1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Trái đất

39 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trái đất
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Khoa Học Địa Cầu
Thể loại bài luận
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trái Đất là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời, đồng thời cũng là hành tinh lớn nhất trong các hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời xét về bán kính, khối lượng và mật độ vật chất. Trái Đất còn được biết tên với các tên "thế giới", "hành tinh xanh"[c] hay "Địa Cầu", là nhà của hàng triệu loài sinh vật

Trang 1

Trái Đất

Trái Đất

Bức ảnh " Viên Bi Xanh " nổi tiếng, chụp từ Apollo 17

Đặc trưng quỹ đạo

Trang 2

107.218 km/h

Độ nghiêng quỹ đạo 1°34'43.3" [1]

với mặt phẳng bất biến

Kinh độ của điểm nút lên 348,73936°

Acgumen của cận điểm 114,20783°

Vệ tinh tự nhiên 1 ( Mặt Trăng )

Trang 3

Trái Đất là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời, đồng thời cũng là hành tinh lớn nhất trong các hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời xét về bán kính, khối lượng và mật độ vật chất Trái Đất còn được biết tên với các tên "thế giới", "hành tinh xanh"[c]hay "Địa Cầu", là nhà của hàng triệu loài sinh vật,[10] trong đó có con người và cho đến nay đây là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến là có sự sống Hành tinh này

tỷ năm trước Kể từ đó, sinh quyển của Trái Đất đã có thay đổi đáng kể bầu khí quyển và các điều kiện vô cơ khác, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật ưa khí cũng như sự hình thành của tầng ôzôn-lớp bảo vệ quan trọng, cùng với từ trường của Trái Đất, đã ngăn chặn các bức

đạo, cho phép sự sống tồn tại trong thời gian qua Người ta hy vọng rằng Trái Đất còn có thể hỗ trợ

Bề mặt Trái Đất được chia thành các mảng kiến tạo, chúng di chuyển từ từ trên bề mặt Trái Đất trong hàng triệu năm qua Khoảng 71% bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương nước mặn, phần còn lại là các lục địa và các đảo; nước là thành phần rất cần thiết cho sự sống, chưa từng phát hiện

bọc bởi lớp manti rắn dày, lớp lõi ngoài lỏng tạo ra từ trường và lõi sắt trong rắn

Trang 4

Trái Đất tương tác với các vật thể khác trong không gian bao gồm Mặt Trời và Mặt Trăng Hiện nay, thời gian Trái Đất di chuyển hết 1 vòng quanh Mặt Trời bằng 365,26 vòng nó tự quay quanh trục của

ra sự thay đổi mùa trên bề mặt của Trái Đất trong một năm chí tuyến Mặt Trăng,vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất, đồng thời cũng là nguyên nhân chính của hiện tượng thủy triều đại dương, bắt đầu quay quanh Trái Đất từ 4,53 tỷ năm trước, vẫn giữ nguyên góc quay ban đầu theo thời gian nhưng đang chuyển động chậm dần lại Trong khoảng từ 4,1 đến 3,8 tỷ năm trước, sự va đập của các thiên thạch trong suốt thời kì “Công phá Mạnh muộn” đã tạo ra những sự thay đổi đáng kể trên bề mặt Mặt Trăng

Cả tài nguyên khoáng sản lẫn các sản phẩm của sinh quyển được sử dụng để cung cấp cho cuộc sống của con người Dân cư được chia thành hơn 200 quốc gia độc lập, có quan hệ với nhau thông qua các hoạt động ngoại giao, du lịch, thương mại, quân sự Văn hóa loài người đã phát triển tạo nên nhiều cách nhìn về Trái Đất bao gồm việc nhân cách hóa Trái Đất như một vị thần, niềm tin vào một Trái Đất phẳng hoặc một Trái Đất là trung tâm của cả vũ trụ, và một quan điểm nhìn hiện đại hơn như Trái Đất là một môi trường thống nhất cần có sự định hướng

Trang 5

• 3 Quỹ đạo và chuyển động tự quay

Các nhà khoa học đã có thể khôi phục lại các thông tin chi tiết về quá khứ của Trái Đất Những

