1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận triết học

30 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 41,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta được bắt đầu từ cuối năm 1960. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III( 9 1960) của Đảng lao động Việt Nam đã quyết nghị “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở miền Bắc nước ta là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”. Sự nghiệp đó đến nay vẫn còn tiếp tục. Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh và điều kiện rất khó khăn. Thứ nhất trong suốt thời gian tiến hành công nghiệp hóa, tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến rất phức tạp và không thuận chiều. Bắt đầu công nghiệp hóa được bốn năm thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc. Đất nước phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng; miền Nam thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc. Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội được vài năm thì kẻ thù gây ra chiến tranh biên giới. Chiến tranh biên giới kết thúc lại kéo theo cấm vận của Mỹ. Thứ hai nếu những năm 60, hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh, phát triển nhanh không thua kém nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, có uy tín trên thế giới đã tạo ra hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho công nghiệp hóa ở nước ta, thì sang những năm 70, 80 hoàn cảnh quốc tế lại gây bất lợi cho quá trình công nghiệp hóa ở nước ta. Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa của thế giới (1973) các nước xã hội chủ nghĩa do chuyển dịch cơ cấu và đổi mới công nghệ chậm hơn so với các nước tư bản chủ nghĩa, hiệu quả thấp, uy tín trên thị trường quốc tế giảm, cộng các sai lầm khác đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, làm mất đi thị trường lớn và sự giúp đỡ không nhỏ từ các nước này (ước tính 1 năm 1 tỷ đô la, chiếm 7% GDP ). Công nghiệp hóa ở nước ta xuất phát từ điểm rất thấp về phát triển kinh tế xã hội, về phát triển lực lượng sản xuất và từ trạng thái không phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất phát triển của lực lượng sản xuất. Năm 1960 công nghiệp chiếm 18,2% thu nhập quốc dân sản xuất, 7% lao động xã hội trong các ngành kinh tế quốc dân; nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương ứng là 42,35 và 83%; sản lượng lương thực bình quân đầu người dưới 300 kg; GDP bình quân đầu người khoảng dưới 100 đô la. Trong khi phân công lao động xã hội chưa phát triển và lực lượng sản xuất ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu. Đến năm 1960: 85,8% tổng số hộ nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ tư sản được cải tạo trong tổng số tư sản công thương nghiệp thuộc diện cải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Đứng trước thực trạng này Đảng ta đã quyết định xóa bỏ cơ chế hành chính, quan liêu, bao cấp, và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lược lượng sản xuất ở nước ta hiện nay để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa , nhanh chóng đi lên chủ nghĩa cộng sản. Chính vì những lý do trên mà em quyết định chọn đề tài: “Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”. Em nghĩ rằng việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em và các bạn tìm hiểu về vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam liệu có phải là tất yếu và liệu nó có tuân theo một quy luật nào của tự nhiên hay không?.

Trang 1

A- ĐẶT VẤN ĐỀ I- Lý do chọn đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta được bắt đầu từ cuốinăm 1960 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III( 9- 1960) của Đảng lao độngViệt Nam đã quyết nghị “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở miền Bắcnước ta là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, mà mấu chốt là ưu tiên phát triểncông nghiệp nặng” Sự nghiệp đó đến nay vẫn còn tiếp tục

Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh vàđiều kiện rất khó khăn

Thứ nhất trong suốt thời gian tiến hành công nghiệp hóa, tình hình trongnước và quốc tế luôn diễn biến rất phức tạp và không thuận chiều Bắt đầu côngnghiệp hóa được bốn năm thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miềnBắc Đất nước phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừachiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng; miền Nam thực hiện cáchmạng giải phóng dân tộc Đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hộiđược vài năm thì kẻ thù gây ra chiến tranh biên giới Chiến tranh biên giới kếtthúc lại kéo theo cấm vận của Mỹ

