1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong cách nghệ thuật thơ văn công hùng

101 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 252,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm phong cách còn được đề cập qua các tài liệu lý luận thường dùng trong nhà trường như: Nhà văn - Tư tưởng - Phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong

Trang 1

vững vàng trong lòng bạn đọc Có được thành tựu nghệ thuật đó, chính bởi ông

đã xác lập cho mình một quan niệm đúng đắn về sứ mệnh của thi ca và vai trò của thi sĩ Hành trình cuộc sống và hành trình sáng tạo của Văn Công Hùng luôn tuân thủ những quan niệm nói trên, thông qua việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ để tạo nên cá tính sáng tạo và cao hơn là thi pháp cá nhân” [13, 63 ].

2.2 Những bài bình luận, nhận định, đánh giá về những bài thơ của Văn Công Hùng

Nhà lý luận phê bình Hồ Thế Hà đọc bài thơ Mùa thu như thể nắng vàng trôi qua của Văn Công Hùng, đã nhận xét: “Bài thơ theo thể lục bát, nhịp điệu

quen thuộc, có vài chỗ phá cách để tránh đơn điệu; có ngắt, xuống dòng, chỗ dừng (césur), có đồng hiện, hoài vãng, có hiện thực… để tạo ra những phức điệu, phức cảm làm đẹp hồn thơ và hấp dẫn quá trình tiếp nhận của người đọc”

[49, 53]

Còn Phạm Phú Phong khi đọc Thơ tiễn mùa thu của Văn Công Hùng đã

viết: “Có những câu thơ hay, tạo nên những hình tượng thơ đẹp, mang dấu ấn phát hiện của tác giả như “chiếc thuyền neo chênh chếch giữa trăng vàng”…

Cả bài thơ, chỉ có một chữ đầu của câu là viết hoa, các câu khác viết thường, tạo cho cảm xúc liền mạch từ đầu đến cuối, câu thơ tám chữ, tạo nhịp thơ nhanh, khỏe khoắn, nâng cảm xúc tràn trề Giọng điệu; tâm hồn anh vì thế luôn mới mẻ… Nếu được chọn một nhà thơ “top ten” các nhà thơ tiêu biểu cho Tây Nguyên hôm nay, trong đó có Văn Công Hùng” [70, 238].

Đọc bài thơ Có một thời lưu luyến, Chử Anh Đào viết: “Có lẽ xuất phát

từ cảm xúc chân thành nhất từ một kỷ niệm luôn hôi hổi như một món nợ với bạn bè, với tuổi trẻ nên tác giả đã viết rất nhanh, bằng lời lẽ rất giản dị, không cần sự trợ giúp của các kỹ xảo, các từ ngữ bóng bẩy để viết nên bài thơ này Bài thơ trữ tình như một câu chuyện ngắn gọn, súc tích, có sức dồn nén cao, có thể đem kể cho nhau nghe mỗi khi bạn bè gặp lại” [14, 07].

Với Trong mưa của Văn Công Hùng, Phan Duy Đồng khi đọc xong đã

viết những cảm nhận rất cô đọng: “Thơ Văn Công Hùng có sức ám ảnh bạn

Trang 2

đọc Và bạn đọc như muốn cùng anh đi về phía “dốc mong manh” [18, 05].

Ngoài ra trên mạng Iternet còn có nhiều nhận xét về thơ Văn Công Hùng

như: “Văn Công Hùng có cái duyên của dòng máu cha Thừa Thiên Huế, cái uy của dòng máu mẹ Ninh Bình, cái hài hước gân guốc của người làm thơ sống nơi miền nắng gió Tây Nguyên… Thơ anh lại trầm buồn và sâu lắng bởi nhiều chiêm nghiệm và ký ức” (Trần Hoàng Thiên Kim) [43].

Trong bài viết “Văn Công Hùng - nỗi buồn loãng cả cơn say”, Tạ Văn Sỹ

đã khẳng định: “Như bao người khác, Văn Công Hùng cũng nhiều lần viết về những nỗi buồn muôn thuở của con người Nhưng lạ lắm, tất cả những khi có dính dáng đến buồn bao giờ Văn Công Hùng cũng dùng ngay một câu, một từ hay một hình ảnh nào đó làm cho người đọc bị dội ngược lại, bị hắt toẹt ra ngoài cái cảm xúc ngỡ như đang trên đà đi đến độ buồn da diết, sâu sắc lắm! Văn Công Hùng đang là cây bút sung sức của Gia Lai nói riêng và khu vực Tây nguyên nói chung, với tài lực, tiềm lực và bút lực ấy bạn đọc sẽ còn được đón đọc ở anh những sáng tạo khác bay bổng và đằm sâu hơn nữa” [77].

Ngoài ra, còn một số bài viết khác về thi ca của Văn Công Hùng như: “Có

một người xa quê đi hát rong”, Hương Giang, báo Văn nghệ số 7/1993 “Hát rong”, báo Nhân dân, ngày 26/11/1999; “Mười tám với khoảnh khắc trái tim thi sĩ”, Vũ Thu Huế, báo Gia Lai 04/11/2000; “Có một thuở tường vi”, Nguyễn Thánh Ngã, báo Lâm Đồng, thứ 7, tháng 9/2003; “Nhà thơ Văn Công Hùng, người rong chơi phố núi”, Nguyễn Yên Thi, báo Người Lao động, 26/7/2003.

Trong quá trình khảo sát và điểm qua một số công trình nghiên cứu thơ VănCông Hùng, chúng tôi nhận thấy: Việc xem xét đánh giá thơ Văn Công Hùng, hầuhết là những bài đánh giá mang tính tổng quan về thơ ông, đều có điểm chung là

sự kính trọng đối với nhân cách thơ bên cạnh sự khai mở về thi pháp và tư tưởngcủa nhà thơ trong đời sống thi ca đương thời Những bài nghiên cứu, đánh giá, bàiviết này có quy mô vừa và nhỏ, chỉ giới hạn trong một bài báo và phạm vi baoquát cũng rất hạn chế, chỉ mới đánh giá về một tập thơ hay một phẩm chất nào đótrong hồn thơ của ông, thường thiên về cảm xúc hay ở dạng lời bạt, lời tựa Đã có

luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thơ ông Thế giới nghệ thuật thơ Văn

Trang 3

Công Hùng của Nguyễn Thị Vân Dung nhưng cũng chỉ tiếp cận theo hướng thi

pháp học Công trình nghiên cứu này cũng bước đầu hé lộ ra những chân trờitrong thơ Văn Công Hùng Đó là những ý kiến vô cùng quý giá mà người viết

có được để làm tiền đề và mở đường trong việc triển khai các nội dung của đềtài luận văn này Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào khai thác phong cáchnghệ thuật thơ Văn Công Hùng qua toàn bộ sáng tác thơ của ông từ trước đếnnay Vì vậy, nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng cho đếnnay, vẫn là một vấn đề mới mẻ, hấp dẫn, có sức thu hút lớn đối với tất cả những

ai yếu mến thơ ông trong suốt thời gian qua

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn là đặc điểm phong cách thơ Văn Công Hùngthông qua đặc điểm nổi bật về nội dung là triết luận về cái đẹp và bản sắc riêng

về hình thức như ngôn từ, kết cấu, thể loại

Về phạm vi khảo sát, luận văn nghiên cứu thơ Văn Công Hùng qua các tậpthơ đã được xuất bản.:

- Bến đợi (1992), Hội văn học nghệ thuật Gia Lai

- Hát rong (1999), Nhà xuất bản Đà Nẵng

- Hoa tường vi trong mưa (2003), Nhà xuất bản Đà Nẵng

- Gõ chiều vào bàn phím (2007), Nhà xuất bản Hội Nhà văn

- Đêm không màu (2009), Nhà xuất bản Hội Nhà văn

- Lục bát Văn Công Hùng (2010), Nhà xuất bản Hội Nhà văn

- Vòm trời khác (2012), Nhà xuất bản Hội Nhà văn

- Cầm nhau mà đi (2016) , Nhà xuất bản Hội Nhà văn

Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo những tác phẩm của nhà thơ VănCông Hùng ở thể loại khác như tiểu luận phê bình, chân dung văn học và thơcủa một số nhà thơ khác để có sự so sánh, đối chiếu cần thiết

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, hệ thống

Qua việc phân tích tác phẩm thơ cụ thể, phân tích những biểu hiện nghệthuật cụ thể chúng tôi tìm ra những nét đẹp đặc biệt, thường xuyên xuất hiện,

Trang 4

có tính tương đối bền vững của thơ Văn Công Hùng Từ đó, chúng tôi cố gắng gọi tên những nét riêng đó và đưa chúng vào một chỉnh thể lôgic, thống nhất.

- Phương pháp so sánh

Việc so sánh thơ Văn Công Hùng và các nhà thơ khác chắc chắn sẽ mang lại cái nhìn khách quan về tính độc đáo, riêng biệt của thơ ông

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Đặt thơ Văn Công Hùng trên nhiều bình diện khác nhau để nghiên cứu,chúng tôi mong nhìn thấy vẻ đẹp trọn vẹn của phong cách thơ ông Cụ thể, ởluận văn này chúng tôi đặt thơ ông trong cái nhìn mang tính mỹ học (chủ yếu ởquan niệm về cái đẹp) và cái nhìn của văn hóa học (chủ yếu ở phương diện đờisống xã hội) để làm nổi bật tính triết lý trong thơ Văn Công Hùng Ngoài baphương pháp chính trên, chúng tôi còn sử dụng bổ sung thêm thao tác thống kê,phân loại và áp dụng cách phân tích thi pháp học

5 Đóng góp của luận văn

Tìm hiểu phong cách thơ Văn Công Hùng trên các phương diện nội dung

và nghệ thuật, qua đó, chúng tôi xác định những đóng góp của nhà thơ đối vớinền thơ Việt Nam hiện đại

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đượctriển khai qua 3 chương:

Chương 1: Cơ sở nghiên cứu phong cách nghệ thuật và phong cách nghệ

thuật thơ Văn Công Hùng (20 trang)

Chương 2: Phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng nhìn từ góc độ triết

luận về cái đẹp và đời sống (36 trang)

Chương 3: Phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng nhìn từ góc độ

ngôn ngữ, thể loại, kết cấu (30 trang)

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ VĂN CÔNG HÙNG

1.1 Cơ sở nghiên cứu phong cách nghệ thuật

Khi nói đến khái niệm phong cách là nói đến một vấn đề phức tạp bởi từtrước đến nay chúng ta chưa đi tới một khái niệm phong cách thống nhất, chính

vì vậy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về phong cách

Ban đầu, khái niệm phong cách xuất hiện trong các từ ngữ của một sốngôn ngữ trên thế giới Từ những nghĩa từ vựng cụ thể, dần dần khái niệmphong cách được hình thành trong các nghĩa chuyển của các từ đó, nhằm ámchỉ các đặc điểm cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn

Thuật ngữ phong cách có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ Người Hi Lạpdùng từ “Stylos” để chỉ một cái que đầu nhọn, đầu tù, người La Mã thì gọi là

“Stylus” cũng là để chỉ cái que đó nhưng đầu nhọn dùng để viết và đầu tù dùng

để xáo trên một tấm bảng nhỏ có xoa sáp Về sau người Pháp dùng từ “Style”nhưng ban đầu chỉ có nghĩa là nét chữ, sau dần có nghĩa là bút pháp với nhữngđặc điểm ngôn ngữ và văn thể

Riêng trong lý luận văn học, khái niệm phong cách thường được dùng đểchỉ hai loại hiện tượng: nhà văn (phong cách Xuân Diệu, phong cách Hàn MạcTử…) hoặc một trào lưu văn học nào đó (phong cách hiện thực, phong cách cổđiển…) Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn học thường hay nói đến phong cáchnhà văn, nhà thơ

Trong thực tế, một số nhà nghiên cứu văn học đã trao cho khái niệm này

một nội hàm khá rộng Ví như Likhachop trong “Thi pháp văn học Nga cổ” đã

quan niệm rằng phong cách nghệ thuật là sự thống nhất của cảm hứng chung vềhiện thực, bản chất của nhà văn và phương pháp sáng tác Trải qua một quátrình lâu dài của văn học và ngôn ngữ, khái niệm phong cách mới được hiểu và

sử dụng như ngày nay Còn Grigoorrian thì bảo rằng phong cách không phảimang trong mình nó thế giới quan, các thủ pháp nghệ thuật, khả năng nhận thứccủa nghệ sĩ về thời đại, dấu ấn của một dân tộc…

Giáo sư G.N Pospalôp trong Dẫn luận nghiên cứu văn học đã đưa ra một

Trang 6

cách nhìn hợp lý hơn về phong cách nghệ thuật Ông viết “Sự thống nhất thẩm

mỹ của mọi chi tiết hình tượng - biểu cảm của hình thức tác phẩm, phù hợp với nội dung của nó, đó là phong cách” [27, 176].