Trời đã hình thành từ tinh vân Mặt Trời - đám mây bụi và khí dạng đĩa do Mặt Trời tạo ra Quá

chảy, lớp vỏ ngoài của Trái Đất nguội lại thành chất rắn trong khi nước bắt đầu tích tụ trong khí

chạm sượt qua giữa một vật thể có kích thước bằng Sao Hỏa (đôi khi được gọi là Theia) và

vật thể này đã sáp nhập vào Trái Đất, phần còn lại bắn vào không gian theo một quỹ đạo phù hợp tạo ra Mặt Trăng

Khí thải và các hoạt động của núi lửa tạo ra các yếu tố sơ khai của bầu khí quyển Quá trình ngưng tụ hơi nước gia tăng bởi băng và nước ở dạng lỏng được cung cấp bởi các thiên thạch và các tiền hành tinh lớn hơn, các sao chổi, và các vật thể ở xa hơn Sao Hải Vương tạo ra các đại

Trang 6

đến ngày nay [24] hoặc nhanh chóng phát triển trong quá khứ.[25] Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phương án thứ hai khả quan hơn, với tốc độ phát triển ban đầu nhanh của các lớp vỏ lục

chất, khoảng thời gian hàng trăm triệu năm, bề mặt Trái Đất liên tục thay đổi hình dạng của chính

nó dưới dạng các lục địa hình thành và phân rã Các lục địa di chuyển trên bề mặt, đôi khi kết hợp với nhau để tạo thành một siêu lục địa Khoảng 750 triệu năm trước, một trong những siêu lục địa được biết sớm nhất là Rodinia, đã bắt đầu chia tách Các lục địa sau đó lại kết hợp với nhau để tạo ra Pannotia, 600-540 triệu năm trước, cuối cùng là Pangaea chia tách vào khoảng

Quá trình tiến hóa của sự sống

Người ta tin rằng các chất hóa học giàu năng lượng đã tạo ra các phân tử tự sao chép trong

phép năng lượng Mặt Trời được hấp thụ trực tiếp bởi các dạng sống; và sau đóôxy sản phẩm tích tụ dần trong bầu khí quyển và hình thành tầng ôzôn (một hình thức phân tử khác

hơn dẫn đến quá trình phát triển các tế bào phức tạp gọi là các sinh vật nhân chuẩn

ngày càng trở nên chuyên môn hóa Nhờ tầng ôzôn hấp thụ các bức xạ tia cực tím có hại, sự

Kể từ thập niên 1960, đã có một giả thiết rằng hoạt động của các sông băng trong khoảng từ

750 đến 580 triệu năm trước, trong đại Tân Nguyên sinh, đã phủ một lớp băng lên bề mặt Trái Đất Giả thiết được gọi là "Địa Cầu tuyết", và được đặc biệt quan tâm vì nó tiếp nối giả thiết về sự bùng nổ sự sống trong kỷ Cambri, khi sự sống đa bào bắt đầu tăng trưởng mạnh

một thiên thạch đâm vào Trái Đất, đã gây ra cuộc đại tuyệt chủng của khủng long và các loài

bò sát lớn, nhưng bỏ qua các loài động vật có kích thước nhỏ như các loài động vật có vú,

mà khi đó trông giống như chuột Trong 65 triệu năm qua, các dạng sống máu nóng ngày càng trở nên đa dạng, và một vài triệu năm trước đây thì một loài động vật dáng vượn ở

đẩy giao tiếp cũng như cung cấp các chất dinh dưỡng và các yếu tố kích thích cần thiết cho một bộ não lớn hơn Sự phát triển của nông nghiệp, và sau đó là sự văn minh, cho phép con

Trang 7

người trong một khoảng thời gian ngắn gây ảnh hưởng đến Trái Đất nhiều hơn bất kì một

Các thời kỳ băng hà bắt đầu từ 40 triệu năm trước và phát triển trong suốt thế Pleistocen vào khoảng 3 triệu năm trước Chu kì hình thành và tan băng lặp đi lặp lại trong các vùng cực theo chu kì 40-100 nghìn năm Thời kỳ băng hà gần đây kết thúc vào khoảng 10.000 năm trước.[38]

Tương lai

Vòng đời của Mặt Trời (tỉ năm), từ trái sang:

Bắt đầu - Hiện tại - Nhiệt độ tăng dần - Sao khổng lồ đỏ - Suy sụp hấp dẫn - Sao lùn trắng