Thứ hai nếu những năm 60, hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh, phát triểnnhanh không thua kém nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, có uytín trên thế giới đã tạo ra hoàn cảnh quốc tế thuận lợi cho công nghiệp hóa ởnước ta, thì sang những năm 70, 80 hoàn cảnh quốc tế lại gây bất lợi cho quátrình công nghiệp hóa ở nước ta Sau cuộc khủng hoảng dầu lửa của thế giới(1973) các nước xã hội chủ nghĩa do chuyển dịch cơ cấu và đổi mới công nghệchậm hơn so với các nước tư bản chủ nghĩa, hiệu quả thấp, uy tín trên thị trườngquốc tế giảm, cộng các sai lầm khác đã dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và cácnước Đông Âu, làm mất đi thị trường lớn và sự giúp đỡ không nhỏ từ các nướcnày (ước tính 1 năm 1 tỷ đô la, chiếm 7% GDP )

Công nghiệp hóa ở nước ta xuất phát từ điểm rất thấp về phát triển kinh

tế-xã hội, về phát triển lực lượng sản xuất và từ trạng thái không phù hợp giữaquan hệ sản xuất với trình độ và tính chất phát triển của lực lượng sản xuất

Năm 1960 công nghiệp chiếm 18,2% thu nhập quốc dân sản xuất, 7% lao

động xã hội trong các ngành kinh tế quốc dân; nông nghiệp chiếm tỷ lệ tươngứng là 42,35 và 83%; sản lượng lương thực bình quân đầu người dưới 300 kg;GDP bình quân đầu người khoảng dưới 100 đô la Trong khi phân công lao động

Trang 2

xã hội chưa phát triển và lực lượng sản xuất ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất

đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu Đến năm1960: 85,8% tổng số hộ nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ tư sản được cải tạotrong tổng số tư sản công thương nghiệp thuộc diện cải tạo, gần 80% thợ thủcông cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp

Đứng trước thực trạng này Đảng ta đã quyết định xóa bỏ cơ chế hànhchính, quan liêu, bao cấp, và xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp với tínhchất và trình độ của lược lượng sản xuất ở nước ta hiện nay để thúc đẩy quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa , nhanh chóng đi lên chủ nghĩa cộng sản

Chính vì những lý do trên mà em quyết định chọn đề tài: “Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” Em nghĩ rằng việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em

và các bạn tìm hiểu về vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấttrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam liệu có phải là tất yếu

và liệu nó có tuân theo một quy luật nào của tự nhiên hay không?

Trang 3

Đối với sự vận động của lịch sử loài người, cũng như sự vận động của mỗi

xã hội cụ thể, sự thay đổi phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi cótính chất cách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội đượcchuyển sang một chất mới Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta cóthể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau Dựa vàophương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người ta hiểu thời đạilịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế xã hội nào C Mác viết: “ Những thời đạikinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúngsản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào”

(1) Phương thức sản xuất, cách thức mà con người ta tiến hành sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng.

Trang 4

Trong đó, “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, làngười lao động”( 2).

Do đặc trưng sinh học- xã hội riêng có của mình, cong người, trong nền sảnxuất có sức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh cơ - bắp Trong lao động sứcmạnh và kỹ năng ấy đã được nhân lên gấp nhiều lần Hơn nữa, lao động của conngười ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ Trí tuệ conngười không phải là cái gì siêu tự nhiên,mà là sản phẩm của tự nhiên và của laođộng Nhưng trong quá trình lịch sử lâu dài của xã hội loài người, trí tuệ hìnhthành phát triển cùng với lao động làm cho lao động ngày càng có hàm lượng trítuệ cao hơn Hàm lượng trí tuệ trong lao động, đặc biệt là trong điều kiện củakhoa học công nghệ hiện nay, đã làm cho con người trở thành một nguồn kựcđặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận

Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động

Trong tư liệu lao động có công cụ lao động và những tư liệu lao động kháccần thiết cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm

Đối tượng lao động là những vật mà lao động của con người tác động vàonhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đối tượng lao động không phải làtoàn bộ giới tự nhiên mà chỉ có một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào sảnxuất Con người không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng lao động sẵn

có, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao động Sự phát triển của sản xuất

có liên quan đến việc đưa những đối tượng ngày càng mới hơn vào quá trìnhsản xuất Điều đó hoàn toàn có tính quy luật bởi chính những vật liệu mới mởrộng khả năng sản xuất của con người Đối tượng lao động chính là yếu tố vậtchất của sản phẩm tương lai Đối tượng lao động gồm các loại:

+ Loại có sẵn trong tự nhiên Loại này thường là đối tượng của các ngànhcông nghiệp khai thác

+ Loại đã qua chế biến, nghĩa là đã có sự tác động của lao động gọi lànguyên liệu Loại này thường là đói tượng của các ngành công nghiệp chế biến.Với sự phát triển của Cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại, vai trò củanhiều đối tượng lao động dần dần thay đổi, đồng thời loại đối tượng lao động cóchất lượng mới được tạo ra Nhưng cơ sở của mọi đối tượng lao động vẫn là đấtđai, tự nhiên: “ lao động là cha, còn đất là mẹ của mọi của cải vật chất”( 3)

Trang 5

Tư liệu lao động: là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyềndẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượnglao động theo mục đích của mình.

Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động, hệ thống các yếu tố vật chấtphục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình sản xuất (nhà xưởng, kho tàng, bếnbãi, ống dẫn, băng chuyền, đường sá, các phương tiện giao thông vận tải, thôngtin liên lạc )

Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì công cụ lao động có ý nghĩaquyết định nhất, là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất Công cụ laođộng, theo Ph Ăngghen là “ khí quan của bộ óc con người”, là “ sức mạnh củatri thức đã được vật thể hóa” có tác dụng “ nối dài bàn tay” và nhân lên sứcmạnh trí tuệ của con người Còn Mác gọi là hệ thống xương cốt và cơ bắp củanền sản xuất Công cụ lao động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặtgiữa mình với đối tượng lao động Trong quá trình sản xuất, công cụ lao độngluôn luôn được cải tiến, tinh xảo hơn để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quảcao hơn Nó là yếu tố động nhất và cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất.Cùng với sự biến đổi vá phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sảnxuất, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ, phongphú thêm, những ngành sản xuất mới xuất hiện, sự phân công lao động pháttriển Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây ranhững biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Xét cho cùng chính đó lànguyên nhân sâu xa xa của mọi biến cải xã hội Trình độ phát triển của công cụlao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là cơ sở xácđịnh trình dộ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhaugiữa các thời đại kinh tế Đối với mỗi thế hệ mới, những tư liệu lao động do thế

hệ trước để lại trở thành điểm xuất phát của sự phát triển tương lai Vì vậynhững tư liệu đó là cơ sở kế tục của lịch sử

Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng laođộng, khi chúng kết hợp với lao động sống Chính con người với trí tuệ và kinhnghiệm của mình đã chế tạo ra tư liệu lao động Tư liệu lao động dù có ý nghĩađến đâu, nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy đượctác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội

Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C Mác đã nêu một tư tưởngquan trọng về vai trò của lực lượng sản xuất đối với việc thay đổi các quan hệ xã

Trang 6

hội C Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lựclượng sản xuất Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổiphương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếmsống của mình, loài người thay đổi tất cả quan hệ xã hội của mình Cái cối xayquay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưalại xã hội nhà tư bản công nghiệp”( 4).