Sự xuất hiện của hàng loạt ý kiến về phong cách cá nhân nghệ sĩ trong lýluận Xô Viết những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ này nói lên rằng:phong cách là một khái niệm phức tạp Trong số đó, người ta thường nhắc đến

ý kiến của Viện sĩ Liên Xô M.B.Khrápchencô Nhà nghiên cứu này xem xétphong cách trong mối tương quan giữa hình thức và nội dung tác phẩm Giốngnhư G.N Pospelôp cho rằng hình thức bao giờ cũng bộc lộ một nội dung tươngứng, hình thức không có giá trị tự phân, nó chỉ có ý nghĩa khi kết hợp nhuầnnhuyễn, hợp lý với nội dung tư tưởng của tác phẩm

M.B.Khrápchencô khẳng định: “Phong cách được hiểu như cách biểu hiện

sự khai thác hình tượng đối với hiện thực, như cách biểu hiện sự tác động tư tưởng tình cảm, không thể đồng nhất với nội dung Trong việc xây dựng phong cách nghệ thuật không chỉ thể hiện về đặc thù những mặt nhất định của nội dung Cái mà người ta thường gọi là hình thức - ngôn ngữ nghệ thuật, cốt truyện, bố cục, nhịp điệu… tất cả những cái đó trong ý nghĩa chung của chúng

là thuộc về phong cách Nhưng ngoài cái đó ra, phong cách còn bao gồm cả những đặc điểm của sự thể hiện tư tưởng, đề tài, của sự khắc họa các nhân vật, những yếu tố âm điệu của tác phẩm nghệ thuật Đặc trưng của phong cách không phải là những yếu tố riêng lẻ này hay những yếu tố riêng lẻ khác của hình thức và nội dung mà là tính chất đặc biệt của sự “kết hợp” giữa chúng”

về cơ bản, chúng ta có thể hiểu: phong cách chủ yếu và trước hết biểu hiện qua

ý thức nghệ thuật, qua cách nhìn, qua cách cảm nhận thế giới độc đáo của nhà

văn… Với cách quan niệm này, ta thấy theo Khrápchencô, phong cách nghệthuật liên quan rất sâu đậm với nội dung tư tưởng tác phẩm

Trang 7

Cái mà tác giả này luôn chú ý là sự “kết hợp” một cách đặc biệt giữa hìnhthức và nội dung tác phẩm Bởi vì, phong cách không bao giờ được hình thành

từ những yếu tố riêng lẻ, tách rời Nghiên cứu về phong cách,

M.B.Khrápchencô cũng đề cập đến khả năng “thuyết phục độc giả” của nhà

văn Phương diện này rất gần với phạm vi nghiên cứu của lý thuyết tiếp nhậnđang rộ lên trong những năm gần đây

Ở Việt Nam, khái niệm phong cách cũng được giới nghiên cứu văn họcchú tâm giải thích và định nghĩa sao cho thỏa đáng Trong Giáo trình lý luậndành cho sinh viên Đại học sư phạm, Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng:

“Phong cách là tổng hòa những đặc điểm, cả về tư tưởng và nghệ thuật, nội dung và hình thức biểu hiện, quy định bản sắc độc đáo của nghệ sĩ” [48, 120] Giáo sư Phương Lựu cũng nhận thấy phong cách là “chỗ độc đáo mang phẩm chất thẩm mĩ cao được tính trong sự sáng tạo của nhà văn” [51, 178].

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh còn quan niệm: “Khái niệm phong cách thực chất là một khái niệm chỉ “quan hệ” Nó trước hết được thể hiện ở hình thức nghệ thuật” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này chú ý nhấn mạnh mối quan hệ giữa phong cách và tư tưởng nghệ thuật: “Nhưng nếu không nắm được tính độc đáo của tư tưởng nhà văn và tác phẩm - ở đây là tư tưởng - nghệ thuật (Idéepoatstique) thì cũng khó quan niệm được phong cách một cách sâu sắc” [48, 76 - 77].

Từ góc độ nghiên cứu của phong cách học, Phan Ngọc đã trình bày cáchhiểu của mình trong một tác phẩm nghiên cứu về Truyện Kiều Ông cho rằng

tìm hiểu phong cách là tìm hiểu những đóng góp riêng nghệ sĩ mà “trước đó không ai làm được và sau đó cũng khó ai làm được” [60, 9].

Khái niệm phong cách còn được đề cập qua các tài liệu lý luận thường

dùng trong nhà trường như: Nhà văn - Tư tưởng - Phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, Một số vấn đề thi pháp học của Trần Đình Sử, Con mắt thơ của Đỗ Lai Thúy, Từ ký hiệu học đến ngôn ngữ học của Hoàng Trinh, Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, Văn học và học văn của

Hoàng Ngọc Hiến… Tất nhiên khi đề cập tới khái niệm này các tác giả thể hiệnnhững cách hiểu khác nhau về phong cách nghệ thuật Chẳng hạn: Lê Bá Hán,

Trang 8

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi quan niệm phong cách chỉ thuần túy được biểuhiện ở hình thức, qua hình thức tác phẩm; hay Phan Ngọc thì cho rằng phong

cách được biểu hiện cả ở nội dung lẫn hình thức: “Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất các yếu tố nội dung và hình thức” Hay Từ điển văn học tập 2 cho rằng: Phong cách biểu hiện thành những đặc điểm hình thức nhưng

những đặc điểm này có nguồn gốc từ trong ý thức nghệ thuật của nhà văn nghĩa

là hình thức phải mang tính nội dung Tuy mỗi người có các cách quan niệmkhác nhau về phong cách nhưng nhìn chung đều thống nhất ở một điểm: Phongcách là bản sắc riêng, là thước đo tài năng và bản lĩnh của nhà văn trong sángtạo nghệ thuật

Mối quan hệ qua lại này cho phép chúng ta đi từ văn bản nghệ thuật donhà văn sáng tạo ra để chỉ ra đặc trưng phong cách nghệ thuật của nhà văn đó

“Đây là dấu ấn không thể nhầm lẫn và đặc thù của nhà văn trên mọi thứ anh ta sáng tạo Đây là thế giới của riêng anh ta chứ không phải của bất kỳ một ai khác Đây là một trong những điều phân biệt nhà văn này với nhà văn nọ (…) một nhà văn thì phải có cách nhìn đặc biệt nào đó về sự vật và phải in cách diễn đạt nghệ thuật lên cách nhìn đó” [60, 356].

Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu văn học đều coi phong cách như là

sự độc đáo riêng biệt của nghệ sĩ thể hiện trong sáng tạo nghệ thuật Nói nhưvậy cũng có nghĩa là không phải bất cứ nhà văn nào cũng tạo được phong cách.Không hiếm những tác phẩm vừa mới ra đời đã bị quên lãng và tác giả của nó

đã bị chìm khuất trong hàng triệu người bình thường khác Thời gian là thước

đo nghiêm ngặt nhất quy định sự tồn vong của tác phẩm

Theo nhà thơ Hoàng Trung Thông: “Phong cách và cá tính nhà văn không phải là cái gì khó hiểu Đó là biểu hiện của mỗi nhà văn trong khi xây dựng đề tài, nhân vật, trong khi vận dụng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật phải tự tạo cho mình một phong cách riêng, một điệu cảm xúc riêng” [79, 14].

Phong cách được hiểu đó là sự những khám phá nghệ thuật mang tính cánhân được hình thành những nét chủ đạo, lặp đi lặp lại trong sáng tác của mộttác giả nào đó Phong cách nghệ thuật trước hết là hình thành từ cá tính sáng

Trang 9

tạo của tác giả nhưng cá tính sáng tạo chưa phải là phong cách Nhìn chung,khái niệm phong cách thường được định vị cho những nét nghệ thuật của nhữngtác giả có đóng góp lớn, trong khi đó bất kỳ nghệ sĩ nào hoạt động trong lĩnhvực nghệ thuật cũng đòi hỏi cá tính sáng tạo riêng Và nó là “thước đo nghệthuật” để khẳng định tài năng, vị trí nhà văn trên văn đàn.

Chẳng hạn trong bài mở đầu có tựa đề Một thời đại trong thi ca, với con

mắt tinh đời của nhà phê bình văn học tài hoa và xuất chúng, tác giả Thi nhânViệt Nam đã khái quát về phong cách văn học của phong trào Thơ mới trongmười năm đầu (1932 - 1941) và phong cách nghệ thuật của một số nhà thơ mới

tiêu biểu như sau: “Một thời đại vừa chẵn mười năm… Tôi quả quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại nào phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [78, 25].

Ngày nay, phong cách không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn học nghệthuật mà còn được dùng phổ biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội Nhưng dù ở lĩnh vực nào, phong cách bao giờ cũng là hệ thống những đặcđiểm tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng, khu biệt hiện tượng này với hiệntượng khác Chính vì vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy không phải ai cũng cóphong cách, không phải nhà thơ nào cũng tạo dựng được một phong cách, một

“khuôn mặt tinh thần” của riêng mình Chỉ những nhà văn, nhà thơ có tài năng,

có bản lĩnh nghệ thuật, biết sử dụng các phương tiện hình thức theo một cáchnào đó rất riêng mà vẫn tạo được thể thống nhất mang sức hấp dẫn, khơi gợi mỹcảm nơi người khác mới được xem là có phong cách

Tuy phong cách có thể được xét ở nhiều cấp độ, trên nhiều bình diệnnhưng trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu về phong cách của một nhà văn,một tác giả là quan trọng nhất Bởi vì suy cho cùng, phong cách của nhà văngóp phần làm nên đặc điểm phong cách của thời đại và phong cách của nhà vănluôn luôn được thể hiện thông qua tác phẩm, làm nên phong cách của tác phẩm.Chúng tôi xem phong cách của nhà văn chính là phẩm chất sáng tạo caonhất trong quá trình hiện thực hóa đời sống bằng phương tiện ngôn từ nghệ

Trang 10

thuật Nói như M Gorki rằng: “người nghệ sĩ cần lấy cái gì là của riêng mình

(bởi vì) một người không có cái gì của riêng mình thì người đó chẳng có cái

gì hết Người nghiên cứu phải đặc biệt chú ý những yếu tố được lặp đi lặp lại, những yếu tố nổi trội, những điểm-nhấn-sáng thường xuyên xuất hiện trong hệ thống tác phẩm với sự bền vững, nhất quán ở tất cả các yếu tố cấu thành nên

nó khiến cho những sáng tác của nhà văn đó có diện mạo, cốt cách riêng biệt, độc đáo không thể trộn lẫn với bất kì ai khác” [19, 125].

Như vậy, từ việc điểm qua những ý kiến tiêu biểu về khái niệm phong cách

đã cho phép chúng ta nhận diện một cách đầy đủ hơn khái niệm phong cáchnghệ sĩ Từ các ý kiến đó, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Phong cách thể hiện một cách nhìn mới mẻ, cách trình bày và kiến giảiđộc đáo những vấn đề mà nghệ sĩ quan tâm thông qua những hình tượng nghệ thuật đặc sắc

2. Nghiên cứu phong cách là nghiên cứu hình thức phù hợp với nội dung, hình thức bao giờ cũng phải mang tải, chứa đựng một nội dung tương ứng

3. Dĩ nhiên, sự “phù hợp”, “kết hợp” trên đây phải làm hiện lên sự thốngnhất tất cả mọi dáng vẻ độc đáo của nhà văn Giữa phong cách và phương phápsáng tác có sự khác biệt cần nhận thấy Nói đến phương pháp sáng tác là nói đếnchân lý nghệ thuật, chiều sâu nhận thức về chất lượng lí tưởng, nói đến những giaiđoạn phát triển trong lịch sử văn nghệ; còn nói đến phong cách là nói đến đặc sắcriêng của nhà văn Phong cách hiện ra như một phẩm chất, nó kết hợp một cáchbiện chứng hàng loạt những yếu tố khác nhau như thế giới quan, vốn sống, trình

độ văn hóa, năng khiếu nghệ thuật, đặc biệt là cá tính sáng tạo

Nghiên cứu các lý thuyết về phong cách và soi chiếu vào các văn bản nghệthuật cụ thể, chúng tôi hiểu rằng phong cách được thể hiện trong suốt quá trìnhhoạt động sáng tạo của nhà văn Phong cách có thể được hình thành ngay từ lúcnhà văn mới cầm bút và từ đây bắt đầu vận động, phát triển và chịu ảnh hưởngcủa thế giới quan, của môi trường sống, của bối cảnh thời đại, của các nhà văn

mà họ yêu thích Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà văn, nhà thơ khi bắt đầu cầm bútmới là lúc họ mày mò, lựa chọn và dần định hình phong cách của mình

Vì thế nên có rất nhiều ý kiến thống nhất rằng: phong cách một mặt do tài

Trang 11

năng bẩm sinh của người nghệ sĩ nhưng mặt khác quan trọng hơn là kết quả củaquá trình đào luyện lâu dài, quá trình lăn lộn trải nghiệm đời sống, quá trìnhtổng hợp và phát triển không ngừng nghỉ của tâm hồn, trí tuệ, học hỏi và rènluyện của nhà văn Phong cách được hình thành trên cơ sở tài năng nhưng nếunhà văn không khổ công lao động nghệ thuật thì tài năng ấy cũng dừng lại ởdạng tiềm năng và đôi khi không được nhận ra hoặc đôi khi nhận ra nhưng lạikhông tránh khỏi sự mai một Để khẳng định được phong cách, đòi hỏi nhà vănphải lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc, bền bỉ và say mê.