Tương lai của hành tinh này có quan hệ mật thiết với Mặt Trời Là kết quả của sự tăng cường nguyên tử heli một cách từ từ trong lõi của Mặt Trời, độ sáng của ngôi sao này đang

từ từ tăng lên Độ sáng của Mặt Trời sẽ tăng 10% trong 1,1 tỷ năm tới, 40% trong 3,5 tỷ năm

của khí này cho đến khi các loài thực vật chết (10 ppm đối với thực vật C4) trong vòng 900 triệu tới 1,2 tỷ năm Sự thiếu hụt các loại cây xanh sẽ tạo ra hiện tượng thiếu ôxy trong bầu khí quyển, khiến cho các loại động vật trên Trái Đất sẽ bị tuyệt chủng hoàn toàn trong vài triệu năm sau đó, sự sống sẽ chỉ còn lại các dạng đơn giản sống trong các túi nước nằm sâu

chủng, chỉ còn các sinh vật nhân sơ còn sống Tới 2,8 tỷ năm sau, nhiệt độ Trái Đất sẽ lên tới 147 độ C ngay cả ở vùng cực, toàn bộ nước trên bề mặt sẽ biến mất và sự sống sẽ hoàn

Trang 8

giảm của các hoạt động núi lửa[44] và 35% nước của các đại dương lặn xuống lớp phủ do quá

Mặt Trời, trong quá trình tiến hóa của nó, sẽ trở thành một sao khổng lồ đỏ trong khoảng 5 tỷ năm nữa Các mô hình cho thấy rằng Mặt Trời sẽ mở rộng, tăng bán kính lên gấp 250 lần

dạng một sao khổng lồ đỏ, Mặt Trời sẽ mất đi 30% khối lượng, khiến cho, không tính đến các ảnh hưởng về thủy triều, Trái Đất sẽ chuyển đến quỹ đạo 1,7 AU (250.000.000 km) so với Mặt Trời khi ngôi sao này đạt đến bán kính tối đa Do đó người ta hy vọng rằng Trái Đất sẽ thoát khỏi được lớp không khí bao quanh Mặt Trời, dù rằng phần lớn, không phải tất cả, các loài sinh vật còn lại cũng sẽ nhanh chóng bị tuyệt chủng khi độ sáng của Mặt Trời tăng lên

của thủy triều và lực hút, làm cho nó bị hút vào bầu không khí bao quanh Mặt Trời và bị phá hủy.[46]

Tính chất vật lý

Trái Đất là một hành tinh đất đá, có nghĩa là nó có cấu tạo đất đá cứng, khác với những hành tinh khí khổng lồ như Sao Mộc Trái Đất là hành tinh lớn nhất trong bốn hành tinh đất đá của hệ Mặt Trời, về cả kích thước và khối lượng Trong bốn hành tinh này, Trái Đất có độ đặc lớn nhất, hấp dẫn bề mặt lớn nhất, từ trường mạnh nhất, tốc độ

Trang 9

Ôxít magiê MgO 4,36%

Hình dạng của Trái Đất rất gần với hình phỏng cầu là hình cầu bị nén dọc theo hướng

quay và khiến cho độ dài đường kính tại đường xích đạo dài hơn 43 km so với độ dài

chiếu vào khoảng 12.745 km, xấp xỉ với 40.000 km/π, mét được định nghĩa bằng

Địa hình các khu vực khác nhau đều có các sai lệch nhất định so với hình phỏng cầu đã được lý tưởng hóa này và nếu xét ở quy mô toàn cầu thì độ lệch này thường rất nhỏ, còn đối với một khu vực nhỏ thì Trái Đất có dung sai vào khoảng 1/584, tức 0,17% so với hình phỏng cầu tham chiếu và nhỏ hơn 0,22% dung sai cho phép đối với các quả bóng bi-da Nơi có độ lệch (độ cao hoặc độ sâu) lớn nhất so với bề mặt Trái Đất là đỉnh Everest (8.848 m trên mực nước biển) và rãnh Mariana (10.911 dưới mực nước biển)

