm nghị trong giọng điệu câu thơ Câu hỏi này hướng đến không gian: “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
Hai vế của câu thơ đan xen những hình ảnh của cả miền xuôi như “cây”, “sông” và miền núi như “núi”, “nguồn” Nó vừa gợi ra những phạm vi không gian vừa kín đáo gợi lên tình cảm cội nguồn, lời thơ vì thế cũng là lời nhắc nhở người ra đi đừng quên nghĩa tình cách mạng nơi chiến khu Việt Bắc này
Bốn dòng thơ tiếp là tiếng lòng của người ra đi:
“Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Câu thơ đầu nhắc tới “Tiếng ai tha thiết bên cồn” cho thấy những nhớ nhung xao
xuy-ến, những day dứt trăn trở trong lòng người ở lại gửi gắm trong 4 câu thơ trên đã được người ra
đi thấu hiểu cảm nhận “Ai” chính là người ở lại nhưng tính chất phiếm chỉ trong cụm từ “tiếng ai” đã đem lại cảm giác những câu hỏi tha thiết trong 4 câu đầu là tiếng của ai đó chưa nhìn rõ mặt, mới chỉ như những âm thanh vọng từ cỏ cây núi rừng, suối sông Việt Bắc, là tiếng lòng của người ở lại, tuy nhiên sự tri âm tri kỷ đã khiến họ thấu hiểu lòng nhau, người ở lại “thiết tha”, người ra đi “tha thiết”, hô ứng, đồng cảm, đồng vọng…
Câu thơ “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi” sử dụng nghệ thuật tiểu đối, nó diễn tả nỗi nhớ chi phối cả tâm tư, cảm xúc, cả hành động của người ra đi Hình ảnh “áo chàm”
là một hình ảnh hoán dụ chỉ người Việt Bắc, nó gợi lên đặc điểm của con người nơi đây đồng thời nó gợi lên vẻ đẹp mộc mạc, chân tình, thủy chung, bền bỉ của người Việt Bắc Các cuộc chia li trong văn học cổ cũng thường xuất hiện hình ảnh chiếc áo tiễn đưa:
“Áo chàng đỏ tựa ráng phaNgựa chàng sắc trắng như là tuyết in”
(Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm)hay
“Người lên ngựa, kẻ chia bàoRừng phong thu đã nhuốm màu quan san”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)Tuy vậy, cuộc chia li ở đây mang màu sắc hiện đại: nó nhớ thương nhưng không buồn vì
nó mang niềm vui, niềm tin của những con người làm nên chiến thắng Chia tay không phải
để biệt li mà chia tay để gặp lại vào một ngày mai tươi sáng Nhịp thơ lục bát đều đặn ở bốn câu đầu đến đây như vì chút bối rối trong lòng người ra đi mà có chút thay đổi: áo chàm/ đưa buổi phân li, Cầm tay nhau/ biết nói gì hôm nay… Nhịp thơ diễn tả thần tình “một thoáng ngập ngừng” của tình cảm, tạo ra một chút lặng cho chuỗi câu hỏi tiếp theo được vang lên dồn dập,
Trang 12tha thiết Hành động “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” chính là cái bắt tay không lời nhưng đong đầy cảm xúc
Bài thơ đã đề cập đến một vấn đề lớn, một thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại của dân tộc, chứa đựng tâm tư, tình cảm lớn của hàng triệu người Việt Nam Tố Hữu đã tái hiện sự kiện chính trị và thể hiện tình cảm lớn ấy một cách sáng tạo với một tứ thơ đặc biệt: đó là cuộc chia tay đầy lưu luyến, bâng khuâng bịn rịn giữa cán bộ cách mạng và Việt Bắc - giữa kẻ ở và người
đi - giữa mình và ta Cách cấu tứ này vốn thường được dùng trong ca dao, dân ca để diễn tả tình cảm riêng tư của đôi lứa Nhà thơ đã vận dụng sáng tạo nó vào việc thể hiện những tình cảm cách mạng rộng lớn
Bài thơ đã thể hiện những vấn đề chính trị, những tình cảm lớn lao bằng một giọng đặc biệt: giọng trữ tình, ngọt ngào, êm ả, nhẹ nhàng như những lời ru Nhà thơ đã dùng một loạt
từ ngữ trong hệ thống những từ ngữ dân gian để diễn tả tâm trạng của tình yêu như: “mình”,
“ta”, “nhớ”, “thiết tha”, “bồn chồn”, “bâng khuâng” vừa tạo nên nhạc điệu cho lời thơ vừa tạo nên một tình cảm thân mật, tha thiết, quyến luyến, dẫn người đọc vào không khí ân tình, nghĩa tình và như thế chuyện kháng chiến, chuyện nghĩa tình cách mạng đã đến với người đọc bằng con đường của tình yêu, rất trữ tình
Trang 13 Hoàn cảnh sáng tác, vị trí và nội dung chính của khổ thơ
