Lịch sử hình thành và phát triển bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG... Khái niệmBảng tuần hoàn là một phương pháp liệt kê các nguyên tố hóa họ
Trang 1Lịch sử hình thành và phát triển bảng tuần hoàn các
nguyên tố hóa học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Trang 3Các bảng tuần hoàn khác
05 06
Trang 4Khái niệm
Bảng tuần hoàn là một phương pháp liệt kê các nguyên tố hóa
học thành bảng, dựa theo số hiệu nguyên tử (số proton trong
hạt nhân), số lượng electron và các tính chất hóa học tuần
hoàn của chúng.
Trang 5Mendeleev là ai?
Dmitri Ivanovich Mendeleev (1834 – 1907) là một nhà hóa học và là nhà phát minh người Nga.
Trang 6• Xác định bản chất của những thành phần vô hạn trong dung dịch.
• Phát minh một công thức tương tự định luật Gay - Lussac.
• Được coi là người đưa hệ mét vào sử dụng tại Đế quốc Nga.
• Phát minh ra Pyrocollodion.
Trang 7Bức tượng điêu khắc vinh danh
Mendeleev tại Bratislava, Slovakia Huy chương Mendeleev
Một mẩu bảng tuần hoàn của Mendeleev từ ấn bản trên cuốn sách đầu tiên của ông (1891)
Trang 8Lịch sử hình thành bảng tuần hoàn
Trang 9Điều kiện tiên quyết để xây dựng bảng tuần hoàn là tìm ra
những nguyên tố đơn lẻ
Khám phá đầu tiên về nguyên tố hóa học khi Hennig Brand tìm được Phosphorus (Photpho) vào năm 1649.
Trang 10Năm 1789, Antonie Lavoisier đã công bố danh sách 33 nhóm nguyên tố hóa học
Năm 1817, Johann Wolfgang Döbereiner nhận ra trọng lượng của nguyên tử Sr rơi vào khoảng trọng lượng của Ca và Ba
Năm 1843, nhà hóa học người Đức Leopold Gmelin đã nhận diện được 10 bộ ba, 3 nhóm bộ bốn và 1 nhóm bộ năm
Trang 11Năm 1857, Jean Baptiste Dumas công bố công trình mô tả mối quan hệ giữa các nhóm kim loại khác nhau.
Năm 1857, bảng nguyên tố hóa học đầu tiên của nhà hóa học người Anh William Olding (1829 – 1921) được công bố
Năm 1858, Friedrich August Kekule quan sát thấy rằng carbon có 4
nguyên tử khác liên kết với nó Quan niệm hóa trị hình thành từ
đây.
Trang 12Năm 1864, Julius Lothar Meyer – nhà hóa học Đức, công bố bảng bao gồm 44 nguyên tố xếp theo hóa trị.
Năm 1862, Alexandre Emile Béguyer de Chancourtois – nhà địa chất Pháp, công bố một dạng bảng tuần hoàn sơ khai, mà ông gọi là “đường xoắn teluride”
Trang 13Năm 1865, nhà hóa học người Anh John Alexander Newlands (1838 – 1898) đưa ra
“quy tắc bát bộ”
Năm 1867, Gustavus Hinrichs công bố một hệ thống tuần hoàn xoắn ốc dựa trên phổ và khối lượng nguyên tử,và những tính tương đồng hóa học.
Trang 14Năm 1860, nhà bác học người Nga Mendeleev đã đề xuất ý tưởng xây dựng bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.
Bảng tuần hoàn Mendeleev năm 1869
Bảng tuần hoàn Mendeleev năm 1871
Năm 1869, ông công bố “Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học” đầu tiên với 63 nguyên tố
Năm 1871, Mendeleev quay bảng tuần hoàn một góc 90 độ
so với bản năm 1869 và bảng tuần hoàn đó được sử dụng
đến bây giờ.
Trang 15Quá trình phát triển bảng tuần hoàn các nguyên
tố hóa học
01
02
03
Quá trình phát triển bảng tuần hoàn giai đoạn cuối thế kỷ XIX
Quá trình phát triển bảng tuần hoàn giai đoạn thế kỷ XX
Quá trình phát triển bảng tuần hoàn giai đoạn đầu thế kỷ XXI
Trang 16Quá trình phát triển bảng tuần hoàn giai đoạn cuối thế kỷ XIX
Năm 1871, Mendeleev công bố “hệ thống tự nhiên các nguyên tố chưa được khám phá”
Sau khi bảng tuần hoàn được công bố, Mendeleev còn chừa rất nhiều chỗ trống để thế hệ sau có thể bổ sung thêm các nguyên tố chưa được khám phá.
Ông nêu giả định về nơi và cách tìm ra chúng Ông viết rằng “ekaalumium” có thể “được phát hiện bởi các nghiên cứu quang phổ, và tiếp theo sau đó là indium và tali cũng vậy”.
Trang 17Năm 1875, nhà hóa học người Pháp Paul Emile Lecoq de Bouisbaudran, tìm thấy một nguyên tố mới Ông đặt tên cho nguyên tố mới là Gallium (Ga).
Gallium Paul Emile Lecoq de Bouisbaudran Gallium
(1838 – 1912)
Trang 18Năm 1878, nhà hóa học Jean Charles de Marignac Galissar đã phát hiện ra nguyên tố mới – yttrium (Y).