Thành phần hóa học

gồm sắt (32,1%), ôxy (30,1%), silic (15,1%), magiê (13,9%), lưu

Trang 10

huỳnh(2,9%), niken (1,8%), canxi (1,5%), nhôm (1,4%); và các nguyên tố khác 1,2%

Dựa trên lý thuyết về phân tách khối lượng, người ta cho rằng vùng lõi được cấu tạo

bởi sắt (88,8%) với một lượng nhỏ niken (5,8%), lưu huỳnh (4,5%), và các nguyên tố

khác thì nhỏ hơn 1%.[54] Nhà hóa học F W Clarke tính rằng dưới 47% lớp vỏ Trái

Đất chứa ôxy và các mẫu đá cấu tạo nên vỏ Trái Đất hầu hết chứa các ôxít; clo, lưu

huỳnh và flo là các ngoại lệ quan trọng duy nhất của điều này và tổng khối lượng của

chúng trong đá nhỏ hơn 1% rất nhiều Các ôxít chính là ôxít silic, nhôm, sắt;

các cacbonat canxi, magiê, kali và natri Điôxít silicđóng vai trò như một axít, tạo

nên silicat và có mặt trong tất cả các loại khoáng vật phổ biến nhất Từ một tính toán

dựa trên 1.672 phân tích về tất các loại đá, Clarke suy luận rằng 99,22% là cấu tạo từ 11

Cấu trúc bên trong

Phần bên trong của Trái Đất, giống như các hành tinh đất đá khác, chia thành nhiều

lớp dựa trên các đặc tính hóa, lý

tạo riêng biệt nằm trên một lớp chất rắn dẻo Vỏ Trái Đất phân cách với lớp

phủ bởi điểm gián đoạn Mohorovičić, và độ dày thay đổi trung bình 6 km đối

với vỏ đại dương và 30–50 km đối với vỏ lục địa Lớp vỏ và và phần trên cùng

của lớp phủ cứng, lạnh được gọi là thạch quyển, và các mảng lục địa được tạo

trên thạch quyển

đá “mềm”

nhớt cao nhất Những sự thay đổi quan trọng trong cấu trúc tinh thể bên trong

lớp phủ xuất hiện tại độ sâu 410 và 660 km dưới mặt đất, trải qua một đới

chuyển tiếp ngăn cách lớp phủ trên và dưới

trong có thể quay với vận tốc góc hơi cao hơn so với phần còn lại của hành tinh

Trang 11

35–60 Phần trên cùng của manti trên (4) 3,4–4,4

Nhiệt lượng

Nội nhiệt của Trái Đất được tạo ra bởi sự kết hợp của nhiệt dư được tạo ra trong

các hoạt động của Trái Đất (khoảng 20%) và nhiệt được tạo ra do sự phân rã phóng

sự phân rã của các chất phóng xạ, các nhà khoa học tin rằng vào thời kì đầu của

Trái Đất, trước khi số lượng của cácđồng vị phóng xạ có chu kì bán rã ngắn bị giảm

xuống, nhiệt năng sinh ra của Trái Đất còn cao hơn Nhiệt năng thêm này gấp hai

độ của quá trình đối lưu manti và kiến tạo mảng, và cho phép tao ra đá

lượng nhiệt ở lõi được truyền qua lớp vỏ nhờ chùm manti; đó là một dạng đối

lưu bao gồm các đợt dâng lên của các khối đá nóng và có thể tạo ra các điểm

động kiến tạo mảng khi mácma trong manti dâng lên ở các sống núi giữa đại

dương Hình thức mất nhiệt cuối cùng là con đường truyền nhiệt trực tiếp đi

qua thạch quyển, phần lớn xuất hiện ở đại dương vì lớp vỏ ở đó mỏng hơn so với

ở lục địa.[63]

Các mảng kiến tạo

Các mảng kiến tạo chính của Trái Đất[65]

Trang 12

mảng kiến tạo nằm trên quyển atheno (quyển mềm), phần rắn nhưng kém nhớt của lớp phủ trên có thể chảy và di chuyển cùng các mảng kiến tạo, và chuyển động của chúng gắn chặt với các kiểu đối lưu bên trong lớp phủ Trái Đất.