Phân tích: Nỗi nhớ của người ở lại ở nhiều phương diện:
• Những phạm vi không gian, thời gian: mười lăm năm, khi kháng Nhật, thuở Việt Minh, chiến khu, núi non
• Sự dữ dội của thiên nhiên và sự đồng lòng chung sức của con người
• Sự trống trải của nhân dân Việt Bắc
• Mình đi mình lại nhớ mình: từ mình thứ ba có nhiều cách hiểu:
Trong lời của người ở lại, Việt Bắc hiện lên với sự dữ dội khắc nghiệt của thiên nhiên:
“Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”, “lau xám”, mây mù có khi là kỉ niệm về những ngày kháng chiến gian khổ thiếu thốn “miếng cơm chấm muối” để đi đến những thắng lợi to lớn “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” Sau tất cả những kỉ niệm đó là ân tình tạo nên
sự gắn bó sâu nặng giữa kẻ ở người đi Họ cùng nhau trải qua những ngày “mưa nguồn, suối
Trang 14lẻ” cùng trải qua những kham khổ thiếu thốn với “miếng cơm chấm muối”, chung cả tâm tư
“mối thù nặng vai”, chung mối thù giặc, chung tấm lòng son sắt thủy chung… Những khó khăn trong quá khứ đã tạo thành cội nguồn cho sự gắn bó ở hiện tại và tương lai, khi con người biết đồng cam cộng khổ, đồng lòng chung sức với nhau
Sự ra đi của người về xuôi đã tạo nên cảm giác trống vắng trong lòng người ở lại:
“Mình về rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để già”
Câu thơ tiếp tục là một câu hỏi mà người ở lại gửi gắm nỗi nhớ người ra đi qua hình ảnh
“rừng núi nhớ ai” Hỏi cũng chỉ để bày tỏ nỗi trống trải trong con người mình khi người cán
bộ cách mạng về xuôi “Trám bùi” và “măng mai” là những sản vật của Việt Bắc, nhưng sau khi người cán bộ đi rồi, mọi thứ nơi đây trở nên ngưng trệ, trám bùi không ai hái, măng mai không
ai nhặt Tất cả mọi thứ ngon ngọt cũng trở thành vô nghĩa
“Mình đi mình lại nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”
Câu thơ cuối có ba từ mình được điệp lại liên tiếp Hai từ “mình” ban đầu chỉ người về xuôi, từ “mình” thứ 3 vừa có thể hiểu là lời của người ở lại, vừa có thể chỉ người về xuôi Dòng thơ có thể hiểu là “Mình đi mình có nhớ ta không”, có nhớ những con người gắn bó gian khổ một thời, có nhớ một vùng cách mạng gian lao và thấm đượm nghĩa tình hay không? Nhưng cũng có thể hiểu là “Mình đi mình có nhớ chính bản thân mình ngày xưa không” Nếu hiểu theo cách này, lời thơ trở thành một lời nhắc nhở chân thành mà nghiêm khắc Liệu người ra
đi có còn là con người của mười lăm năm ấy, thủy chung, nghĩa tình, chia sẻ ngọt bùi đắng cay? Liệu người ra đi có bị những ánh sáng nơi phồn hoa đô hội làm lãng quên quá khứ hay không? Lời thơ vừa tha thiết lại vừa có sức nặng của một lời nhắc nhở chân thành mà nghiêm khắc.Câu thơ “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” mở ra hàng loạt địa danh Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào đã được tách ra tạo thành 2 địa danh riêng - 2 địa danh chung Mái đình Hồng Thái là nơi họp Quốc dân Đại hội đầu tiên (8/1945) thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền, cây đa Tân Trào là nơi xuất phát của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam Như vậy, Hồng Thái, Tân Trào đều là những điểm khởi đầu hoặc xuất phát của Cách mạng Bên cạnh
đó, những địa danh như mái đình, cây đa là những hình ảnh bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam Trong lòng người ở lại đã không còn sự phân biệt riêng chung nào nữa, những địa danh lịch sử thiêng liêng cũng trở nên gần gũi, tình cảm của người ở lại với người về xuôi cũng trở nên tình cảm xóm làng thân thiết, gắn bó
Tố Hữu đặc biệt khéo léo trong việc sử dụng điệp từ “nhớ”, phép lặp, phép liệt kê, và các câu hỏi tu từ, đặc biệt là nghệ thuật tiểu đối, tạo nên sự cân xứng nhịp nhàng trong âm hưởng, nhịp điệu lời thơ Tố Hữu đã thể hiện đặc biệt tinh tế khi ghi lại tiếng vọng thủy chung giữa kẻ
ở người đi trong giờ khắc chia tay đầy bâng khuâng và chan chứa kỉ niệm