Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng Cộng là những trang sử sôi động nhất, hào hung nhất, oanh liệt nhất. Kể từ khi có Đảng, dân tộc ta tiếp tục giành được những thắng lợi mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Mở đầu là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cho đến nay chúng ta cũng khẳng định công cuộc đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc… Tất cả những thắng lợi đó của dân tộc không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (91960) đã Quyết nghị lấy ngày 03 tháng 02 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại, là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, là sự kiện đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta, tạo ra những tiền đề và nhân tố quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ những vấn đề nêu trên bản thân tôi lựa chọn chủ đề Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và liên hệ những giá trị, ý nghĩa đó đối với Đảng bộ, địa phương nơi công tác để nghiên cứu nhằm giải quyết những tồn tại hạn chế và phát huy các thế mạnh tại địa phương trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Quỳ Châu trong thời gian tới..
Trang 1TIỂU LUẬN HẾT MÔN HỌC
Môn: Lịch sử Đảng
Họ và tên: Cao Văn Tư
Đơn vị công tác: Hạt Kiểm lâm Quỳ Châu
Lớp: Trung cấp lý luận chính trị - hành chính QC.K10
Nghệ An, ngày 20 tháng 9 năm 2021
Trang 2TIỂU LUẬN
Môn: Lịch sử Đảng
Họ tên học viên: Cao Văn Tư
Lớp: Trung cấp lý luận chính trị hành chính QC-K10
Chữ ký GVC 1: ………
Chữ ký GVC 2: ………
Điểm Bằng số:
Bằng chữ:
Chủ đề:
Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập, ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Liên hệ những giá trị, ý nghĩa đó đối với Đảng bộ, địa phương nơi công tác
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng Cộng là những trang sử sôi động nhất, hào hung nhất, oanh liệt nhất Kể từ khi có Đảng, dân tộc ta tiếp tục giành được những
thắng lợi mang ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, thể hiện những bước nhảy vọt trong
tiến trình lịch sử của dân tộc
Mở đầu là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà; tiếp đó là thắng lợi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc, cho đến nay chúng ta cũng khẳng định công cuộc đổi mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang giành được những thắng lợi to lớn, "có ý nghĩa lịch sử sâu sắc"… Tất cả những thắng lợi đó của dân tộc không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã Quyết nghị lấy ngày 03 tháng 02 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại,
là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, là sự kiện đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta, tạo ra những tiền đề và nhân tố quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Từ những vấn đề nêu trên bản thân tôi lựa chọn chủ đề "Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và liên hệ những giá trị, ý nghĩa đó đối với Đảng bộ, địa phương nơi công tác" để nghiên cứu
nhằm giải quyết những tồn tại hạn chế và phát huy các thế mạnh tại địa phương trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Quỳ Châu trong thời gian tới./
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Về tiêu đề
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, ý nghĩa lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam
2 Về nội dung
2.1 Bối cảnh lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh quốc tế
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách: Bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh
mẽ ở các nước thuộc địa
Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người;
là ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
2.1.2 Bối cảnh trong nước
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy
thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác” Chính sách
thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền
lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế
độ cai trị riêng
Trang 5Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách
bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa
Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn
cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu
Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt
Phần lớn giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nông dân; một
bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thực dân Pháp Do đó, mẫu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này, không chỉ là mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến,
mà đã nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược
Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra liên tục và mạnh mẽ Tuy nhiên do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại … Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước
2.2 Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này)
ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ,
đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư
Trang 6bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa
Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp Tháng 6 năm
1919, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo và
cũng chính từ đây đã giải đáp cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự do thực
sự cho dân tộc, cho đồng bào mình
Từ ngày 25 đến 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng
Xã hội Pháp với tư cách đại biểu Đông Dương Kết thúc Đại hội ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Từ năm 1921-1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ, lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc)
Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của một Đảng vô sản ở Việt Nam đã chín muồi
2.3 Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, ngày 17/6/1929, Kỳ Bộ Bắc Kỳ
Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà
Nội Tháng 11/1929, các đồng chí Tổng bộ và Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam cách
mạng Thanh niên quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng Ngày 1/1/1930, những
đại biểu ưu tú của Tân Việt cách mạng Đảng (một tổ chức tiền thân của Đảng) đã họp
và thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ Tuy nhiên, ở một nước có
tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam
Trang 7Từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản Trong Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đề ra 5 điểm lớn cần thảo
luận và thống nhất, trước hết là tự phê bình và phê bình, “Bỏ mọi thành kiến xung đột
cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”
Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một Đảng, lấy tên
là Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị đã thông qua các văn kiện gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào
bị áp bức, bóc lột nhân dịp thành lập Đảng Trong đó, Chánh cương vắn tắt của Đảng
và sách lược vắn tắt của Đảng phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng
2.4 Ý nghĩa lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập đối với đối với
sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về đường lối cứu nước, mở ra thời kỳ cho cách mạng Việt Nam: thời kỳ có đường lối cách mạng đúng đắn với tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo Từ khi thành lập cách mạng Việt Nam có đường lối chính trị toàn diện
đề ra mục tiêu phương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn
cơ bản của xã hội, đồng thời có được tổ chức cách mạng để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng Đó là kết quả của sự vận động phát triển và thống nhất của phong trào cách mạng trong nước, của sự chuẩn bị tích cực, sáng tạo về chính trị, tư tưởng và tổ chức của lãnh tụ Nguyên Ái Quốc, của sự đoàn kết nhất trí, của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích giai cấp và dân tộc
Đảng cộng sản việt Nam thành lập là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Đó là kết quả của
sự phát triển cao và thống nhất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước yêu nước Việt Nam, được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng lý luận của giai cấp công nhân, vũ khí giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng toàn xã hội
Chủ tịch Hô Chí Minh đã khẳng định: "Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô vùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng"
Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập đã khẳng định dứt khoát nội dung, xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội
Sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp nội dung và xu thế cách mạng thời
Trang 8đại mới được mở ra từ Cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại: "Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh đây là lựa chọn của chính lịnh sử, sự lựa chọn dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta"
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam, trên chặng đường 91 năm Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đạt được nhiều tành tựu to lớn: Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa to lớn đưa đến thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Đảng lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước (1945 - 1975); lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1975 đến nay
Trong giai đoạn hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh covid
-19, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 đã thường xuyên chỉ đạo sát sao, quyết liệt, chủ động, kịp thời thực hiện các biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt để phòng, chống, ngăn chặn dịch bệnh Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt "chống dịch như chống giặc", kiên định thực hiện mục tiêu kép phòng, chống dịch hiệu quả đồng thời phát triển kinh tế, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đã huy động được
sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1 Về tiêu đề
Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quỳ Châu trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 2016-2020
2 Về nội dung
2.1 Đặc điểm tình hình
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống kiên cường, dũng cảm, cần
cù, đoàn kết, tự chủ…của nhân dân và các dân tộc Quỳ Châu được nhân lên gấp bội, trở thành sức mạnh to lớn giành được những thành tựu cách mạng rực rỡ, tạo nên những biến đổi ký diệu trên vùng rừng núi phía tây bắc tỉnh Nghệ An
Có được những thắng lợi vẽ vang đó, chính là Đảng bộ huyện Quỳ Châu đã vận dụng một cách sáng tạo đường lối cách mạng chung của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của huyện, lãnh đạo, tổ chức nhân dân các dân tộc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế tại địa phương
Trang 9Trong giai đoạn 2016 – 2020 Đảng bộ huyện Quỳ Châu đã lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân các dân tộc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội đạt được nhiều thành tựu nội bật Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm
tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; thu ngân sách trên địa bàn đạt khá, thu nhập bình quân đầu người đạt mục tiêu đại hội Các lĩnh vực văn hoá xã hội có tiến bộ, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt khá so với mặt bằng chung của tỉnh, học sinh giỏi các cấp năm sau cao hơn năm trước Làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo và giải quyết việc làm cho người lao động Đời sống vật chất và tinh thần của người dân từng bước được cải thiện Quốc phòng, an ninh được giữ vững,
trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, giảm trọng án và tai nạn giao thông
2.2 Kết quả đạt được
2.2.1 Kết quả đạt được
2.2.1.1 Lĩnh vực kinh tế phát triển khá, xuất hiện nhiều mô hình kinh tế theo hướng bền vững
Sản xuất nông, lâm, thủy sản từng bước phát triển theo hướng nâng cao giá trị, chất lượng trên một đơn vị sản phẩm Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tăng quy mô, hiệu quả về phát triển bền vững Giá trị sản xuất của ngành nông, lâm, ngư nghiệp đạt 686 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân, giai đoạn 2016 -
2020 đạt 6,8% Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng trong lĩnh vực lâm nghiệp
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới được các cấp uỷ, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nhân dân đồng tình, ủng hộ Tổng nguồn vốn huy động thực hiện Chương trình, giai đoạn 2016 - 2020 đạt 128,5 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp đạt 22,3 tỷ đồng Hoàn thành 1 xã (xã Châu Tiến) và 20 bản đạt chuẩn Nông thôn mới; có 2 xã đạt từ 15 đến 16 tiêu chí, 6 xã đạt từ 11 đến 14 tiêu chí, 2 xã đạt từ 8 đến 9 tiêu chí, bình quân tiêu chí/xã tăng từ 9,3 tiêu chí năm 2015 lên 13 tiêu chí năm 2020
Doanh thu của các Doanh nghiệp tăng từ 136,4 tỷ đồng năm 2015 lên 166,5 tỷ đồng năm 2020; 100% doanh nghiệp hoạt động có lãi; đóng góp ngân sách nhà nước từ 622,8 triệu đồng năm 2015 tăng lên 800 triệu đồng năm 2020
Duy trì tốt hoạt động của 7 làng nghề, 3 làng có nghề Thành lập mới 15 Hợp tác
xã nâng tổng số Hợp tác xã trên toàn huyện lên 17 Hợp tác xã Thu nhập bình quân người lao động tăng từ 3,5 triệu đồng năm 2015 lên 5,5 triệu đồng năm 2020
Giá trị sản xuất lĩnh vực Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp đạt 386 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 5 năm 2016 - 2020 đạt 22,8%
Sản lượng sản phẩm tiểu thủ công nghiệp tăng mạnh như: Hương trầm đạt 90 triệu que (tăng 87,5%); thổ cẩm đạt 30.000 m2 (tăng 30,4%); chế biến lâm sản phụ đạt
Trang 1015.000 tấn (tăng 750%); sản lượng nhà máy thủy điện đạt khoảng 140 triệu KWh (tăng 64,7%); một số sản phẩm khác như: đá xây dựng, cát, sỏi và gạch được sản xuất và tiêu thụ tốt (đã đầu tư hoàn thành và đi vào hoạt động ổn định Nhà máy gạch không nung, tạo điều kiện thu hút đầu tư xây dựng Nhà máy chiết xuất dược liệu tại Cụm công nghiệp nhỏ thị trấn Tân Lạc)
Hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được tập trung đầu tư, đặc biệt là các công trình trọng điểm đều được triển khai thi công xây dựng (đường Châu Nga - Thanh Hoá; Nâng cấp Hồ chứa nước Kẻ Nính, xã Châu Hạnh), 100% trụ sở làm việc UBND xã và trạm Y tế được đầu tư xây dựng khang trang, 89,7% phòng học được kiên cố hoá và nhiều công trình phúc lợi khác, góp phần phát triển kinh tế xã hội, bộ mặt đô thị và nông thôn ngày càng đổi mới Tổng vốn đầu tư xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020 đạt hơn 1.885,6 tỷ đồng/mục tiêu 1.735 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư do huyện quản lý 751,7 tỷ đồng, cấp tỉnh và doanh nghiệp là 1.133,9 tỷ đồng
Hoàn thành đưa vào sử dụng 249 hạng mục công trình giao thông, với tổng vốn đầu tư 802,2 tỷ đồng; thực hiện cứng hoá 103,6 km đường giao thông liên xã, liên bản, xây dựng 12 công trình Cầu vượt suối và 13,5 km mương thoát nước
Hệ thống thuỷ lợi, nước sinh hoạt được quan tâm đầu tư gồm 4 công trình đập đầu mối, 130 công trình kiên cố hoá kênh mương và 2 công trình nước sinh hoạt tập trung, với tổng kinh phí trên 175,6 tỷ đồng, cơ bản đáp ứng nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn Huy động được 1 dự án ODA từ nguồn vốn vay ngân hàng châu Á ADB (Kè bờ hữu sông Hiếu đoạn qua thị trấn Tân Lạc và xã Châu Hạnh) với tổng mức đầu tư 80 tỷ đồng
Hệ thống điện được chú trọng đầu tư nâng cấp và xây mới cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân Giai đoạn 2016 - 2020, đã hoàn thành 15 công trình điện lưới Quốc gia với tổng kinh phí đầu tư 42,6 tỷ đồng, phục vụ cho 27 bản của các xã Châu Phong, Diên Lãm, Châu Hoàn, Châu Bình Giảm số bản chưa có điện lưới Quốc gia từ 39 bản (thời điểm chưa sáp nhập khối, bản) xuống còn 6 bản (sau khi sáp nhập) so với đầu nhiệm kỳ, đạt 92,9% Tỷ lệ hộ được sử dụng điện tăng từ 84% năm 2015 lên 94,2% năm 2020
Công tác quy hoạch được quan tâm chú trọng Hoàn thành quy hoạch đất ở một số điểm dân cư nông thôn tại các xã, quy hoạch chi tiết một số cơ quan, đơn vị và đang triển
khai đầu tư xây dựng
Giá trị sản xuất ngành thương mại dịch vụ đạt 787,1 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 5 năm 2016-2020 đạt 15,8%
Hình thành 2 siêu thị quy mô nhỏ tại thị trấn Tân Lạc, duy trì hoạt động ổn định chợ thị trấn Tân Lạc và các chợ nông thôn Các hộ cá thể kinh doanh trong lĩnh vực thương mại tăng từ 2.196 hộ năm 2015 lên 2.320 hộ năm 2020 Hoạt động kêu gọi và thu hút đầu tư được chú trọng thực hiện, đã có 4 dự án được xúc tiến đầu tư, với tổng mức đầu