Trang 13

Khi các mảng kiến tạo di chuyển, đáy đại dương bị hút chìm ở rìa của lục địa hay tại ranh giới hội tụ Trong khi đó, sự phun trào mácma ở ranh giới phân

kỳ tạo ra các rặng núi giữa đại dương Sự kết hợp của các quá trình này đẩy lớp vỏ ở đại dương trở lạilớp phủ Bởi quá trình tái chế này, phần lớn đáy đại dương không quá 100 triệu tuổi Lớp vỏ đại dương già nhất là ở tây Thái Bình

Các mảng lục địa khác bao gồm mảng Ấn Độ, mảng Ả Rập, mảng Caribe, mảng Nazca ở bờ phía tây Nam Mỹ và mảng Scotia ở nam Đại Tây Dương Mảng Úc thực chất đã hợp nhất với mảng Ấn Độ trong khoảng từ 50 đến 55 triệu năm trước để tạo thànhmảng Ấn-Úc Các mảng kiến tạo di chuyển nhanh nhất là các mảng đại dương, với mảng Cocos di chuyển với tốc độ

mỗi năm Ở một thái cực khác, mảng di chuyển chậm nhất làmảng Á-Âu, di

Bề mặt

mặt Trái Đất, với phần lớn thềm lục địa ở dưới mực nước biển Bề mặt dưới mực nước biển hiểm trở bao gồm hệ thống các dãy núi giữa đại

các hẻm núi dưới mặt biển, các cao nguyên đại dương và đồng bằng đáy Còn lại 29,2% không bị bao phủ bởi nước; bao gồm núi, sa mạc, cao nguyên, đồng bằng và các địa hình khác

Trang 14

Bề mặt của hành tinh liên tục tự thay đổi theo thời gian dưới tác dụng của các quá trình kiến tạo và xói mòn Các hình thái của bề mặt được tạo nên và biến dạng bởi các mảng kiến tạo liên tục bị phong hóa bởi giáng thủy, các chu trình nhiệt và các tác nhân hóa học Sự đóng băng, sự xói mòn bờ biển, sự hình thành của các dải san hô ngầm, và sự va chạm với các mảnhthiên thạch lớn

Lớp vỏ lục địa bao gồm các vật chất có độ đặc thấp hơn như đá macma granit và andesit Ít phổ biến hơn là bazan, một loại đá núi lửa đặc là thành phần chính của đáy biển.[75] Đá trầm tích được tạo ra do sự tăng số lượng trầm tích và chúng trở nên gắn kết với nhau Đá trầm tích bao phủ gần

ba được tìm thấy trên Trái Đất là đá biến chất, được tạo ra do sự biến đổi của các loại đá trước đó dưới tác dụng của áp suất cao, nhiệt độ cao, hoặc cả hai Các khoáng vật silicat ở bề mặt Trái Đất bao gồm thạch

tác động của các quá trình hình thành đất Nó tồn tại cùng thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển Theo số liệu năm 2009, tổng diện tích đất trồng trọt được chiếm 10.57% tổng diện tích đất bề mặt, với chỉ 1.04% sử dụng

mặt đất thay đổi từ -418 m ở biển Chết tới 8.848 m trên đỉnh Everest và độ cao

Thủy quyển

Trang 15

Nguồn nước dồi dào trên bề mặt đất là đặc điểm độc nhất, giúp phân biệt

“Hành tinh xanh” với các hành tinh khác tronghệ Mặt Trời Thủy quyển của Trái Đất chủ yếu bao gồm các đại dương, nhưng về lý thuyết nó bao gồm

ngầm ở độ sâu tới 2.000 m Khu vực sâu nhất dưới đáy biển là

“Challenger Deep” thuộc rãnh Mariana ở Thái Bình Dương với độ sâu

nước có chứa muối, còn lại 2,5% là nước ngọt và phần lớn nước ngọt,

Khoảng 3,5% tổng khối lượng của các đại dương là muối và phần lớn lượng muối này được đẩy ra từ các hoạt động núi lửa hay tách ra từ đá

hưởng lớn tới khí hậu của cả thế giới và các đại dương có vai trò như

Khí quyển

Trang 16

Áp suất khí quyển trung bình tác dụng lên bề mặt Trái Đất là 101,325

là hơi nước, điôxít cacbon và các phân tử khí khác Độ cao của tầng đối lưu thay đổi theo vĩ độ vào khoảng 8 km ở các vùng cực và 17 km

ở xích đạo, với các sự thay đổi ảnh hưởng bởi các yếu tố mùa và thời tiết.[87]