Do tiếp cận đề tài trên bình diện phong cách của một tác giả chứ khôngphải phong cách nghệ thuật nói chung hay phong cách của các trào lưu, phongcách dân tộc, phong cách thời đại nên luận văn không đi sâu trình bày lịch sửnhững vấn đề lý luận về phong cách và những mối quan hệ đa dạng, phức tạpcủa nó với các phạm trù khác của lý luận văn học Ở phần này, chúng tôi chỉdừng lại ở việc lược thuật những quan niệm về phong cách nhà văn Trên cơ sở

đó chúng tôi tiến hành khảo sát, đối chiếu cụ thể vào văn bản nghệ thuật củaVăn Công Hùng nhằm hệ thống hóa những nét độc đáo, tiêu biểu, nhất quán, có

ý nghĩa thẩm mỹ cao trong sáng tác thơ ca của ông

Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về phong cách nghệ thuật củamột số tác giả, chúng tôi nhận thấy: Các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở các địnhnghĩa đã có để từ đó thể hiện quan niệm về phong cách của mình tùy thuộc vàođặc trưng riêng của nhà văn, nhà thơ mà mình nghiên cứu Bằng cách này,chúng tôi đã tổng hợp thành hệ thống những hiểu biết của mình về phong cáchnhằm dùng nó để tiếp cận các tác phẩm thơ Văn Công Hùng với tư cách là mộtchỉnh thể toàn vẹn làm nổi bật phong cách nghệ thuật của ông

1.2 Một số yếu tố định hình phong cách thơ Văn Công Hùng

1.2.1 Hoàn cảnh xã hội – thời đại

Mối quan hệ giữa nhà văn và thời đại là mối quan hệ khăng khít, khó táchrời Điều này cũng giống như con người sống và hít thở bầu không khí ở miềnđất nào, ăn hạt gạo, uống ngụm nước của vùng quê nào thì nói được cái giọngcủa vùng quê ấy mà thôi Đối với Văn Công Hùng, sự ảnh hưởng của thời đại

Trang 12

đến sự hình thành và phát triển phong cách nghệ thuật của ông là vô cùng lớnlao Có lần tôi đã được nghe nhà thơ nói về sự may mắn của mình khi cảmhứng sáng tạo của người nghệ sĩ đồng điệu với những vận động, đổi thay củathời đại Theo Văn Công Hùng, nhờ sự đồng điệu đó mà thơ ông được chú ý.Cần phải nhắc đến những sự kiện tác động lớn lao đến đời sống văn học.Trước hết đó là năm 1986, cột mốc quan trọng đánh dấu giai đoạn đổi mới toàndiện trên đất nước Việt Nam ta với Đại hội Đảng lần thứ VI do Bí thư NguyễnVăn Linh khởi xướng Từ đây, đất nước dần vượt qua thời kì khủng hoảng đểbước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc Kế tiếp phảinhắc đến một sự kiện tác động trực tiếp đến đời sống văn học Đó là cuộc gặpcủa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm

1987 để triển khai nghị quyết 05 của Bộ chính trị Tất cả cho ta thấy một cuộclột xác lớn lao trong đời sống dân tộc ta Mọi phương diện xã hội từ chính trị,kinh tế, văn hóa… đều phải tuân theo nhịp vận động mới của thời cuộc Ngườinghệ sĩ vì vậy cũng cần thay đổi cách thức sáng tạo cũng như mở rộng biên độ

tư duy nghệ thuật nhằm chuyển tải thành công những biến chuyển mới mẻ củađời sống xã hội

Bên cạnh đó, sự thay đổi quan niệm sáng tác từ hướng ngoại chuyển sanghướng nội, văn học thời kỳ này đề cập mạnh mẽ đến sự cách tân và hiện đạihóa, thể hiện rầm rộ và mạnh mẽ dưới nhiều hình thức biểu hiện đa dạng phongphú từ nội dung đến hình thức Đó chính là sự thoát khỏi những quan niệmthẩm mỹ và tư tưởng nghệ thuật thời trước 1975 để hòa nhập vào quỹ đạo vănhọc thế giới

Với một lực lượng sáng tác hùng hậu, thơ ca có sự bùng nổ về số lượng và

sự đa sắc đa diện: mở rộng biên độ phản ánh (Có thể nói không có một địa hạtnào của đời sống là vùng cấm của thơ ca Thơ đã tìm đến nhiều ngõ ngách củacuộc sống và con người, cả bề nổi và bề chìm, bề sâu và bề xa, cả cao siêu vàtrần thế, tâm hồn và xác thịt, từ hiện thực xã hội đến đời sống tâm linh, từ khátvọng, lý tưởng, bổn phận đến những tình cảm riêng tư nhỏ bé, những khao khátbản năng); tính chất đa khuynh hướng (phân chia thành nhiều dòng, nhiềuhướng thơ: thơ “dòng chữ”, thơ “dòng nghĩa”, thơ “âm bồi”, thơ “vụt hiện”, thơ

đồ hình, thơ “Dơ”, thơ “Rác”, thơ Tân hình thức, thơ tình dục …); sự đa dạng

Trang 13

về thi pháp (hiện đại chủ nghĩa, Tân hình thức, hậu hiện đại).

Trong hoàn cảnh đó, có thể thấy Văn Công Hùng đã nắm bắt được nhữngvận động còn rất nhỏ mà tinh vi của đời sống văn học, hòa mình vào dòng chảysôi nổi, táo bạo, lạ lùng của một thời thơ mới Vì thế, nhà thơ đã khẳng địnhđược phong cách, giọng thơ riêng của mình, góp phần cùng những nhà thơ kháctạo nên một diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam giai đoạn sau 1986

Trên con đường sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ đã tìm cho mình một lối điriêng Ông cố gắng vứt bỏ những “phụ tùng” không cần thiết và tìm cách thănghoa trong cảm xúc Vì vậy, thơ ông dễ ghim vào lòng bạn đọc Ông là một trong

số những thi sĩ đích thực, lấy ngọn đèn và trang giấy trắng làm lý do tồn tại trênđời Nhà thơ đã có một cuộc hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ Ông vẫnlàm việc, vẫn suy nghĩ, vẫn giữ được sức trẻ cho ngòi bút của mình Nhữngđóng góp của Văn Công Hùng đối với nền thi ca dân tộc là không nhỏ Nhà thơ

đã tạo cho mình một chỗ đứng trong làng thơ Việt Nam hiện đại Có được thànhtựu đó, bởi chính ông đã xác lập cho mình một quan niệm đúng đắn về sứ mệnhcủa thi ca và vai trò của thi sĩ Ông đã khẳng định mình với một phong cách thơđộc đáo, mang đậm chất suy tưởng, triết lí

1.1.2 Nền tảng quê hương, gia đình và đặc điểm con người nhà thơ

Nền tảng quê hương, gia đình là cội nguồn hình thành cá tính và là mầmmống của sự phát triển tài năng Đó là lớp văn hóa nền xác lập nơi nhà vănnhững cảm thức đầu tiên và lâu bền về thế giới nghệ thuật, góp phần khơi dậythiên hướng nghệ thuật cho nhà văn đồng thời cũng giúp nhà văn rèn giũa, tôiluyện, bổ sung xúc cảm và trí tuệ Nhờ vậy phong cách nghệ thuật của họ đượcđịnh hình và phát triển

Nhà thơ Văn Công Hùng sinh ngày 19 tháng 5 năm 1958, quê quán ĐiềnHoà, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế Ông sinh ra và lớn lên, học phổ thông ởThanh Hoá Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Huế năm 1981, xung phong lên Gia Lai

- Kon Tum công tác Từ Huế ra Thanh Hóa, trở về với Tây Nguyên là quãng đờilưu dấu nhiều kỉ niệm của nhà thơ Văn Công Hùng Xứ Huế ban cho ông vẻ đẹpcủa sự thâm trầm, huyền bí trong nét văn hóa cung đình Cả thời học sinh trải dàitrên những con đường đi về ở vùng đất Thanh Hóa làm nên một Văn Công Hùngcởi mở và tràn trề sức sống. Bỏ lại thành phố Huế, khoác ba lô lên

Trang 14

Pleiku giữa ngờm ngợp sắc vàng dã quỳ, hoà trong mờ mờ sương dáng phố…

đã làm cho nhà thơ Văn Công Hùng nguyện gắn bó cuộc đời mình với mảnh đấtnày Phố núi là vườn ươm cho thơ ông và để bây giờ cái tên Văn Công Hùng đãquen thuộc trong giới văn nghệ sĩ và người yêu thơ… Tây Nguyên đã ám vàoVăn Công Hùng để thổ lộ cái cốt cách nghệ sĩ phát sáng rất tiềm tàng

Quả vậy, Văn Công Hùng là một trong những nhà thơ trưởng thành và bắtđầu sự nghiệp thơ sau thập kỷ tám mươi ở Tây Nguyên Tây Nguyên là một vùngđất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc độc đáo của đồng bàocác dân tộc, chủ yếu là Jrai và Ba Na thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà

mồ, qua lễ hội truyền thống, qua sử thi, qua y phục và nhạc cụ Các lễ hội đặc sắc

ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, múa xoang trang phục ngày hộiđược trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa dân gian và âm thanhvang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như tù và, đàn đá, cồngchiêng Đến Tây Nguyên là đến với những khu nhà mồ dân tộc với những bứctượng đủ loại và những nghi lễ còn rất hoang sơ với tôn giáo đa thần (Tô Tem) cònnhiều nét nguyên thủy Trong thơ Văn Công Hùng ta thường bắt gặp những cảnhvật, con người, sự việc diễn ra ở những vùng đất thân quen đó Nó vừa là kí

ức, vừa là tiềm thức làm nên những hình tượng nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà thơ

Đến với thơ không chỉ là một cuộc gặp gỡ mà còn là duyên phận Mà đã làduyên phận thì thường gắn với hên - xui, may - rủi Nặng nợ với thơ, xấp ngửa

với chữ nghĩa, năm 1992, tập Bến đợi xuất hiện Văn Công Hùng đã khẳng định

được bản thân và hình thành cho mình một phong cách Với cảm quan nghệthuật sắc sảo cùng với chất trí tuệ đã làm nên một cái gì rất riêng của tác giả Tathấy có điều gì nhẹ nhàng, giản dị mà sao cũng quá đỗi ưu tư, khắc khoải ở tậpthơ này Cái nét băn khoăn, lưỡng lự trong sự dồn đẩy, hối hả; cái sự phân vân,hoài nghi trong niềm nhiệt huyết đã làm nên chất thơ của ông Quả là một làngió mới thổi vào thi đàn

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống đam mê văn học nghệ thuật, VănCông Hùng hiển nhiên hoặc may mắn mang trong mình tâm hồn của một nghệ

sĩ Dù chưa phát tiết nhưng vẫn có phong vị của kẻ lãng du Cha ông là người

Trang 15

đam mê nghệ thuật dân gian Được biết ông là người học chữ Nho, đọc nhiềuthơ chữ Hán và cũng đam mê làm thơ từ rất sớm Những câu thơ của ông đượcVăn Công Hùng đánh giá là mang đậm phong vị dân gian Văn Công Hùngmay mắn thừa hưởng từ cha và ông lối tư duy khúc chiết, mạch lạc Phải chăngđiều này làm nên tính triết luận trong tư duy thơ của ông Mẹ ông là người yêu

thơ thời trung đại, bà thuộc nhiều các câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn

Du, Phạm Công - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa… Nền tảng xuất thân như

thế khiến Văn Công Hùng tự nhận thấy mình yêu thơ và thích làm thơ cũng là

lẽ tự nhiên, dễ hiểu Tất cả tạo cho Văn Công Hùng những điều kiện thuận lợi

để đến với thơ, suy nghĩ về thơ và tạo dựng phong cách thơ cho riêng mình.Điểm lại bước đường làm thơ của Văn Công Hùng, ta thấy được con-người-thơcủa ông Tiếp cận được với công chúng, thơ Văn Công Hùng nhận được phảnhồi và nhà thơ nhanh chóng thấy được “nghề thơ còn lắm gian nan” khi ngòibút của mình còn thiếu thiếu một cái gì vô cùng quan trọng Ông hiểu rằng, thơkhông phải là sản phẩm của sự hời hợt, làm thơ là một nghề đỏi hỏi sự suy tưnghiêm túc, thơ là tấm gương phản chiếu trí tuệ và tâm hồn … Và đừng đùagiỡn với thơ Từ đây ông suy nghĩ thật sự nghiêm túc về thơ và dần lựa chọncho mình một lối đi Con đường thơ bắt đầu in dấu những bước chân còn nhiềulúng túng của kẻ dò đường Đi sao cho thỏa đam mê, đi sao để đam mê đếnđược cái nơi mà nó ngự trị, đi sao để đam mê đến được vinh quang

Tính cách làm nên số phận Tính cách cũng góp phần hình thành phongcách Con người Văn Công Hùng có những nét tính cách đặc biệt giúp làm nênphong cách thơ của ông Là người thích phiêu lưu và có cá tính, ông đam mêsáng tạo Là người điềm tĩnh và thông minh, Văn Công Hùng nhận ra mìnhđang đứng ở đâu trong cuộc đời cũng như trên thi đàn Là người chỉn chu vàtinh tế, Văn Công Hùng khéo léo thay đổi cách nghĩ và cách làm thơ Là ngườigiản dị và nhân hậu, Văn Công Hùng biết tạo ra vẻ đẹp thuần khiết nhưng sâusắc cho thơ Là người nặng sâu tình cảm, Văn Công Hùng trở thành nhà thơ

Trang 16

chân chính Con người Văn Công Hùng đã làm nên khuôn mặt thơ Văn Công Hùng và qua thơ ông, ta nhận ra khuôn mặt tỏa sáng đó.

1.3 Các chặng đường sáng tác thơ Văn Công Hùng

Ở phần này, chúng tôi sẽ khảo lược quá trình sáng tác thơ của Văn CôngHùng thông qua các tập thơ Đây là cái nhìn bước đầu để nhận diện sự pháttriển phong cách thơ ông

Bến đợi là tập thơ đầu tiên của Văn Công Hùng Tập thơ ra mắt đã chiếm

được sự xúc động của người đọc Cảm xúc chung của tập thơ này là tâm sự củamột người nặng lòng với quê cũ, trầm ngâm về quê hương với một nỗi niềmđau đáu và với quê hương mới thì đã ám vào Văn Công Hùng để thổ lộ cái cốt

cách nghệ sĩ phát sáng rất tiềm tàng: “Gặp gỡ thường tạo nên những cảm hứng tức thì choáng ngợp Biệt ly lại bàng hoàng trước bao kỷ niệm thân quen Cả hai trạng huống này đều là cái nguyên thủy để khởi lên hồn thơ vốn ẩn chứa ở mỗi người Hai trạng huống nên thơ ấy đều có ở Văn Công Hùng khi anh biệt

xa quê hương Thừa Thiên Huế để đến với núi non Tây Nguyên hùng vĩ - quê hương mới của anh Thật may mắn cho một người làm thơ mà có cả hai quê có quê mới để thương có quê cũ để nhớ” (Nguyễn Trọng Tạo) [39, 02].