để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được người ta phải có nhữngmối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên,tức là việc sản xuất”( 5)

Như vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người ta, dùmuốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất địnhvới nhau những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốncủa ai cả Đó chính là những quan hệ sản xuất( 6) Cố nhiên, quan hệ sản xuất là

do con người tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan sựvận động của đời sống xã hội

Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây:

+ Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu về tư liệu sản xuất.+ Quan hệ giữa người và người đối với việc tổ chức quản lý

+ Quan hệ giữa người và người đối với việc phân phối sản phẩm lao động

Trang 7

Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ýmuốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật chấtthuộc đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sảnxuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xã hội Ba mặt quan hệ đó trongquá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo thành một hệ thống mangtính ổn định tương đối so với sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất.Các quan hệ sản xuất của một phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồmnhiều mối quan hệ phong phú và đa dạng biểu hiện dưới nhiều hình thức Mỗimặt quan hệ của hệ thống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xácđịnh, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trìnhlịch sử nói chung.

Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữuđối với tư liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặc trưng cơ bản củaphương thức sản xuất Trong hệ thống các quan hệ sản xuất của mỗi nền kinh tế-

xã hội xác định, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn luôn có vai trò quyếtđịnh đối với tất cả các quan hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu là quan hệ xuấtphát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất Chính quan

hệ sở hữu- quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu các tư liệu sảnxuất đã quy định địa vị của từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội Đếnlượt mình, địa vị của từng tập đoàn người trong hệ thống sản xuất lại quy địnhcách thức mà các tập đoàn trao đổi hoạt động cho nhau, quy định cách thức màcác tập đoàn tổ chức quản lý quá trình sản xuất Cuối cùng, chính quan hệ sởhữu là cái quyết định phương thức phân phối sản phẩm cho các tập đoàn ngườitheo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã hội “ Định nghĩa quyền sở hữu

tư sản không phải là gì khác mà là trình bày tất cả những quan hệ xã hội của sảnxuất tư sản”.( 7)

Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch sử

đã chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu cơ bản đối với tư liệu sảnxuất: sở hữ tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình màtrong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng Nhờ cơ sở

đó nên về mặt nguyên tắc, các thành viên của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhautrong tổ chức lao động và trong phân phối sản phẩm Do tư liệu sản xuất là tàisản chung của cả cộng đống nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất vàtrong đời sống xã hội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ

Trang 8

lẫn nhau Ngược lại, trong các chế độ tư hữu, do tư liệu chỉ nằm trong tay một số

ít người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít người đó.Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng, quan hệ thống trị và bị trị.Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại chế độ tư hữu tiềm tàng khả năng trởthành đối kháng gay gắt Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõtrong các chế độ sở hữu tư nhân của các xã hội điển hình trong lịch sử (sở hữu tưnhân của xã hội chiếm hữu nô lệ, sở hữu tư nhân trong chế độ phong kiến và sởhữu tư nhân trong chế độ tư bản) thì chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa làđỉnh cao của loại sở hữu này

C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh rằng chế đọ tư bản chủ nghĩakhông phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người Chủnghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộncũng sẽ đóng vai trò phủ định đối với chế độ tư hữu

Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức, quản lýsản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc

độ, hiệu quả và xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể Bằng cách nắm bắt cácnhân tố xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức vậnđộng của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năngđẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất

Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xu hướngthích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể Do vậy,việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất sẽ cho phép toàn bộ

hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vươn tới tối ưu Trong trường hợp ngượclại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnhhưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế- xã hội

Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản lý hiệnđại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sản xuất, đặc biệt đốivới việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất ở tầm vĩ

mô, trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập kỷ trước đây Đây là điều rấtđáng lưu ý trong việc phân tích và đánh giá vai trò của các quan hệ sản xuất hiệnđại

Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống các quan hệsản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân

tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn bộ nền kinh tế- xã hội

Trang 9

Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản

lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người,nên các quan hệ phân phối là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế- xã hội.Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sự sản xuất, làm năngđộng toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội; hoặc trong trường hợp ngược lại, nó cókhả năng kìm hãm sản xuất, kìm hãm sự phát triển của xã hội

4- Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình

độ của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau

mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch

sử loài người- Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất Quy luật này vạch ra tính chất phụ thuộc khách quan củaquan hệ sản xuất vào sự phát triển của lực lượng sản xuất Đến lượt mình, quan

hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất

Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất: Khuynh hướng của sản xuất

xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều hướng tiến bộ Sự biến đổi đó, xétđến cùng, bao giờ cũng bắt đâù từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sảnxuất, trước hết là của công cụ lao động Do vậy, lực lượng sản xuất là yếu tố cótác dụng quyết định đối với sự biến đổi của phương thức sản xuất: Trình độ củalực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độchinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Khái niệm trình

độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sửdụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên nhằm đảm bảocho sự sinh tồn và phát triển của mình Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiệnở:

+ Trình độ tổ chức lao động xã hội

+ Trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

+ Kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người

+ Trình độ phân công lao động

Trình độ của phân công lao động thể hiện rõ ràng nhất trình độ của lựclượng sản xuất

Bên cạnh khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất, còn có khái niệm tínhchất của lực lượng sản xuất Chính Ph Ăngghen đã sử dụng khái niệm này đểphân tích lực lượng sản xuất trong các phương thức sản xuất khác nhau Tính

Trang 10

chất của lực lượng sản xuất là tính chất của quá trình sản xuất ra sản phẩm Quátrình này phụ thuộc vào tính chất của tư liệu sản xuất và lao động Lực lượngsản xuất có tính chất cá nhân thể hiện tính chất của tư liệu sản xuất là sử dụngcông cụ thủ công và tính chất của lao động là lao động riêng lẻ Những công cụsản xuất như búa, rìu, cày bừa, xa quay sợi do một người sử dụng để sản xuấtvật dùng, không cần tới lao động tập thể, lực lượng sản xuất có tính chất cánhân Khi máy móc ra đời đòi hỏi phải có nhiều người mới sử dụng được, đểlàm ra một sản phẩm cần phải có sự hợp tác của nhiều người Mỗi người làmmột bộ phận công việc mới hoàn thành được sản phẩm ấy cho nên lực lượng sảnxuất mang tính chất xã hội hóa Ph Ăngghen đã nhận định giai cấp tư sản “không thể biến những tư liệu sản xuất có hạm ấy thành những lực lượng sản xuấthùng mạnh mà lại không biến chúng từ chỗ là tư liệu sản xuất do cá nhân sửdụng thành những tư liệu sản xuất xã hội, chỉ có thể được sử dụng chung bởimột số đông người”( 8) Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất không tách biệt với nhau.

Quan hệ sản xuất được hình thành, biến đổi, phát triển do lực lượng sảnxuất quyết định

Trong quá trình sản xuất để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả caohơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động và chếtạo ra những công vụ lao động mới, tinh xảo hơn Cùng với sự biến đổi và pháttriển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năngsản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ Lực lượng sản xuất trởthành yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất Còn quan hệ sản xuất là yếu tốtương đối ổn định, có khuynh hướng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lượng sảnxuất Lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất, còn quan hệ sảnxuất là hình thức xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thứcthì nội dung quyết định hình thức; hình thức phụ thuộc vào nội dung; nội dungthay đổi trước, sau đó hình thức mới biến đổi theo Tất nhiên, trong quan hệ vớinội dung , hình thức không phải là mặt thụ động, nó cũng tác động trở lại đối vớiviệc phát triển của nội dung

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hìnhthành, biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Sựphù hợp đó là động lực cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Nhưng, lựclượng sản xuất luôn phát triển còn quan hệ sản xuất có xu hướng tương đối ổn

Trang 11

định Khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuấtkhông còn phù hợp với nó nữa, trở thành chướng ngại đối với sự phát triển của

nó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất Sựphát triển khách quan đó tất yếu dẫn đến việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thaythế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ mớicủa lực lượng sản xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển

Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mớicũng có nghĩa là sự diệt vong của một phương thức sản xuất đã lỗi thời và sự rađời của một phương thức mới Trong xã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫngiữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời là cơ sở khách quan củacác cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng là tiền đề tất yếu của các cuộc cáchmạng xã hội C Mác đã nhận định: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó củachúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệsản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn pháttriển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan

hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thờiđại một cuộc cách mạng xã hội”( 9) đó là nội dung quy luật về sự phù hợp củaquan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất

Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sảnxuất đối với quan hệ sản xuất song cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờcũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất làhình thức xã hội mà lực lượng sản xuất dựa vào đó đó để phát triển, nó tác độngtrở lại đối với lực lượng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc lìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuấttrở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển.Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất thì trởthành “ xiềng xích trói buộc” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.Song tác dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan, cuốicùng nó sẽ bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất

Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượngsản xuất( thúc đẩy hoặc kìm hãm), vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy

Trang 12

định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thứcphân phối phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được hưởng Do đó ảnhhưởng đến thái độ của quảng đại quần chúng lao động- lực lượng sản xuất chủyếu của xã hội; nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cảitiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sảnxuất, hợp tác và phân công lao động

Tuy nhiên, không được hiểu một cách giản đơn tính tích cực của quan hệsản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu Mỗi kiểu quan hệ sản xuất làmột hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệquản lý và quan hệ phân phối Chỉ trong chỉnh thể đó, quan hệ sản xuất mới trởthành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất là quy luật chung nhất của sự phát triển xã hội Sự tác độngcủa quy luật này đã đưa xã hội loài người trải qua các phương thức sản xuất:công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và phươngthức sản xuất cộng sản tương lai

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ củalực lượng sản xuất là quy luật vận động, phát triển của xã hội qua sự thay thế kếtiếp nhau từ thấp lên cao của các phương thức sản xuất Nhưng không phải bất

cứ nước nào cũng phải nhất thiết, tuần tự trải qua tất cả các phương thức sảnxuất mà loài người đã biết đến Thực tế phát triển của lịch sử nhân loại cho thấy,tùy theo điều kiện lịch sử- cụ thể, một số nước có thể bỏ qua một hoặc một sốphương thức sản xuất để tiến lên phương thức sản xuất mới cao hơn Đó chính là

sự biểu hiện của quy luật chung trong điều kiện cụ thể của mỗi nước Quy luậtchung chi phối sự vận động phát triển của tất cả các nước; còn hình thức, bước

đi cụ thể lại tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước

II- Cơ sở lý luận của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa

1-Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diệncác hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sửdụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao độngcùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sựphát triển và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao

2- Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 13

Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất- kỹ thuậttương ứng.

Cơ sở vật chất của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất củalực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ) tương ứng

mà lực lượng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vậtchất đáp ứng nhu cầu xã hội

Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất- kỹ thuật của một xã hộilà: sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học- kỹthuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản xuấtthống trị

Nói cơ sở vật chất- kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ

sở vật chất- kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng chophương thức sản xuất đó được khẳng định sự thay thế phương thức sản xuất cũ

và được phát triển đúng trên cơ sở bản thân nó

Đặc trưng của cơ sở vật chất- kỹ thuật của các phương thức sản xuất trướcchủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Cơ sở vật chất-

kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản, đặc trưng của nó là nền đại công nghiệp cơ khíhóa và chỉ khi xây dựng xong cơ sở đó, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩamới trở thành phương thức sản xuất thống trị

Chủ nghĩa xã hội- giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơnchủ nghĩa tư bản- đòi hỏi một cơ sở vật chất- kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt:trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học-

kỹ thuật hiện đại

Do vậy có thể hiểu: Cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội sẽ là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học- công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và được thực hiện thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là vì: cơ

sở vật chất- kỹ thuật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên quanđến sự phát triển về chất đối với lượng sản xuất, và năng suất lao động; đối vớiviệc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối với

sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội

Trang 14

Có hai loại nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội: các nước quá độ lên chủnghĩa xã hội đã qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, các nước quá độ lênchủ nghĩa xã hội chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ( các nước cónền kinh tế kém phát triển).