Thời tiết và khí hậu

Tổng hợp hình chụp vệ tinh địa tĩnh GOES của NESDIS độ phân giải trung bình ( MODIS ) chụp các khu vực bề mặt Trái Đất bị mây bao phủ 11/7/2005

Khí quyển của Trái Đất không có ranh giới xác định, ngày càng trở nên mỏng hơn và loãng vào không gian Ba phần tưkhối lượng của khí quyển tập trung trong khoảng 11 km từ bề mặt hành tinh Tầng thấp nhất này được gọi là tầng đối lưu, ở đây năng lượng Mặt Trời sẽ đốt nóng nó và bề mặt đất làm không khí giãn nở Lớp khí mật độ thấp này bay lên trên, và thay thế vào

đó là lớp khí lạnh hơn, mật độ dày hơn Kết quả tạo ra sự lưu thông không khí, cơ chế thay đổi thời tiết vàkhí hậu thông qua sự phân phối lại nhiệt năng.[88]

Các vành đai lưu thông không khí bao gồm gió mậu dịch ở vùng xích đạo dưới vĩ độ 30° và gió tây hoạt động trong khu vực

Hơi nước được sinh ra thông qua việc bốc hơi bề mặt, được vận chuyển bằng chu trình tuần hoàn trong khí quyển Khi điều kiện

Trang 17

không khí cho phép việc đẩy không khí nóng ẩm lên cao thì lượng nước này ngưng tụ và rơi xuống bề mặt gọi làgiáng thủy Phần lớn lượng nước này lại được vận chuyển trở về nơi bốc hơi, thường là các đại dương hoặc các hồnước, nhờ hệ thống sông ngòi Vòng tuần hoàn nước là một hiện tượng cần thiết cho sự sống và là yếu tố tham gia vào hiện tượng xói mòn địa hình trong suốt các thời kì địa chất Các hiện tượng giáng thủy có khác biệt rất lớn, từ vài mét một năm tới chưa đầy một milimét Sự lưu thông không khí, các đặc điểm địa hình

và nhiệt độ khác nhau giúp xác định lượng giáng thủy trung bình

ở mỗi vùng.[91]

Trái Đất có thể chia thành các đới có khí hậu đồng nhất theo vĩ

độ Từ xích đạo đến các cực lần lượt có các kiểu khí hậu: nhiệt

hậu cũng có thể chia dựa trên nhiệt độ và lượng giáng thủy, với các vùng khí hậu đặc trưng có không khí đồng nhất Hệ thống phân loại khí hậu Köppen (sau này được Rudolph Geiger, học trò của Wladimir Köppen, sửa đổi) chia Trái Đất thành 5 nhóm lớn (khí hậu kiểu nhiệt đới/đại nhiệt, khí hậu khô, khí hậu

ôn đới/ trung nhiệt, khí hậu lục địa/ tiểu nhiệt, khí hậu vùng cực),

Tầng khí quyển trên

Hình ảnh chụp từ trên quỹ đạo cho thấy trăng tròn bị khí quyển Trái Đất làm che mờ một phần Ảnh của NASA.

Phía trên tầng đối lưu, bầu không khí được chia thành tầng bình lưu, tầng trung lưu và tầng nhiệt Mỗi tầng có một tỉ lệ giảm nhiệt

độ theo độ cao khác nhau Phía trên các tầng này, có tầng ngoài mỏng dần đi vào từ quyển Đây là nơi từ trường của Trái

Trang 18

quan trọng cho sự sống là tầng ôzôn, một bộ phận của tầng bình

Dựa trên nhiệt năng, một số phân tử ở rìa ngoài khí quyển của Trái Đất có thể tự tăng tốc độ đến mức chúng có thể thoát khỏi lực hút của Trái Đất Quá trình này diễn ra chậm nhưng không khí vẫn dần dần thoát vào không gian Bởi hiđrô có khối lượng phân

tử thấp, nên chúng có thể dễ dàng đạt tới vận tốc vũ trụ cấp 2 và chúng có tỉ lệ thoát vào không gian cao hơn hẳn các loại khí khác

hóa hiện tại Sự quang hợp là quá trình cung cấp ôxy tự do, nhưng người ta tin rằng sự biến mất của các chất khử như hiđrô

là điều kiện cần thiết cho quá trình tăng lượng ôxy trong bầu khí

quyển giàu ôxy hiện tại, phần lớn hiđrô bị chuyển thành dạng nước trước khi chúng kịp thoát khỏi bầu khí quyển Thay vào đó, phần lớn lượng hiđrô mất đi là từ sự phân hủy