Hát rong là tập thơ đánh dấu sự góp mặt của một nhà thơ mang tên Văn

Công Hùng trên thi đàn Đến với tập thơ, đôc ̣giả như đang được sống giữa cuộc đời, trải nghiệm cuộc đời qua từng câu chữ Mọi cung bậc của cảm xúc, thế giới muôn màu của cuộc sống hiển hiện trong thơ ông sinh động Nếu ai đó cho rằng thơ ca chỉ là thứ làm cho tâm hồn con người thoát ly khỏi hiêṇ thưc ̣ cuộc sống, đắm chìm trong những mơ mộng viển vông, bay bổng và lãng mạn trên đôi cánh thần tiên và sẽ thấy thất vọng khi đặt thơ đối sánh với cuộc đời, thì Văn Công Hùng lại cho rằng thơ chính là đời, cuộc đời sẽ giúp cho thi sĩ thăng hoa cảm xúc

để làm thơ

Đọc Hát rong, ta cảm được hơi thở và nhịp đập của một trái tim giàu men

say cuộc đời, đa tình với thơ ca Đó cũng chính là khúc hát rong mang đầy dấu

ấn của một trái tim nồng nàn nhựa sống Ở đó, ta cũng trông thấy một gươngmặt rất hiền mà cũng đầy bụi trần - một gương mặt lắm men say dành cho cõiđời mà cũng khắc khoải, hoài nghi và cô đơn giữa thế gian Nói chung càng đi

Trang 17

sâu vào thế giới Hát rong, người đọc càng khám phá thêm những miền tâm

trạng mới, làm phong phú thêm chất lượng tâm hồn người

Đến với Hoa tường vi trong mưa, thơ Văn Công Hùng bắt đầu có sự trăn

trở, vật vã với mình để tìm tòi, tránh con đường mòn, luôn luôn ý thức mìnhphải đổi mới mình trong thơ Ở hai tập thơ trước, tứ thơ của ông có phần hơikhô thì sang chặng thơ này nó đã có sự nung nấu, tứ và cảm xúc đã có sự hòa

quyện tạo nên những câu thơ sâu lắng làm rung động trái tim bạn đọc Đây “là một tập thơ đầy đặn và bề thế những chặng đường của đi và về, của cảm và nghĩ, của mê đắm và tỉnh thức, của tiễn đưa và sum họp, của ký ức và dự cảm, của khoảnh khắc và muôn trùng, của bất chợt và vĩnh viễn…” (Nguyễn Thanh

Mừng) [58, 38]

Hoa tường vi trong mưa là tập thơ của những ngày bình thường, của

những con người bình thường, cũng là của những điều bình thường trong cuộcsống Những người, những việc thường ngày, giản dị đó được Văn Công Hùngsoi chiếu dưới lăng kính của sự đối nghịch để người đọc nhận ra rằng: chúngbình thường nhưng cao quý Cảm giác về sự trầm tĩnh, lý trí, chiêm nghiệmxuất hiện nhiều ở các trang thơ Tất cả những cái ngày thường đơn giản là thếnhưng để có được nó nhiều khi con người ta phải đánh đổi thật nhiều, phải nỗlực thật lớn, phải khát khao thật mãnh liệt Đến tập thơ này, yếu tố triết luậntrong thơ Văn Công Hùng dường như sâu sắc hơn cả Nhiều bài thơ đòi hỏi sựtập trung cao độ của người đọc để nhận ra khuôn mặt thật, giấu kín tận sâu bên

trong của cái hằng thường Với Hoa tường vi trong mưa chúng ta cũng nhận

diện rõ ràng hơn sự “tiết chế” trong câu chữ của Văn Công Hùng

Cuộc sống con người luôn từng giờ, từng ngày đổi thay và để bắt nhịp vớicuộc sống ấy, thơ ca cũng phải luôn tìm tòi, đổi mới Thơ không thể mãi là sư ̣nhàm chán cũ kỹ, sáo mòn đến vô cảm, nhà thơ cũng cần phải có tâm huyết,niềm đam mê khao khát cái mới, khao khát sư ̣đổi thay, làm phong phú hơn chothi đàn cũng chính là làm phong phú thêm cho tâm hồn của con người thời đại

Ta bắt gặp một Văn Công Hùng hiện đại trong Gõ chiều vào bàn phím Ngôn

ngữ của tập thơ này mang đậm dấu ấn của “cuộc sống số” với những @, những

email, những enter…và “mang lại cho người đọc một cảm giác muốn được

Trang 18

khám phá ngôn ngữ để đi đến tận cùng vẻ đẹp của văn chương” (Nguyễn Thị

Anh Đào) [15]

Đối với Văn Công Hùng, thơ phải phản ánh được những cái đời thường

của cuộc sống: Những nhà thơ ở trong nhà tập thể/ con bao cấp tiếng cười/ vợ

tem phiếu cơm ăn và nước mắt (Tự bạch của một thời).

Nhiều lúc ông lặng lẽ đem bản thân mình ra làm đối tượng cho mìnhchiêm cảm, thổn thức cùng nỗi đau của bản thân, nhặt nhạnh từng mảnh mìnhrơi vãi Ông không né tránh cái tôi thực của mình, tự tâm để nó bơi giữa dòngnước ngược, thoải mái thốt lên những điều đang dày vò nó với những cảm xúc

lạ nhưng rất đỗi đời thường hay là những cảm xúc dồn nén, kìm kẹp giữa hai bờ

trái tim nóng hổi: Vũ trụ là mười hai mét vuông/ nhân loại là vợ con và bầy heo lai kinh tế/ tính nhân văn suốt đời chê bia rằng đắng/ bản ngã chai lì nhưng khóc nếu heo đau.

Từ Bến đợi cho đến Gõ chiều vào bàn phím là một sự cách tân về nhận thức,

tư tưởng và thi pháp Không còn sự nhận đường hay dò đường mà là sự khẳngđịnh Khẳng định một con đường mới, một lối đi riêng để vào thế giới thơ giàumàu sắc và lắm chông gai Đặt trong hệ thống thơ đương thời, thơ Văn Công Hùngvượt lên bởi sự chững chạc, điềm đạm mà tinh tế Không đa ngôn mà “kiệm lời”,không ào ạt mà “tiết chế”, không “duy cảm” mà “duy lý”…, Văn Công Hùng tạo

ra một khuôn thước mới để nhìn nhận cái đẹp của thơ Lý thuyết về cách đọc thơdần thay đổi Biên độ nhận thức về thơ được nới rộng hơn Nó tạo ra những dưchấn mạnh mẽ và mới lạ trên thi đàn đang đòi “đổi mới”

Khát khao đổi mới cùng với đam mê sáng tạo đã thôi thúc nhà thơ tiếp tục

viết Đêm không màu Bằng cái tôi chiêm nghiệm, chất vấn, Văn Công Hùng

độc thoại trước hết với chính mình và hướng đến được cùng giãi bày với ngườiđọc qua những ảnh hình của cuộc sống Bởi vậy, thơ ông đi vào lòng người nhẹnhàng mà sâu lắng Nó như thuộc về bản năng của người nghệ sĩ có trái tim lớn,chứa đựng nhiều tâm trạng, cảm xúc, nhà thơ phải phân thân thành nhiều người

để bộc lộ các sắc thái, tình cảm, niềm vui, nỗi buồn của càng nhiều số phận,càng hay

Không chịu dừng lại ở những cảm xúc bề ngoài, nhà thơ đi sâu vào đối

Trang 19

tượng bên trong để khám phá, phát hiện bản chất của mỗi vấn đề Ông đã mở rabước chuyển về thi pháp, đưa thơ đến chất giọng triết lý sau vẻ hài hước nửanhư đùa nửa như thật của mình Tăng cường tính triết luận vào thơ đã tạo đượcnét riêng biệt làm nên phong cách thơ Văn Công Hùng Ông cảm nhận được sựngắn ngủi của đời người trong dòng chảy không cùng của thời gian Sự sốngcon người ngỡ ra là thoáng chênh vênh, mơ hồ Cũng từ đó, nhà thơ ngộ được

giới hạn của đời người Đêm không màu đã thể hiện sự đằm thắm và độ chín

của tác giả Chứng tỏ ông đã đi qua sự bồng bột và sôi nổi của thời trai trẻ

Có thể nói yếu tố sáng tạo, đổi mới là một trong những yếu tố quyết định

sự vong tồn của nghệ thuật Những nỗ lực cách tân, đổi mới của các nhà văn,nhà thơ là điều đáng trân trọng, đáng được ghi nhận Đó là ý hướng, khát khaocủa của những người thực sự muốn đưa văn chương Việt Nam bứt phá khỏinhững vòng quay cũ kỹ, gia nhập vào nhịp sống văn chương hiện đại của thếgiới Trong nỗ lực cách tân, đổi mới thơ Việt sau 1986, chúng ta đã chứng kiếnmột sự thay đổi hết sức đa dạng, phong phú từ phong cách đến giọng điệu VớiVăn Công Hùng, ông tìm tòi để đổi mới song vẫn duy trì những yếu tố truyềnthống trong thơ mình

Đến với Lục bát Văn Công Hùng, ta nhận thấy rõ sự hòa quyện giữa

truyền thống và hiện đại đã tạo cho lục bát của ông một nét riêng, một sự phá

cách “nỗi lòng anh trải ra với thiên nhiên, với nắng trời tim tím Huế” “Bài thơ theo thể lục bát, nhịp điệu quen thuộc, có vài chỗ phá cách để tránh đơn điệu;

có ngắt, xuống dòng, chỗ dừng (cesur), có đồng hiện, có hoài vãng, có hiện thực… để tạo ra những phức điệu, phức cảm làm đẹp hồn thơ và hấp dẫn quá trình tiếp nhận thẩm mỹ của người đọc” [49, 181 - 182].

Phản ánh hiện thực là qui luật muôn đời của văn học nói chung và thi ca nói

riêng: “Thơ là sự biểu lộ ý nghĩa huyền bí của cuộc sống bằng tiếng nói của con người thu về nhịp thuần túy nhất” (Stéphane Mallarme) Như vậy, biên độ phản

ánh hiện thực trong thơ đã được mở rộng đến vô cùng Và thơ đã trở thành tiếngnói mầu nhiệm của đời sống tâm hồn Thơ đã trở thành một thứ vũ trụ tâm linhkhông những của nhà thơ mà của cả người tiếp nhận Hiện thực phản ánh trong thơ

là một hiện thực đa phương, đa chiều Với tinh thần đó, Vòm trời khác

Trang 20

ra đời đã mang lại nhiều nét mới với chiều sâu nội dung tạo ra sự ấn tượng,khẳng định những giá trị hiện hữu của thơ, đáng để người yêu thơ tìm đọc Với

Vòm trời khác, Văn Công Hùng hiện lên như một “phù thủy” câu chữ khi ông

mang đến sự mới lạ cho thơ từ những chất liệu quen thuộc

Sau thành công của các tập thơ trước, năm 2016 tập Cầm nhau mà đi ra đời

đã gặt hái nhiều thành công và sự trân trọng Tập thơ vương vít nỗi buồn của conngười đã đi qua và quay đầu nhìn lại quãng đường đời khá dài của mình Nhiều lờicũng không nói được nhiều hơn những gì muốn nói Nhà thơ tiết kiệm tối đa ngônngữ Chỉ để sự khắc khoải dặt dìu, day dứt trên mỗi trang thơ được viết bằng ngônngữ thơ văn xuôi chắt lọc, giàu suy tưởng Những câu thơ đứt quãng, ngắt dòngliên tục vừa là sự cách tân vừa giúp diễn tả nhịp điệu tâm hồn đầy trắc ẩn củangười đã đi đến kết cục của tình yêu nhưng vẫn còn nhiều khát khao trong lặng lẽ

Với Cầm nhau mà đi, ta lại thấy một Văn Công Hùng có tâm hồn đa mang, trái

tim nhạy cảm, lối sống phóng khoáng, ông đã đi nhiều nơi, qua mọi vùng miền, đểrồi chắt lọc những điều mắt thấy, tai nghe thành những câu thơ đầy nhạc điệu,mang tính triết lý sâu sắc Lời thơ đã dẫn dắt người đọc về với cuộc sống của conngười trong cõi nhân thế Ở đó vui buồn lẫn lộn, thương nhớ đan xen, đó là nhữngcảm xúc của con người trong cuộc đời Sông có khúc, người có lúc, ai cũng cónhững khi khổ đau, vui sướng, ai cũng chất chứa trong tim những niềm thương nỗinhớ, những ngọt ngào đắng cay

Hoà mình vào dòng chảy của văn học Việt Nam, thơ ca sau 1975 có nhữngbước chuyển biến mạnh mẽ, bắt nhịp được đời sống văn học bằng việc nhậndiện đầy đủ bản chất của cuộc sống Thơ chú trọng đến con người cá nhân vớicái tôi đời tư sâu thẳm, thơ cũng hướng đến những vấn đề bức thiết của cuộcsống, hướng đến những giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc Đây là một hànhtrình đi theo suốt những buồn vui của loài người Với một tinh thần tự tin tiếpnhận những luồng tư tưởng mới của thời hiện đại và tự tin sáng tạo trên nềntảng văn hoá phương Đông truyền thống, Văn Công Hùng đã đi vào cuộc hànhtrình văn học dân tộc đem theo khí cốt mới mẻ, tạo nên một bản lĩnh nghệ thuậtvững vàng, một vị thế riêng trên con đường hiện đại hoá thi ca

Đi sâu vào nghiên cứu thơ Văn Công Hùng, ta thấy ông không chỉ đem

Trang 21

đến cho thơ một nguồn cảm hứng mới mẻ, hơn thế ông tạo ra được bướcchuyển biến mới bằng việc nhận diện sâu sắc bản chất cuộc sống Nhà thơhướng ngòi bút về những nỗ lực có tính dự báo, đào sâu, thăm dò hiện thựcbằng cách nhìn biện chứng Thơ là người thư ký trung thành của thời đại, là tấmgương phản chiếu thế giới tâm hồn, có lẽ nhận thức rõ sứ mạng cao cả của thơ,nên ngòi bút tinh tế của ông đã hướng đến nhiều ngóc ngách của cuộc sống vàphản ánh chân thực tài tình cuộc sống ấy bằng ngôn từ của trái tim và khối óc.Ông cố gắng phát hiện những cơ sở tồn tại khách quan của đời sống như khônggian, thời gian và những giá trị vĩnh hằng khác như tình yêu, lẽ sống… Nhà thơđặt con người trong mối quan hệ đa dạng của cuộc sống để cắt nghĩa mọi hiệntượng và tâm lý con người, đặc biệt là con người đời tư - cá thể Từ đây, thơông nghiêng về phía hướng nội và đầy chất triết lý Càng về sau, thơ Văn CôngHùng càng tăng cường các yếu tố hư ảo, tiềm thức và trực giác.

Phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng là sự tích hợp một cách nhuầnnhuyễn và sâu sắc giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại Tư duythơ ông đã thể hiện sự phản ứng nhanh khi nắm bắt được cái mới nhưng luôn

“bảo thủ” trước những giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc Đó là một tư duy tíchhợp, đa chiều cạnh, đã tìm được sự hài hoà thống nhất trong khối đa dạng vàmâu thuẫn

Đối với nhà thơ, con đường sáng tạo thơ là cả một hành trình lao độngthực thụ Văn Công Hùng không ngừng tìm tòi, khám phá và sáng tạo, luôn ýthức đổi mới trong thơ mình Sự luôn đổi mới thơ mình ở nhà thơ đem đến choông sự tin cậy của bạn đọc Qua thơ, chúng ta có thể hiểu thêm, hiểu sâu hơnmột điều mà có thể nhà thơ đã gián tiếp nhắn gửi một cách âm thầm lặng lẽ quanhững trang viết Văn Công Hùng lặng lẽ làm nên những giá trị tinh thần đónggóp cho thi đàn những tập thơ giá trị, những bài thơ sâu sắc, giàu triết lí, giàu trítuệ và yêu thương Đó là sự lao động nghệ thuật nghiêm túc nên đã gặt háinhiều thành công và sự trân trọng

Điểm qua các tập thơ, chúng ta có cái nhìn ban đầu về con đường hìnhthành, phát triển phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng Ở chương II vàchương III, chúng tôi sẽ cố gắng đi cụ thể vào những nét phong cách đó

Trang 22

Chương 2

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ VĂN CÔNG HÙNG NHÌN TỪ

GÓC ĐỘ TRIẾT LUẬN VỀ CÁI ĐẸP VÀ ĐỜI SỐNG

2.1 Cơ sở nghiên cứu

2.1.1 Về khái niệm triết luận

Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói

chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm Trước hết nó được hiểukhi gắn với khái niệm “thơ trữ tình triết học” của Block, Schiller, Bretch, Rilke,Baudelaire, Valéry, Claudel… Hay khái niệm “trữ tình trí tuệ” của các nhà thơ

Đức Sau đó Arnauđốp bổ sung: “Vào thời cận đại, chúng ta ngày càng bắt gặp nhiều hơn trong trữ tình những mô tip dắt dẫn ta vào vương quốc của các tư tưởng Như Ghugô nói, ở những chỗ lý tính thường không được thỏa mãn thì cảm xúc ngày càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn, để tìm ra được khoái cảm trong một điều gì đó chúng ta nhất thiết phải suy nghĩ tạo ra một trong những nguyên nhân của tiến bộ đạo đức và thẩm mỹ” [02, 514] Đến đây chúng ta có thể hiểu, tính triết luận sẽ có được khi: cảm xúc của nhà thơ

thăng hoa trong lúc suy nghĩ, phân tích, giải thích, biện luận những vấn đề hiệnthực cụ thể mà nhà thơ trải qua Như vậy triết luận là một yếu tố để cấu thànhnên văn bản văn học chứ không phải là toàn bộ nội dung của văn học

“Triết” là triết lí, “luận” là bàn luận; “triết luận” có thể hiểu chung lại làtriết lí và bàn luận Thông thường nhà thơ triết lí và bàn luận về những vấn đềcon người và xã hội Chúng tôi hiểu thuật ngữ ở góc độ đơn giản này và chorằng: Cảm hứng triết luận là hứng thú được tranh luận, biện giải khi bắt gặpnhững chất liệu cuộc sống, những vấn đề nhân sinh và xã hội gần gũi với nhữngchiêm nghiệm, suy tư lâu dài của nhà thơ, được nhà thơ sáng tạo thành các tứthơ Như vậy, triết luận chính là chất lý trí, chất trí tuệ cao có giá trị nhận thứcmới mẻ, sâu sắc

Khi cảm hứng triết luận trở thành cảm hứng chủ đạo thì tác phẩm sẽ manghơi hướng của sự phân tích, biện giải và tính triết lí sẽ xuất hiện thường xuyên

ở các tác phẩm làm nên nét riêng của nhà thơ Đến đây, nhà thơ nào có vốnsống, vốn văn hóa, vốn triết học cao và biết vận dụng những vốn đó sáng tạo thìcảm hứng triết luận sẽ định hình tư duy triết luận độc đáo làm nên phong cách

Trang 23

riêng của nhà thơ Những nhà thơ như vậy thường được gọi trân trọng là “nhàthơ trí tuệ” hay “nhà thơ triết lý”.

Với cách hiểu này, Văn Công Hùng là một nhà thơ như thế Ông đã biếtkết hợp tình cảm và lý trí để xây dựng những nhân vật, tâm trạng, hình ảnh,…bằng ngôn ngữ, giọng điệu có tính triết lý nhưng vẫn đằm thắm, sâu sắc yếu tốtrữ tình, lãng mạn Tính triết luận đã trở thành một trong những yếu tố mangtính thi pháp trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ Ở đó, ông chú trọng đếnchất thơ và hình thức thích hợp để truyền tải thông điệp mang những tư tưởng,triết lý Từ đây, ông lôi kéo người đọc vừa phải rung động tâm hồn vừa phảivận động trí tuệ để cảm thụ và suy nghĩ một cách tự nguyện, say mê Ở chươngnày, chúng tôi sẽ tìm hiểu yếu tố triết luận của Văn Công Hùng như một nét đẹptrong phong cách của ông thông qua những suy nghĩ của ông về những vấn đềliên quan đến cái đẹp và đời sống

2.1.2 Vấn đề cái đẹp và đời sống trong thơ Văn Công Hùng

Cái đẹp là phạm trù thẩm mỹ có vị trí cơ bản và trung tâm trong hệ thốngcác phạm trù thể hiện đối tượng thẩm mỹ gồm cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, cáithấp hèn, cái bi, cái hài, cái hùng,… Vị trí đó được bộc lộ trước hết ở chỗ:người ta có thể dùng các thuộc tính cơ bản của cái đẹp để xác định bản chất cácphạm trù thẩm mỹ khác Bên cạnh đó, nó còn đặc biệt được bộc lộ trong hìnhthái biểu hiện cao nhất của mối quan hệ thẩm mỹ là nghệ thuật Cái đẹp bao giờcũng là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật, của những nghệ sĩ chân chính Cáiđẹp khách quan và tư tưởng, tình cảm đẹp bao giờ cũng là khát vọng biểu hiệncủa nghệ thuật chân chính xưa nay

Trong cảm quan về cái đẹp và nghệ thuật như vậy, Văn Công Hùng đã không

ít lần thể hiện quan niệm của mình về cái đẹp thông qua việc triết luận ở các trangthơ Từ đây, chúng ta nhận ra được quan niệm thẩm mỹ nhân văn và sâu sắc củaông Chúng ta dễ dàng nhất trí với nhau rằng, dù có nhiều điều thay đổi nhưngcũng có những thứ tồn tại gần như là bất biến trong dòng chảy liên tục, bất ngờcủa đời sống (trong đó có đời sống văn học) Một trong những cái bất biến thuộc

về nguyên lý ấy là mối quan hệ không thể tách rời giữa văn chương và đời sốngcủa nhân dân và thời đại mình Đơn giản vì con người (trong mối quan hệ với xãhội) sinh ra văn chương là để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của

Trang 24

chính mình nên văn chương không thể ngoảnh mặt lại với con người và đờisống xã hội loài người Đó là con đường duy nhất để dẫn văn chương đến vớiđời sống và ngược lại, đời sống đi vào trong văn chương.

Sự hoàn thiện phong cách của Văn Công Hùng qua mỗi tập thơ một phần

là nhờ những “cú hích” khách quan của thời đại, của đời sống con người và xãhội Việt Nam những năm sau giải phóng Đồng thời, đời sống xã hội đi vào thơVăn Công Hùng nhẹ nhàng như hơi thở với sắc diện thâm trầm nhưng đa chiều,

đa diện Văn Công Hùng làm mới mình bằng cách sử dụng yếu tố triết luận nhưmột phương tiện nghệ thuật hữu hiệu để thể hiện những suy nghĩ, những trảinghiệm của bản thân về đời sống với muôn mặt thường ngày của nó Quanhững thể hiện ấy, chúng ta nhận ra Văn Công Hùng là một nhà thơ luôn mongmuốn… khám phá sắc sảo đối với các góc cạnh của cuộc sống với cái nhìn sâusắc và nhân văn

2.2 Phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng nhìn từ góc độ triết luận về cái đẹp

2.2.1 Triết luận về cái đẹp khách quan

Thế giới tự nhiên (với nghĩa khái quát nhất) dù thể hiện dưới hình thức, sựvật, hiện tượng, hệ thống vật chất cụ thể khác nhau thì nó luôn ở trong trạngthái vận động, biến đổi không ngừng; đồng thời nó tồn tại khách quan độc lậpvới ý thức của con người Chẳng hạn như: một bông hoa nở rực rỡ trong buổiban mai tinh khiết, hay một giọng nói dịu dàng cất lên giữa những tạp âm,… tựbản thân nó trước hết đã là cái đẹp Còn đẹp như thế nào, đẹp đến mức độ nào,tại sao đẹp lại là những vấn đề khác Ở đây, chúng tôi muốn nói đến thuộc tínhtồn tại khách quan, không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của conngười mà cái đẹp tự nhiên nói chung và cái đẹp nghệ thuật nói riêng sở hữu

Nói như nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà trong Văn chương, thẩm mĩ và văn hóa thì: “Chúng ta không hề khuếch đại mặt bản năng của nghệ thuật,…Thừa nhận

nó ở một mức độ nào đó chính là khẳng định vai trò của nhân tố khách quan trong sự đánh giá thẩm mĩ Cái đẹp không chỉ là sản phẩm của ý thức, chỉ tồn tại trong phán đoán thẩm mĩ của con người Cái đẹp có cơ sở khách quan trong những thuộc tính tự nhiên nào đó của bản thân sự vật” [79, 256 - 267] Văn

Công Hùng triết luận về cái đẹp khách quan với các hình thức tồn tại sau:

Trang 25

2.2.1.1 Cái đẹp là sự chắt lọc từ những trải nghiệm của cuộc sống

Văn Công Hùng vốn là con người có tâm hồn đa mang, trái tim nhạy cảm,lối sống phóng khoáng, ông đã đi nhiều nơi, qua nhiều vùng miền, để rồi chắtlọc những điều mắt thấy, tai nghe thành những câu thơ đầy nhạc điệu, mangtính triết lý sâu sắc Ông thường dùng khả năng quan sát tinh tế của mình đểnhận ra những cái đẹp như thế Đó là chất nghệ sĩ toát ra từ hành động và suynghĩ thoáng qua trong đầu, là tình người, tình đời hòa quyện và tan vào nhautrong sự khát khao, cháy bỏng

Kiếm tìm cái đẹp, trải nghiệm cái đẹp của Văn Công Hùng là nỗi khátthèm được giao hoan cùng vũ trụ, đất trời Ông muốn mình là tất cả mọi vật đểđược trải lòng ra muôn nơi, được thấu hiểu những lẽ sâu kín từ cuộc sống màmình đã đi qua Giấu đằng sau những câu thơ kiệm lời, súc tích là những trảinghiệm về triết lý cuộc đời, đan xen giữa chất trữ tình ngọt ngào, da diết là néttrầm tư của cái tôi không ngừng chiêm nghiệm, kiếm tìm cái đẹp từ cuộc sống

Tư duy thơ ông thoả sức bung phá, đào sâu vào những miền tâm tưởng trong

cuộc sống để mở tung cánh cửa tâm thức cho người đọc: có một mùa xuân ta chợt thấy mình giàu/ em vô tư thả chiều vào cơn khát/ vẫn còn tin yêu vẫn còn

câu hát/ vẫn quỳ vàng mê hoặc gió cao nguyên (Có một mùa xuân ta chợt thấy mình giàu).