Đối với những nước phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những nướcnày đã có sẵn nền đại công nghiệp của chủ nghĩa tư bản để lại cho nên chỉ cầnđiều chỉnh nền đại công nghiệp đó theo yêu cầu của chủ nghĩa xã hội thì về cơbản đã có cơ sở vật chất- kỹ thuật của xã hội mới Do đó, vấn đề công nghiệphóa không cần phải đặt ra Sở dĩ chúng ta phải điều chỉnh nền đại công nghiệp

cơ khí của chủ nghĩa tư bản theo yêu cầu của xã hội vì nền đại công nghiệp cơkhí của chủ nghĩa tư bản dù hiện đại đến đâu chỉ là tiền đề vật chất cho xã hộimới chứ chưa phải là cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội vì nó dựa trên chế độ

tư hữu tư bản chủ nghĩa, phân bố không đều giữa xá ngành, vùng do đó tất yếuphải điều chỉnh nó

Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xãhội chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, những nước này nền kinh tếlạc hậu chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Vì vậy, muốn có cơ sở vật chất-

kỹ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại thì phải tất yếu tiến hành công nghiệphóa, hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu khách quan bởi vì:+ Nó là con đường duy nhất để tạo ra sự phát triển về chất đối với lựclượng sản xuất và năng suất lao động Chất của lực lượng sản xuất là hệ thốngcông cụ lao động hiện đại với trình độ công nghệ hiện đại

+ Công nghiệp hóa tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thầnngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội bởi vì công nghiệp hóa sẽ làmcho lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng, khối kượng của cảisản xuất ra ngày càng nhiều tù đó mới có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càngcao của xã hội nói chung và của con người nói riêng

+ Là con đường duy nhất để đảm bảo sự thắng lợi cuối cùng vủa chủ nghĩa

xã hội

Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những là tất yếu mà còn làđiều kiện sống còn của chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hóa là tất yếu khách quanđối với những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó có nước ta

3- Tác dụng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 15

- Tạo điều kiện biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động,

tăng sức chế ngự của con người đối với tự nhiên, tăng trưởng kinh tế và pháttriển kinh tế; do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; góp

phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội

- Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố tăng cường vai trò kinh tế củaNhà nước; nâng cao năng lực tích lũy, tăng công ăn việc làm, nhờ đó làm tăng

sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế của con người- nhân

tố trung tâm của nền sản xuất xã hội

- Tạo điều kiện vật chất cho tăng cường củng cố an ninh và quốc phòng

- Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế dân tộc tự chủ, đủsức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế

Sự phân tích trên cho thấy mối quan hệ gắn bó trực tiếp giữa công nghiệphóa với lực lượng sản xuất Công nghiệp hóa là để thực hiện xã hội hóa về mặtkinh tế, kỹ thuật theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nó có tác dụng có ý nghĩacực kỳ quan trọng và toàn diện; do vậy, Đảng ta cho rằng: “ Phát triển lực lượngsản xuất, công nghiệp hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm”( 10) của thời kỳquá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

4- Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

a- Trang bị kỹ thuật và công nghệ theo hướng hiện đại trong các ngành của nền kinh tế quốc dân

Nội dung này được thực hiện qua hai cách:

* Tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật để tự trang bị

Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật: cuộc cách mạng kỹ thuật

mà nội dung chủ yếu của nó là cơ khí hóa xuất hiện đầu tiên ở nước Anh vào bamươi năm cuối thế kỷ XVIII và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ Xĩ.Đến khoảng giữa thế kỷ XX xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệhiện đại Mấy thập niên đã qua, nhất là thập niên gần đây loài người đang chứngkiến những thay đổi rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị

và xã hội Cuộc cách mạng này có nhiều nội dung, song có 5 nội dung chủ yếusau

- Về tự động hóa: Máy tự động quá trình, máy công cụ điều khiển bằng số,

rô bốt

Ngày đăng: 26/11/2021, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w