Từ trường

Từ trường của Trái Đất có hình dạng gần giống như một lưỡng cực từ, với các cực từ gần trùng với các địa

được tạo ra trong vùng lõi ngoài nóng chảy của Trái Đất, nơi

mà nhiệt lượng tạo ra các chuyển động đối lưu của các vật chất dẫn điện, tạo ra dòng điện Các dòng điện này đến lượt mình tạo ra từ trường Các chuyển động đối lưu trong lõi rất lộn xộn, chuyển hướng theo chu kỳ Hiện tượng này là nguyên nhân của hiện tương đảo cực địa từ diễn ra định kì một vài lần trong mỗi triệu năm và lần đảo cực địa từ gần đây

Trang 19

Từ trường tạo từ quyển làm lệch hướng các điện tử của gió Mặt Trời "Sốc hình cung" hướng về phía Mặt Trời nằm ở khoảng cách gấp 13 lần bán kính Trái Đất Sự va chạm giữa

từ trường Trái Đất và gió Mặt Trời tạo ra vành đai bức xạ Van Allen, một cặp những vùng tích điện dạng vòng cung đồng tâm hình đế hoa Khi thể plasma xâm nhập vào bầukhí

Quỹ đạo và chuyển động tự quay

Chuyển động tự quay

Chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất

Chu kỳ tự quay của Trái Đất tương đối với Mặt Trời – một ngày Mặt Trời trung bình - vào khoảng 86.400 giây Mặt Trời trung bình Mỗi giây này dài hơn một giây thuộc hệ SI một chút bởi ngày Mặt Trời hiện nay của Trái Đất dài hơn so với thế kỉ 19 do gia tốc thủy triều.[102]

Chu kỳ tự quay của Trái Đất xét từ các định tinh, được IERS

gọi là ngày định tinh, dài 86.164,098903691 giây thời gian

Mặt Trời trung bình (UT1) hay 23h 56m 4,098903691s.[103]

của xuân phân trung bình, bị đặt tên sai là năm thiên văn, dài 86.164,09053083288 giây Mặt Trời trung bình (UT1) hay 23h

hơn ngày định tinh khoảng 8,4 ms.[104]Độ dài của ngày Mặt

giai đoạn từ 1623-2005.[105] và 1962-2005.[106]

Ngoài các thiên thạch trong khí quyển và các vệ tinh quỹ đạo thấp thì chuyển động biểu kiến chính của các thiên thể trên

Ngày đăng: 18/01/2014, 17:33

Xem thêm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình cầu dẹt 0,0033528 [3] - Trái đất
Hình c ầu dẹt 0,0033528 [3] (Trang 2)
Hình dạng - Trái đất
Hình d ạng (Trang 8)
Hình dạng của Trái Đất rất gần với hình phỏng cầu là hình cầu bị nén dọc theo hướng - Trái đất
Hình d ạng của Trái Đất rất gần với hình phỏng cầu là hình cầu bị nén dọc theo hướng (Trang 9)
Đồ thị thể hiện độ cao của bề mặt Trái Đất. Nước bao phủ khoảng 71% bề mặt Trái Đất. - Trái đất
th ị thể hiện độ cao của bề mặt Trái Đất. Nước bao phủ khoảng 71% bề mặt Trái Đất (Trang 15)
Hình ảnh chụp từ trên quỹ đạo cho thấy trăng tròn bị khí quyển Trái Đất làm che mờ một phần - Trái đất
nh ảnh chụp từ trên quỹ đạo cho thấy trăng tròn bị khí quyển Trái Đất làm che mờ một phần (Trang 17)
Hình mô tả vùng trong Hệ Mặt Trời có điều kiện thuận lợi cho phát sinh sự  sống tương ứng với tuổi đời của Mặt Trời - Trái đất
Hình m ô tả vùng trong Hệ Mặt Trời có điều kiện thuận lợi cho phát sinh sự sống tương ứng với tuổi đời của Mặt Trời (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w