Cái đẹp được chắt lọc từ cuộc sống một cách đơn giản, tự nhiên, thuầnkhiết mở ra để khép lại một suy nghiệm, một bài học đi đường mà nhà thơ dànhcho mọi người:

Những cơn gió thổi từ phía cánh rừng ẩm ướt

Nhắc ta nhớ những con đường thăm thẳm bàn

chân Những cơn mưa, những vệt chân trời sáng tối

Năm tháng vẹn nguyên, năm tháng chảy qua đời

(Gửi K’bang)

Văn Công Hùng cũng thường ngẫm nghĩ, triết luận về cái đẹp trong từng

bước đi của ông trên đường đời: Không phải cứ bên nhau là xa cách/ Nhiều khi

chưa gặp đã quen rồi (Cao Nguyên ngày tôi mới) Hai câu thơ rất giản dị, lời

thơ chân thành, mộc mạc, dễ đọc, dễ nhớ nhưng lại mang nhiều ý nghĩa Lờithơ đã dẫn dắt người đọc về với cuộc sống của con người trong cõi nhân thế Ở

Trang 26

đó vui buồn lẫn lộn, thương nhớ đan xen, đó là những cảm xúc của con ngườitrong cuộc đời Sông có khúc, người có lúc, ai cũng có những khi khổ đau, vuisướng, ai cũng chất chứa trong tim những niềm thương nỗi nhớ, những ngọtngào đắng cay Nhưng cuộc đời con người là ngắn ngủi, chỉ cần một cái “chớpmắt” là mọi nỗi đau nhân tình thế thái đã trở thành dĩ vãng Vì thế con ngườiđược gặp nhau, quen nhau, xa nhau, gần nhau trở thành những điều dường nhưkhông có khoảng cách.

Với nhà thơ, từ sự dấn thân vào cuộc sống đến với những trang thơ là haiquá trình luôn luôn gắn bó và song hành cùng nhau Bởi lẽ, tác giả ham chơi,thích phiêu lưu cùng trời đất, gió trăng nhưng chất đầy trong tim những mối suy

tư, trăn trở, chiêm nghiệm về cuộc sống:

Cánh buồm ấy giờ xa rồi

nón trắng không ai đội nữa

Không thể hết những muộn phiền

Không thể hết những nỗi đau

Không thể sung sướng đến tận cùng

Nước mắt đến tận cùng

(Và gió)

Ông đã quan sát, nhìn nhận từ hiện thực cuộc sống để từ đó đưa ra nhữngnhận định về con người và cuộc đời Nhà thơ thường hay suy ngẫm chiêmnghiệm về con người và thời đại Là người từng trải nhà thơ đã chứng kiến bao

sự kiện, để rồi suy ngẫm về cuộc đời này:

cái miệng để nói trái tim để đau

có những chức năng hình như đang đổi

tìm một sự tử tế sao mà khó

Trang 27

dửng dưng mắt chớp qua ngày

(tự gặm)

Đến với thế giới thơ Văn Công Hùng, độc giả như đang được sống giữacuộc đời, trải nghiệm cuộc đời qua từng câu chữ Mọi cung bậc của cảm xúc,thế giới muôn màu của cuộc sống, con người ở khắp mọi miền Tổ quốc, hiểnhiện trong thơ ông sinh động, mỗi người mang môṭ dáng hình, dáng vẻ Nhà thơlàm thơ là để giãi bày tâm trạng, để thăng hoa cảm xúc, do đó thơ ông khi nói

về sự trải nghiệm trong cuộc sống hiện đại khá sâu sắc và thấu đáo: Thời gian thành bó số/ Thời đại tình yêu lục lọi check mail/ Chỉ một enter cả ngàn trái

tim cùng hát/ Nỗi nhớ vèo bay cuồn cuộn cáp quang (Cỏ ngày xưa).

Cõi thế gian chập chùng nhiều nước mắt và nụ cười mà nhà thơ đã trảiqua, xét cho cùng đó là cuộc đời đan xen, hoà quyện giữa thế sự và cõi tâm tìnhcủa con người Ở đó, con người và cảnh vật hòa vào nhau, duy trì nhau, tươngtác nhau Qua đó, ta cũng trông thấy một gương mặt rất hiền mà cũng đầy bụitrần - một gương mặt lắm men say dành cho cõi đời mà cũng khắc khoải, hoàinghi và cô đơn giữa thế gian Con người mạnh mẽ nhờ những trải nghiệm bão

tố của cuộc đời Chúng ta có niềm tin và lạc quan nhờ có tình yêu Con ngườitrở nên khôn khéo và bản lĩnh một phần nhờ có những bước dấn thân vào cuộcsống để nhận ra những điều nghiệt ngã trong cuộc sống:

nhân gian tưởng rộng nhường kia mà té ra nhỏ

hẹp đi hoài vẫn có tiểu nhân

(Vợ)

Chất suy tư, triết luận ở con người này đã ngấm cả vào thơ, như men rượungấm dần vào máu Chúng ta đọc thơ Văn Công Hùng - chàng thi sĩ “hát rong” đểthấu hiểu với cõi lòng ông, cảm nhận được những trăn trở và khát vọng của ông vềtình yêu, nghệ thuật cũng như cuộc sống Qua đó để thấy chất phong trần

ở nhà thơ không chỉ thể hiện trên gương mặt đăm chiêu, thấm nỗi buồn diệu vợi

mà còn thể hiện qua hình ảnh thơ chắt lọc từ cuộc sống đầy dự cảm, chiêmnghiệm và triết lý

Văn chương và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nóchính là con người, mà phải là con người trong các mối quan hệ với thế giớixung quanh Vì thế, con người trở thành đối tượng miêu tả chủ yếu để văn học

Trang 28

có một điểm tựa nhìn ra thế giới bên ngoài Con người lịch sử, con người cánhân, con người xã hội là trọng tâm đánh giá các mối quan hệ Do đó, ngườinghệ sĩ phải đi nhiều, hiểu nhiều, phải chọn những phương tiện để bộc lộ mọimặt trong đời sống của con người Dù ở góc độ, bình diện nào đi nữa, dù làniềm vui hay nỗi buồn, dù yêu đời hay yêu người thì cái đẹp trong thơ VănCông Hùng chính là sự chắt lọc và trải nghiệm cùng cuộc sống, là cái tôi thiếttha chia sẻ và đồng cảm với con người, cuộc đời một cách tự nhiên, thoải mái

cá nhân và cộng đồng Giá trị tinh thần, trước hết được Văn Công Hùng thể hiện ởcái nhìn về đất nước qua hai góc nhìn về chiến tranh và hòa bình

Là người trải qua những thời khắc khốc liệt của chiến tranh, Văn Công

Hùng suy nghĩ và trân trọng vô cùng hai tiếng hòa bình: Thời nhỏ tôi đã mũ rơm đến trường/ Đã nhiều lần hút chết/ Đã ngủ dưới hầm trốn trong hang, học

dưới lòng đất/ Để các con tôi gặm nhấm hòa bình (Tổ quốc của tôi) Càng thiết

tha yêu Tổ quốc bao nhiêu, ông càng cố lý giải ý nghĩa của tự do bấy nhiêu.Văn Công Hùng đã nhiều lần suy nghĩ về giá trị của hai chữ hòa bình:

đất nước tôi đã có hàng núi xương sông

máu đã có nhiều thế hệ lên đường

những người yêu Tổ quốc đến giọt máu cuối

cùng đau đớn tận cùng khi Tổ quốc lâm nguy

(Tổ quốc của tôi)

Bằng ngòi bút triết luận, nhà thơ thể hiện sự trăn trở về ý nghĩa của từ hòabình và như vậy Văn Công Hùng càng trân trọng những người đã hi sinh vì haitiếng đó Ông triết luận về nỗi đau mà những cuộc chiến phi nghĩa để lại cho

con người quê hương: Mẹ đã chờ dằng dặc những đêm sâu/ cha đã thức mỏi mòn trăng chếch tháng/ lá trầu xanh quả cau vời vợi nắng/ sao cứ im lìm mãi

Trang 29

mãi Trường Sơn (Nén hương này thắp lửa tìm nhau).

Hay:

Một cú Gạc Ma sáu tư mạng người thẳng băng đáy biển

đến giờ những luênh loang xanh phẳng lặng nếu không người nhắc lại thì ai biết những oan hồn đang lang thang nơi đâu

những vòng hoa có thể dịu đi cơn mắt chiều tưởng chừng yên tĩnh

quê nhà xanh dâu

quê nhà mẹ đợi

nỗi đợi chờ phi thời gian

(Thẳng đứng)

Có thể rất nhiều người trong số họ không còn tuổi tên trên sử sách, có thể

họ đã chết bình thường, không chiến công hiển hách, có thể mai sau người tadần quên nhưng họ đã thành hạt cát dưới bàn chân thành miền đất chói ngời bênbiển sóng Đối với Văn Công Hùng, họ đã trở thành bất tử, sống mãi cùng đấttrời, được lưu giữ như những giá trị tinh thần lớn lao của toàn dân tộc và đượctác giả nâng thành biểu tượng của cái đẹp tinh thần quý giá

Yêu quê hương, đất nước cũng là một giá trị tinh thần được bồi đắp trongsuốt tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Tình yêu đất nước được Văn CôngHùng thể hiện giản dị trong thơ Rời bỏ Huế mộng Huế mơ, nhà thơ đến vớiTây Nguyên và nơi đây trở thành quê hương thứ hai của ông Song ký ức vềHuế vẫn vẹn nguyên trong tác giả, ông gặp lại Huế thương ngay trên Cao

Nguyên đất đỏ bazan này: Tóc em xanh trời Huế bốn mùa/ Cao nguyên gió nón

em nghiêng đón gió/ Áo thì trắng mà bazan thì đỏ/ Mắt học trò háo hức gặp

dòng Hương (Gặp Huế trên cao nguyên).

Dường như ký ức về Huế luôn là nỗi ám ảnh thường trực trong thơ VănCông Hùng Ông viết về Huế bằng cảm xúc nhớ quê đến nao lòng và vì thế ấn

tượng Huế bùng cháy xuyên suốt thơ ông: Ta trở về nhặt những kỷ niệm xưa/ đêm mười tám trong veo như áo trắng/ em còn nhớ một mối tình câm lặng/

thuở sông Hương chỉ lặng lẽ bồng bềnh…(Và ngày ấy sông Hương mười tám tuổi).

Nhà thơ thường hay cảm động trước sắc trời quê hương, yêu tha thiết

những vùng đất đã đi qua và chưa bao giờ tới: Sơn La ngày tôi đến/ em như vừa

mưa qua/ phố non mềm và nắng/ ngơ ngác này ngác ngơ (Sơn La).

Trang 30

Trong mỗi chuyến đi thực tế đó ông lại ghi lại những cảm xúc, những dấu ấnqua những trang thơ của mình Ở thănh phố Cảng, ngoăi sự hoănh trâng, dữ dội,

nhă thơ còn phât hiện nĩt dịu hiền, cần mẫn đầy âm ảnh: Hải Phòng vệt biển trần tay vẫy/ những con câ ươn người trơn nhẫy đím/ những cô bĩ vừa tự tin vừa

hoang mang vật vờ như song/ em - bỗng - chiều - biệt - tan (Hải Phòng).

Văn Công Hùng lă chăng thi sĩ đa cảm Không chỉ nhớ người ở Huế mẵng còn nhớ người ở Đă Lạt, Nha Trang, Côn Đảo, Krông Pa Dường như, nơinăo nhă thơ dừng chđn lă nơi đó có bóng hình của em Như vậy, hình tượng emđđu phải chỉ lă bóng dâng thực của một giai nhđn mă còn lă năng thơ của thi sĩ

Em trở thănh nỗi niềm để nhă thơ băy tỏ tấm lòng của mình trước những vẻ đẹp

của đất nước, của từng vùng miền: tôi với em với sông Hương/ với bông lựu đỏ với vương vấn chiều/ với nhănh cỏ tím phiíu diíu/ với mđy thănh nội với điều

vu vơ/ với mùa phượng chây tình cờ/ mùa thu như thể nắng vừa trôi qua (Mùa thu như thể nắng vừa trôi qua).

Hay:

Có một Kom Tum trong nỗi nhớ

để tđm tưởng tôi về

để tôi sống với em bín kia đầu nỗi nhớ

em trở thănh đau đâu của đời tôi

(Có một Kom Tum trong cõi nhớ)

Nơi năo trín dải đất hình chữ “S” cũng lă nơi gắn bó thđn thiết với ôngnín ông hay lăm thơ về câc địa danh như lă để lưu dấu một kỉ niệm, một câi tín

(Ta về Đă Lạt, Đím KrôngPa, Lục bât côn Đảo, Một thoâng lăng sen, Ghi ở Nha Trang, Chiều nay Đă Lạt, Về Tuy Hòa thăm bạn…).Thơ Văn Công Hùng

luôn in dấu những nẻo đường ông đê đi qua Chỉ cần trông văo tín băi, người tacũng có thể thấy được ông đê đặt chđn ở đđu Chỉ những đến vă đi, chia tay văgặp gỡ nhưng đều để lại cho ông những cảm xúc riíng khó diễn tả

Nhớ về những gì đê qua, những người đê khuất dường như lă thói quencủa nhă thơ Với người Việt đó lă một biểu hiện của giâ trị tinh thần, một nĩtđẹp văn hóa Câi tôi nhỏ bĩ của tâc giả khi đối diện với hiện thực cuộc sống đêthấm thía chiím nghiệm:

mẹ mất rồi mới thấy mình giă

Trang 31

không còn nơi để dựa

những buổi chiều hoang hoải

ngóng vào đâu vào đâu…

giờ con thấm nghĩa mồ côi

con đã non sáu chục

những buổi chiều ân hận

chân trời mướt mải cát bay…

(Chân trời mẹ)

Tác giả thương nhớ mẹ, đặc biệt khi “mẹ sẽ có một giấc mơ đẹp và dài”, khi mẹ sắp “về với ba, ba đợi lâu rồi” thì mọi ký ức về mẹ hiện lên trong tâm trí nhà thơ thật cảm động biết bao: ta lớn lên thì mẹ bé lại/ vòng vọng những buổi chiều tựa cửa chờ con/ cả hai đứa con trai ngun ngút lớn/ một thời mơ cơm

trắng thịt kho (Mẹ).

