Nhiều nơi ban tổ chức lễ hội đã có biển cấm cắm nhang, rải tiền nhưng chính những chỗ đó lại là nơi người ta cắm nhang, rải tiền nhiều nhất.. Thậm chí, có người đi hội nếu chưa nhét tiề[r]
Trang 1SỞ GD & ĐT HẢI PHÒNG ĐỀ THI GIỮA KÌ II MÔN NGỮ VĂN 10 TRƯỜNG THPT MẠC ĐĨNH CHI NĂM HỌC 2016-2017
( Thời gian 90 phút không kể giao đề)
Đề 1
I.Đọc hiểu ( 3 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
Dòng sông mới điệu làm sao,
Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha
Trưa về trời rộng bao la,
Áo xanh sông mặc như là mới may
Trời chiều thơ thẩn áng mây,
Cài lên màu áo hây hây ráng vàng
Đêm thêu trước ngực vầng trăng,
Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên
( Trích thơ Nguyễn Trọng Tạo)
a.Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên?( 0,5đ)
b Trong đoạn thơ biện pháp tu từ nào được sử dụng nhiều nhất? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó? ( 1,0đ)
c.Giải thích nghĩa của từ “điệu” trong câu thơ: “Dòng sông mới điệu làm sao”( 0,5đ)
d Đặt nhan đề cho đoạn thơ? Nêu ít nhất hai giải pháp để giữ mãi được vẻ đẹp của những dòng sông?( 1,0đ)
II Làm văn ( 7 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
Khách có kẻ :
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,
Nơi có người đi, đâu mà chẳng biết
Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết
Bèn giữa dòng chừ buông chèo,
Học Tử Trường chừ thú tiêu dao
Qua cửa Đại Than, ngược bến Đông Triều,
Đến sông Bạch Đằng, thuyền bơi một chiều
Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời: một sắc, phong cảnh: ba thu,
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy, gò đầy xương khô,
Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
( Trích Phú sông Bạch Đằng- Trương Hán Siêu, sgk Ngữ Văn 10 tâp 2)
Trang 2SỞ GD & ĐT HẢI PHÒNG ĐỀ THI GIỮA KÌ II MÔN NGỮ VĂN 10 TRƯỜNG THPT MẠC ĐĨNH CHI NĂM HỌC 2016-2017
( Thời gian 90 phút không kể giao đề)
Đề 2
I.Đọc hiểu ( 3 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Lễ hội là nơi hội tụ những nét văn hóa truyền thống, đặc trưng của một vùng Ngày
xưa đi lễ hội, người ta đều có tâm niệm cầu cho sự siêu thoát của những người đã khuất
và cầu sức khỏe, may mắn cho gia đình, bạn bè, cầu cho quốc thái dân an Người ta đi lễ hội còn để gặp gỡ, giao lưu đàm đạo chuyện thơ phú; trai gái gặp gỡ, tâm tình chứ không chỉ đơn giản là đi hội vì tâm linh Đấy là một nét đẹp văn hóa của dân tộc, cần phải giữ gìn và nâng niu Còn hiện nay, văn hóa đi lễ hội nhiều khi bị dung tục hóa, thương mại hóa Rất nhiều người lợi dụng dịp du khách tham gia lễ hội đầu năm để trục lợi như ăn xin, bói toán, trông xe, bán lễ lạt với giá cắt cổ, lừa đảo, trộm cắp…
Có những người rải tiền khồng tiếc tay, thậm chí gặp đâu rải đấy, phô trương sự giàu sang do nhiều người nghĩ rải càng nhiều tiền thì phúc lộc sẽ càng đầy Nhiều nơi ban tổ chức lễ hội đã có biển cấm cắm nhang, rải tiền nhưng chính những chỗ đó lại là nơi người ta cắm nhang, rải tiền nhiều nhất Thậm chí, có người đi hội nếu chưa nhét tiền đến tận tay Phật là chưa yên tâm Một số người còn nghĩ tiền có xuất thì Phật mới chứng hoặc bỏ ra một đồng là có thể thu về được nhiều đồng Đó là những cách nhìn nhận sai lệch vì quan niệm của Đạo phật là đến lễ chùa để tìm sự giải thoát, thanh tịnh cho tầm hồn Phúc đức nhận được nhiều hay ít là do con người có tu nhân , tích đức nhiều hay không
( Trích Báo Văn hóa- Thể thao và Du lịch)
a Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên?( 0,5đ)
b Đoạn trích trên đề cập đến vấn đề gì?( 0,5đ)Nhận xét về thái độ của tác giả với vấn đề đó?( 0,5đ)
c Việc đi lễ hội ngày xưa và ngày nay khác nhau như thế nào?( 0,5đ)
d Trình bày 2 ý kiến của bản thân em về cách ứng xử có văn hóa khi đi lễ chùa Đặt nhan đề cho đoạn trích trên?( 1,0)
II Làm văn( 7điểm)
Cảm nhận về đoạn trích sau:
Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập ,thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc
Trang 3Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng
Thằng há miệng , đứa nhe răng, máu mỡ no nê chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa
Nặng nề những nỗi phu phen, tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?
( Trích Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi, sgk Ngữ Văn 10 tập 2)
SỞ GD & ĐT HẢI PHÒNG MA TRẬN ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN 10 TRƯỜNG THPT MẠC ĐĨNH CHI GIỮA KÌ II
NĂM HỌC 2016-2017
( Thời gian 90 phút không kể giao đề)
I Mục tiêu kiểm tra
Trang 4-Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình
học với các phân môn Văn học, Làm văn, Tiếng Việt kì 2 lớp 10
- Khảo sát bao quát một số nội dung kiến thức trong chương trình Ngữ Văn 10 kì II và
đánh giá năng lực đọc hiểu, tạo lập văn bản của học sinh
II Hình thức kiểm tra
- Tự luận
III Thiết lập ma trận
Mức độ
Thông hiểu
Vận dụng
Tổng số
I Đọc hiểu Phương thức
biểu đạt, nội dung
BBptt, tác dung, đặt nhan
đề, giải nghĩa
từ, câu
Cách thức hành động
Số câu :
Số điểm
Tỉ lệ
2 1,0 10%
1,5 1,5 1,5%
0,5 0,5 0,5%
4 3 30%
đoạn trích
Nội dung, nghệ thuật
Làm bài văn cảm nhận về đoạn trích
Số câu:
Số điểm:
1 7 70% Tổng số câu:
Tổng số điểm
Tỉ lệ
3,0 30%
3,5 35%
3,5 35%
2 10 100
%