Vẫn chung một mạch nguồn cảm xúc ấy, nhà thơ lại khắc khoải một nỗi

niềm với ba: nén hương thắc thỏm nhạt nhòa/ con châm lửa thắp khói và cát bay/ nửa đời ngang dọc lắt lay/ chiều nay run rẩy cuối ngày đầu năm/ bàn tay

xoắn nỗi lặng thầm/ cuối đầu chớp một xa xăm kiếp người (Trước mộ ba chiều

ba mươi).

Tình yêu là cái đẹp mang giá trị tinh thần to lớn, nó đòi hỏi người trongcuộc phải có những phẩm chất cơ bản để biết nhận diện và nuôi dưỡng nó Tácgiả tự thắp sáng niềm tin trong tâm tưởng mình, ông đã nhận ra bến đỗ của trái

tim mình là vợ, để đi đến triết luận: Có những lúc trốn xô bồ anh về tựa vào em/ như con tàu viễn dương thả neo bám vào đất mẹ/ cuộc đời lặng thầm, cuộc

đời gào thét/ trở về bên em ta trở lại chính mình (Vợ).

Những giá trị tinh thần làm nên cái đẹp cho người và cho đời vốn đã rấtđáng quý Khi được Văn Công Hùng đưa vào thơ với một chút suy tư, triết lýchúng càng trở nên sâu sắc hơn, giá trị của chúng trở nên sâu sắc hơn

2.2.2 Triết luận về vẻ đẹp của thiên chức nghệ sĩ

Bên cạnh việc phát hiện những nét đẹp có tính khách quan, Văn CôngHùng cũng thường nhận ra và bàn luận về những thiên chức của người nghệ sĩ

Đó là những cái thuộc về bản năng trời phú riêng cho giới làm nghệ thuật Nhàthơ luận về nó khá sắc sảo

Trang 32

2.2.2.1 Nghệ sĩ là người luôn trắc ẩn, chất vấn bản thân và cuộc đời

Trong hành trình nhận thức hướng đến cuộc sống - con người, nhà thơ bộc

lộ một tâm thức nhiều trăn trở Nó sinh động, ngẫu nhiên như một lời tự thútrước bản thân trước cuộc đời Nghệ sĩ là người luôn để tâm hồn mình bị layđộng Nhưng hơn nữa nghệ sĩ còn tự thôi thúc mình hãy đi tìm những rungđộng, nhất là trước những gì mong manh, bé nhỏ, khó nhận biết trong đời Ởđây, chúng tôi muốn nói đến tính chủ động đi tìm cái đẹp của người nghệ sĩ Vìchủ động tìm kiếm những rung động nên tâm hồn nghệ sĩ vốn không yên lạithêm nhiều lần không yên, thêm nhiều lần trắc ẩn

Nhà thơ khẳng định dứt khoát: Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt/ Dù

không còn gì để khóc với nhau (Vẫn phải tin vào những giọt nước mắt).

Có lúc tác giả lại đi đến bộc bạch: Những nhà thơ suốt đời mơ mộng…/ Kẻ

rót lửa vào thơ, người rót thơ vào lửa/ Chỉ nỗi buồn cứ mãi chung nhau (tự bạch của một thời).

Đến cách diễn đạt bất ngờ, thú vị: Thơ cho đời cho bạn cho tôi/ có chút đắng khé lòng nổi trôi thân phận/ có tí ti ngọt ngào nụ hôn tình ái/ có vầng

trăng bạc phếch ở trên đầu (Thơ trong chiếu rượu).

Những câu thơ như thế, nếu liên kết lại sẽ thấy được tâm thức thi ca của

Văn Công Hùng “Đó phải chăng là sự vắt cạn sinh lực trong từng niềm vui, nỗi buồn của nhân gian mới mong góp nhặt đem về cho thơ những gì đồng nghĩa với lửa, với nỗi khắc khoải đê mê trong đau đáu phận mình, phận đời?

Và như thế thơ mới trở thành có ích” [28].

Bằng cái tôi chiêm nghiệm, chất vấn, Văn Công Hùng độc thoại trước hếtvới chính mình và hướng đến được cùng giãi bày với người đọc qua những ảnhhình của cuộc sống Bởi vậy, thơ ông đi vào lòng người nhẹ nhàng mà sâu lắng

Nó như thuộc về bản năng của người nghệ sĩ có trái tim lớn, chứa đựng nhiềutâm trạng, cảm xúc, nhà thơ phải phân thân thành nhiều người để bộc lộ các sắcthái, tình cảm, niềm vui, nỗi buồn của nhiều số phận:

có những lúc ta là ta xa lạ

ta như là phiên bản của ta thôi

ấy là lúc soi vào ảo ảnh

Trang 33

thấy ta là ai của ngày xưa…

(Có những lúc)

Nhiều lúc nhà thơ lặng lẽ đem bản thân mình ra làm đối tượng cho mìnhchiêm cảm, thổn thức cùng nỗi đau của bản thân, nhặt nhạnh từng mảnh mìnhrơi vãi, từ đó ông chất vấn cuộc đời Ông không né tránh cái tôi thực của mình,

tự tâm để nó bơi giữa dòng nước ngược, thoải mái thốt lên những điều đang dày

vò nó với những cảm xúc lạ hay là những cảm xúc dồn nén, kìm kẹp trái timnhà thơ Với Văn Công Hùng, trạng thái tình cảm đó được dồn nén vào từngcâu chữ, quy tụ được triết luận về cuộc sống mà nhà thơ gửi gắm:

những con chữ xếp hàng chạy trốn

gã tiều phu ngơ ngác cửa rừng

chân trời muộn quả sim già chát

ôi trời nào xanh mắt đa đoan

(luận đề chữ)

Những triết lý này có sức khái quát khá cao Nó chính là sự thật ở đời màđôi khi người thường chúng ta dễ dàng bỏ qua hoặc nhận ra nhưng không nóiđược thành lời và chẳng để ý mấy Văn Công Hùng còn có những vần thơ gửicuộc đời, gửi con người:

đã rằng người ở miền đêm

như con sóng trắng vỗ mềm nỗi đau

đời là một trắng bông lau

gió mạnh thì nát, gió nhàu thì xơ

(Thả gió vào chùa)

Và rồi, ông nghiệm ra, thơ vẫn là những gì lắng lại sau tất cả, dù vinh hoaphú quý hay những bức bối thường nhật của cuộc đời Văn Công Hùng đi đếntriết luận nỗi buồn rồi sẽ qua, niềm vui rồi sẽ đến:

Thì ra cuộc đời

Không thôi xáo trộn

Tưởng gặp niềm vui

Nỗi buồn lại tới

Và khi không đợi

Trang 34

Niềm vui lại về

(Không đề)

Cuộc đời không chỉ có trật tự Cuộc đời còn đầy rẫy những biến động đếnbất ngờ Nỗi buồn, niềm vui có khi vụt đến khiến ta bất ngờ không sao hiểuđược Và đó là cái bí ẩn của cuộc đời, là cái thú vị của cuộc đời

Tăng cường tính triết luận vào thơ đã tạo được nét riêng biệt làm nênphong cách thơ Văn Công Hùng Nhà thơ cảm nhận được sự ngắn ngủi của đờingười trong dòng chảy không cùng của thời gian Sự sống con người ngỡ ra làthoáng chênh vênh, mơ hồ Cũng từ đó, nhà thơ ngộ được giới hạn của đờingười Đọc thơ ông, ta nghe trong đó thời gian lưu chuyển có cả niềm tiếc nhớcái đã qua:

cứ tưởng chỉ còn mười ba năm tro bụi

nụ hôn xưa

mãi mãi là dĩ vãng

trong ngọt ngào chua xót của cuộc đời

(dĩ vãng)

Không chỉ triết lý về “dĩ vãng”, tác giả đầy khắc khoải khi đặt giá trị niềm

tin trước đời sống Làm thế nào để đủ niềm tin? Là câu hỏi trở đi trở lại, ôngloay hoay đi tìm lời giải Bước vào bức tranh xã hội muôn màu trong thơ ông,

ta thấy cái tôi thế sự rát bỏng ước vọng, niềm tin nhưng nhiều nỗi boăn khoăn

muốn đi tìm lời đáp: Sẽ đi về đâu hàng chục nghìn linh hồn vô tội/ những cặp đang yêu nhau/ những đôi vợ chồng đang ngủ/ những cuộc làm tình dang dở/ những thiếu nữ tròn căng ánh sáng/ những đứa bé lẫm chẫm tới trường / tất cả

đang chung một chiếc cầu mỏng mảnh/ thiên đường đấy ư? (Viết cho bóng tối).

Đọc thơ Văn Công Hùng ta thấy, những điều nhỏ bé tầm thường nhất trongcuộc sống cũng được ông viết thành thơ, khái quát thành một triết lý, qua đóbày tỏ quan điểm của người cầm bút Đó là trạng thái chông chênh, nhức nhốicủa nhà thơ về niềm tin khi đứng trước các giá trị chuẩn mực bị “đổ ngã” hayvẫn chưa được xác tín khi con người chưa thích ứng với đời sống cơ chế mớicủa cuộc sống hiện đại:

giá mà nói được

đói

Trang 35

giá mà kêu được

đau

giá mà cựa được

nặng

con chuồn chuồn xệ cánh đám cỏ non mịt mù

rối tấm phơ hoa dâm bụt vòi vòi

Mặc dù tự chiêm nghiệm về bản thân, phô diễn mọi góc khuất của cái tôibản thể, song cái tôi trữ tình trong thơ Văn Công Hùng rất tinh tế, nhạy cảm,tha thiết niềm lạc quan tin tưởng cuộc đời Thơ ông hé lộ cho độc giả thấy mộtmầm sống rất mạnh mẽ đang trỗi dậy, hướng đến tình yêu, tình đời và tìnhngười Mầm sống ấy tuy mỏng manh, nhỏ bé nhưng mang trong mình nội lựcsống bền bỉ và mãnh liệt:

Giọt sầu rồi sẽ vơi

Giọt vui rồi sẽ tới

Duỗi chân chờ ngày mai

Một thoáng trần thư thái

(Bất chợt chiều)

Nói chung, càng đi sâu vào thế giới thơ Văn Công Hùng, người đọc càngkhám phá thêm những miền tâm trạng mới, làm phong phú thêm chất lượngtâm hồn người:

Trang 36

từ trái tim không bao giờ hoang phế

âm thầm lưu một ngọn thông già

bâng bấc gió

thả hy vọng về nhau…

(Nào những hy vọng về nhau)

Với Văn Công Hùng, thơ có lẽ được xem là bức chân dung tự họa đầy đủ

và sinh động nhất về một người thơ “hát rong”, phiêu lưu cùng trời đất giótrăng, nhưng chất đầy trong tim những mối suy tư, trăn trở, chiêm nghiệm vềđời tư thế sự Thơ ông không hoa mỹ, không gây hấn, không ồn ào, đặt biệtkhông chảy tràn xúc cảm mà thường là những ưu tư Nhưng sau những ưu tư làniềm mong mỏi được bình yên, được thấy đời nhẹ nhàng và thanh thản Vậynên cả hai đồng hiện trong thơ ông là một điều tất yếu Điều đó khiến ta thêmtrân trọng và yêu thương những vần thơ đa mang, nặng nợ với đời của nhà thơ

2.2.2.2 Nghệ sĩ là người mãi dấn thân trên con đường dung hòa giữa hiện đại và truyền thống

Người nghệ sỹ khác với người bình thường ở khả năng thiên bẩm trongquan sát, tái hiện và sáng tạo Trong đó, sự cảm thụ, rung động, nắm bắt để điđến sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ là một sự thai nghén, cất giấu âmthầm để đến một lúc nào đó bừng tỉnh Nghĩa là ở mọi lúc, mọi nơi nghệ sĩ luônmang trong mình sự “day dưa” thầm kín với thế giới xung quanh Sự “day dưa”đạt đến một mức độ nào đó sẽ tạo ra một nhận thức bất chợt giúp nghệ sĩ cảmthụ hoàn hảo thế giới dựa trên việc khám phá chiều sâu bản thể của nó Điều đógiống như một phép màu trong hành trình chiếm lĩnh thế giới một cách trọnvẹn, có chiều sâu và đầy cá tính của người nghệ sĩ Đó là con đường sáng tạonghệ thuật

Có thể nói yếu tố sáng tạo, đổi mới là một trong những yếu tố quyết định

sự tồn vong của nghệ thuật Những nỗ lực cách tân, đổi mới của các nhà văn,nhà thơ là điều đáng trân trọng, đáng được ghi nhận Đó là ý hướng, khát khaocủa của những người thực sự muốn đưa văn chương Việt Nam bứt phá khỏinhững vòng quay cũ kỹ, gia nhập vào nhịp sống văn chương hiện đại của thếgiới Trong nỗ lực cách tân, đổi mới thơ Việt sau 1975, chúng ta đã chứng kiếnmột sự thay đổi hết sức đa dạng, phong phú từ phong cách đến giọng điệu Văn

Trang 37

Công Hùng là một trong những nhà thơ đang nỗ lực với sự cách tân ấy Ông đãmang đến những vần thơ vừa truyền thống vừa hiện đại Không giống các nhàthơ khác như: Dương Tường, Lê Đạt, Hoàng Hưng họ làm mới thơ mình bằngnhững chuỗi hình ảnh tân kỳ, bằng những thủ pháp đồng hiện, cắt dán, biểutượng xa lạ tiếp nhận từ phương Tây, Văn Công Hùng lại chọn cho mình mộthướng cách tân khác: cách tân trên chính cái nền truyền thống, cách tân nhưngvẫn lưu giữ cái chất “chân quê” Có thể cảm thấu những vần thơ song hànhtruyền thống - hiện đại ấy qua những khía cạnh: Hiện đại trong cái nhìn, cảm

xúc, tư duy Miên Di đã nhận xét về thơ Văn Công Hùng: “Anh lựa chọn giữ lại những cái cũ linh diệu chỉ ở mức độ “ôn cố” và chủ động kiềm chế cái chất đương đại vừa vặn ở mức độ “tri tân” ”[09] Thật vậy, chúng ta dễ thấy được

thơ ông vẫn là nơi nương mình của những đề tài quen thuộc, của những vấn đề

đã bao lần khắc chạm vào tâm trí của người tiếp nhận: là thiên nhiên, là tìnhyêu, là nỗi buồn, là trống vắng,… Song, sự cảm thụ của người đọc sẽ không trảimình trên một lối mòn nhàm chán bởi thơ ông vẫn mang đến những cái nhìn,những xúc cảm mới mẻ Ông viết về thiên nhiên và thổi vào nó một ngọn gió

mới: Gió dã quỳ hoang dại tuổi thơ tôi/ thổi thăm thẳm xa xưa miền cổ tích/

miên man cao nguyên xanh màu u tịch/ sắc vàng nào lưu luyến cỏ bazan…(Gió

dã quỳ).

Đó là sự chuyển tải tinh tế những suy nghĩ, tâm tính, cách nhìn nhận củangười hiện đại trước những vấn đề tựa như đã cũ Khi viết về thời gian, vần thơông xuất phát từ chính cái nhìn vào sâu thẳm bên trong, từ sự lắng nghe những

âm vọng của đời sống qua những nhịp gõ thổn thức rất riêng nơi cái tôi nhà thơ:

đứng đây tượng hát một ngàn lời yêu

chiều ơi chiều

chiều ơi chiều

cho tôi cùng hát tình yêu một đời

Trang 38

(tượng mồ)

Tứ của bài thơ thật lạ Đó không còn là cái tình vội vàng, gấp gáp, cái khátkhao mạnh mẽ trước bước chuyển của thời gian trong thơ Xuân Diệu, không lànhững màu sắc biểu trưng, hỗn độn, phức tạp của thời gian trong thơ Đoàn Phú

Tứ mà là ước vọng hòa vào thời gian của một cái tôi Thời gian vẫn cứ lưuchảy, vẫn dồn hết sức mạnh của mình để “rót” đi những ngày cũ, những nét đẹp

xưa, những nỗi niềm quá vãng Tôi vẫn cứ thản nhiên, vẫn cứ hân hoan “cho tôi cùng hát tình yêu một đời” Tôi dấn mình, chủ động hóa thân vào chính thời gian để cảm nhận tất thảy, để làm mới chính mình, hồn mình.

Không là sự mãnh liệt, là khát cháy, cũng chẳng phải là tiếng lời giản đơn,mộc mạc mà đó là một câu chuyện tình yêu được diễn đạt bằng một khoảnhkhắc của những con chữ Ngòi bút tỉnh táo, trí tuệ của ông khi hướng đến tìnhyêu, nó lại mang đến cho người đọc những xúc cảm mới lạ:

Hay: ta uống vào mình cơn khát ngày xưa/ để yêu em vạn năm không đợi

tuổi (Cao Nguyên tháng ba).

Tình yêu luôn là địa vực khuấy động trí nghĩ, xúc cảm của muôn thuở conngười, là vỉa tầng cảm hứng kêu gọi ngòi viết khai mở của biết bao nhà văn,nhà thơ.Với tác giả, tất cả mọi thứ rồi sẽ trôi đi, qua đi nhưng tình yêu thì còn

mãi Vì thế ông đi đến triết luận: Mà vĩnh hằng tình yêu; để yêu em vạn năm không đợi tuổi Những gì người nghệ sĩ viết ra có để lại được ấn tượng đối với

người thưởng thức hay không, điều đó phụ thuộc vào sự sáng tạo, nét riêng độcđáo trong cách cảm, cách nhìn của người viết Văn Công Hùng đã làm mới thứtình cảm muôn thuở ấy

Nói thơ Văn Công Hùng cách tân trên nền truyền thống không có nghĩamọi hình tượng, điểm nhìn đều thiên vị với cái rõ ràng, cái chân thật, cái chấtquê của truyền thống mà thơ ông còn dung chứa những phần mở ảo tâm linh,còn sử dụng cả màu sắc tượng trưng, siêu thực:

Trang 39

nam mô sóng vỗ mạn thuyền

lá răm cay xuống cửu tuyền vẫn cay

nhón về một vẻ cầu may

thấy con nhện bạc lăn quay giữa trời

(gió đưa cải ngồng lên chùa)

Thơ ông khai mở con đường đi vào vùng mờ tâm linh nhưng ngòi bút củaông không bị vô thức xoay vần mà đó là điểm tựa để khơi sâu, để mở rộngkhông gian thơ, để triết lý một cách trọn vẹn hơn cuộc đời, cõi người:

Tôi vay của đất một giờ

tôi vay của gió một tờ thiên thu

trả tôi về giữa sương mù

chồn chân ngựa đá âm u ráng tà

ta bà ta bà ta bà

A Di Đà Phật tôi và bóng tôi…

(Vay và trả)

Có thể thấy những vần thơ của Văn Công Hùng vẫn không xa lạ khi bút

thơ ông đã ít nhiều ghé đến địa vực siêu thực bởi: “nếu có đọc thơ Tây cũng là một cách mở rộng, tham bác cho cái chất nhà quê vừa gắn với cổ điển, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện đại” [58, 8] Nhà thơ đã đáp ứng được “nhu cầu hiện

đại” của người thưởng thức bởi trong quá trình sáng tạo, ông đã cảm bằng tâmhồn, đã nhìn bằng đôi mắt của những con người đương thời

Văn Công Hùng đã kết hợp hiện thực và lãng mạn, giữa tính dân tộc và hiệnđại làm cho thơ của ông vừa gần gũi, thân quen vừa mới lạ, hấp dẫn Thơ ôngkhông thể viết nhanh, viết ồn ào nhưng thơ ấy cũng không đẽo gọt theo lối duy

mỹ Mà ông luôn hướng ngòi bút đến những cách tân mới lạ Dù cho sáng tác theothể thơ nào ông vẫn nuôi giữ được niềm mê đắm thi ca và khát khao đổi mới

2.2.3 Triết luận về vẻ đẹp của tâm hồn tri ân

Tâm hồn tri ân là một biểu hiện của cái đẹp mà Văn Công Hùng nhắcnhiều ở trong thơ Ông tri ân người yêu, tri ân người làm nghệ thuật, tri ân với

cả bản thân và cuộc đời Những dòng thơ là lời cảm ơn chân thành và sâu sắcvới những gì đã qua và chưa tới Tri ân là lẽ sống của nhà thơ

2.2.3.1 Tình yêu là sự tri ân với đất nước và cuộc đời

Trang 40

Văn Công Hùng là người hay nghĩ nên thơ ông cũng giàu chất ưu tư Ôngchẳng mấy khi để cho tâm trí được rảnh rang, dù có những lúc ta thấy nhà thơvui nhưng cũng là niềm vui của sự ưu tư, trắc ẩn.

Tác giả viết về một bông hoa, một cơn mưa, một mùa thu, một thành phố,một người thân quen,… tất cả đều mang dấu ấn của sự nghĩ suy, chiêm nghiệm.Đọc thơ ông không dễ dàng gì nhưng đã đọc được rồi thì thường thấy thấm thía

Trần Thị Vân Dung nói về điều này: “Thơ Văn Công Hùng là hành trình chiêm nghiệm, triết lý có ý nghĩa sâu sắc, thể hiện một sự nhạy bén trong tầm nhìn…”[12, 69].

Đất nước đau thương khi bóng đen của kẻ thù xuất hiện, đó cũng là khi tâmtrạng của người chiến sĩ có những cảm nhận rất sâu sắc về cuộc chiến tranh Từtrong sâu thẳm tâm hồn họ, hình ảnh Tổ quốc luôn thôi thúc và trở thành niềm tin

để họ ý thức về vai trò của cá nhân mình, về nền độc lập của nhân dân Trong thơChế Lan Viên, Tổ quốc được khẳng định qua những hình ảnh thơ mang tính biểu

tượng đậm chất trí tuệ: Tên Tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi/ Ta đội triệu tấn bom

mà hái mặt trời hồng/ Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại/ Hai chữ Việt Nam

đồng nghĩa với anh hùng (Thời sự hè 72 – Bình luận).

Góc nhìn cá nhân khiến cho những vần thơ về Tổ quốc của nà thơ như mộtmảnh hồn ông và cũng vì thế nặng trĩu tâm tư và suy tưởng Vốn là người nhiềusuy nghĩ, trầm lặng, tác giả viết về Tổ quốc bằng giọng thơ thiết tha sâu lắng.Nhà thơ cảm nhận về đất nước khi trải qua chiến tranh theo cách của riêngmình, đất nước được nhìn từ số phận, từ trải nghiệm cá nhân, nhân danh mỗicon người:

chiến tranh là trò máu xương rẻ nhất chúng

ta cố tránh như đang tránh dịch sởi nhưng

nếu chúng ta không còn cách nào khác nếu

không có con đường nào khác…

(Tổ quốc của tôi)

Là thế hệ trưởng thành trong chiến tranh, bằng một giọng thơ không khoatrương, nhà thơ đã viết lên bằng tất cả lòng chân thành của một con người, VănCông Hùng hiểu và thấm thía những đau thương, mất mát không gì có thể bùđắp được Cảm xúc về đất nước trong chiến tranh, thơ ông hướng về những số

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Aritxtốt (1964), Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aritxtốt
Nhà XB: NXB Văn hóa nghệ thuật
Năm: 1964
[2] Arnauđốp.M (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: Arnauđốp.M
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1978
[3] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 1999
[4] Lại Nguyên Ân (1999),(Biên soạn với cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường) Từ điển Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX ), Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt Nam (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX )
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
[5] Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000 (chuyên luận), NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
[6] Phạm Quốc Ca (2002), “Ý thức cá nhân trong thơ trữ tình Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Văn học, số 12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức cá nhân trong thơ trữ tình Việt Nam sau1975”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Năm: 2002
[7] Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000 (chuyên luận), NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
[8] Nguyễn Huệ Chi (1993), Mấy vẻ đẹp thi ca Việt Nam, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ đẹp thi ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1993
[9] Nguyễn Văn Dân (1998), Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[10] Nguyễn Văn Dân (1998), Lý luận và so sánh, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1998
[11] Miên Di (2010), Lục bát Văn Công Hùng – rơi ngang một giọt không tên, http://www.miendi.com/2010/luc-bat-van-cong-hung-ngang-mot giot Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lục bát Văn Công Hùng – rơi ngang một giọt không tên
Tác giả: Miên Di
Năm: 2010
[12] Trần Thị Vân Dung (2012), “Thơ Văn Công Hùng nhìn từ hình tượng cái tôi trữ tình chiêm nghiệm - triết lý”, Tạp chí sông Hương, số 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Văn Công Hùng nhìn từ hình tượng cái tôi trữ tình chiêm nghiệm - triết lý”, "Tạp chí sông Hương
Tác giả: Trần Thị Vân Dung
Năm: 2012
[13] Trần Thị Vân Dung (2012), Thế giới nghệ thuật thơ Văn Công Hùng, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật thơ Văn Công Hùng
Tác giả: Trần Thị Vân Dung
Năm: 2012
[14] Chử Anh Đào (2000), “Có một thời lưu luyến”, Gia Lai cuối tuần, ngày 22/22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có một thời lưu luyến”, "Gia Lai cuối tuần
Tác giả: Chử Anh Đào
Năm: 2000
[15] Nguyễn Thị Anh Đào (2007), Đọc tập thơ Gõ chiều vào bàn phím của Văn Công Hùng, báo Đà Nẵng cuối tuần, 18/01/2007,http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=4022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc tập thơ Gõ chiều vào bàn phím của VănCông Hùng
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Đào
Năm: 2007
[16] Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (tái bản lần 1), NXB Khoa hoc xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa hoc xã hội Hà Nội
Năm: 2000
[17] Trần Bá Đệ (1982), Lịch sử Việt nam từ 1975 đến nay, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt nam từ 1975 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1982
[18] Phan Duy Đồng (2004), “Cảm nhận trong mưa của Văn Công Hùng”, Báo Gia Lai, ngày 11,2,2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận trong mưa của Văn Công Hùng”, "Báo Gia Lai
Tác giả: Phan Duy Đồng
Năm: 2004
[19] Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
[20] Hà Minh Đức (chủ biên) (1991), Trao đổi ý kiến: Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi ý kiến: Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w