Yttrium
Jean Charles de Marignac Galissar (1817 – 1894)
Trang 19Năm 1879, Per Teodor Cleve phát hiện ra hai nguyên tố hóa học mới : thulium (Tm) và holmium (Ho).
Năm 1885, Carl Auer von Welsbach cho thấy phát minh
của Carl Gustaf Mosander năm 1838 “didymium”, thực
chất là hỗn hợp của hai nguyên tố là praseodymium (Pr)
và neodymium (Nd)
Cùng năm đó, Lecoq de Bouisbaudran đã tìm ra nguyên tố Samarium (Sm)
Praseodymium Neodymium Carl Auer von Welsbach
(1858–1929)
Trang 20Năm 1886, Lecoq de Bouisbaudran phát hiện thêm hai nguyên tố đất hiếm : dysprosium (Dy) và gadolinium (Gd).
Năm 1886, Clemens Alexander Winkler phân tích hợp kim acgirodit đã tìm
thấy một nguyên tố mới Nguyên tố này được gọi là Germanium (Ge).
Dysprosium
Clemens Alexander Winkler (1838–1904) Gadolinium
Germanium
Trang 21Năm 1894, nhà vật lý học Lord Raleigh sau quá trình nghiên cứu miệt mài cùng bạn mình là nhà khoa học Ramsay
đã đặt tên cho nguyên tố mới là Argon (Ar).
Năm 1868, hai nhà thiên văn học Jules Janssen và Norman Lockyer phát hiện trong quang phổ tán mặt trời một
vạch màu vàng tươi Lockyer đề nghị gọi là Heli (He).
Năm 1895, nhà vật lý học William Crookes và William Ramsay đã xác nhận khí thoát ra từ mẫu Ur và Th khi bị
nung nóng là Helium.
Trang 22Vào năm 1898, William Ramsay cùng với Morris Travers phát hiện ra krypton (Kr), neon (Ne), xenon (Xe)
Vào năm 1899, Ernest Rutherford và Robert B
Owens tại Đại học McGill ở Montreal đã phát hiện
ra radon (Rn) - nguyên tố phóng xạ thuộc nhóm
khí hiếm.
Ernest Rutherford Robert Bowie Owens
Trang 23Heli Neon Argon Krypton Xenon
Nhóm nguyên tố 18 - khí hiếm
Trang 24Năm 1898, Marie Curie và chồng phát hiện ra radi (Ra), vợ chồng bà đã tách được một nguyên tố tương tự như bismuth, sau này là polonium (Po).
Radi
Vợ chồng nhà Curies
Polonium
Trang 25Quá trình phát triển bảng tuần hoàn giai đoạn thế kỷ XX
Trang 26Tháng 2/1900, Mendeleev và Ramsay đã thống nhất thêm nhóm VIIIA - nhóm khí trơ (khí hiếm)
Năm 1901, Eugene Anatole Demarcay tìm
ra nguyên tố europium (Eu).
Đến năm 1913, Moseley tìm ra cách xác định hạt nhân nguyên tử và thấy rằng điện tích hạt nhân trùng với số thứ tự nguyên tố trên bảng tuần hoàn.
Trang 27Năm 1940, Glenn Seaborg tìm ra tất cả các nguyên tố có số nguyên tử cao hơn uranium - là nguyên tố có
số nguyên tử từ 94 đến 97 và 101
Năm 1951, Seaborg đã nhận được giải thưởng Nobel về công trình của ông Nguyên tố thứ 106 đã được đặt tên Seaborgium và tên của tiểu hành tinh 4856 Seaborg.
Trang 28Vào năm 1937, các nhà vật lý học đã chế tạo nguyên tố thứ 43 bằng phương pháp nhân tạo từ các phòng thí nghiệm đặt tên là Tecneti (Tc).
Năm 1939, cũng bằng phương pháp nhân tạo, đã chế tạo ra nguyên tố thứ 87 là Franci (Fr).
Năm 1940, chế tạo nguyên tố thứ 85 là nguyên tố Astatine (At)
Tecneti
Franci Quặng Uranium chứa một lượng nhỏ Astatine
Trang 29Đến năm 1945, người ta tìm thấy nguyên tố Prometi (Pm)
Kể từ năm 1940 trở đi, sau khi chế tạo được nguyên tố Neptuni (Np) – nguyên tố số 93 Thì trong 10 năm người ta đã chế tạo được 6 nguyên tố đó là các nguyên tố: americi (Am), curium (Cm), berkeli (Bk), califoni (Cf), einsteini (Es) và fecmi (Fm)
Trang 30Năm 1970, xuất hiện nguyên tố 105 là nguyên tố Dubni (Db)
Năm 1955, xuất hiện nguyên tố 101 là nguyên tố Mendelevi (Md).
Năm 1966, nguyên tố 102 – Nobeli (No) được các nhà khoa học phát hiện.
Năm 1964, lần đầu tiên người ta chế tạo được nguyên tố số 104 ở Liên Xô, đó là nguyên tố Ruzofoni (Ro)
Năm 1961, chế tạo được nguyên tố 103 là nguyên tố Lawrenci (Lr).
Các nguyên tố từ 101 đến 104 được đặt theo tên những người có cống hiến vĩ đại cho nền khoa học hiện đại Nguyên tố 105 được đặt tên theo
thị trấn Dubna - Nga (nơi đặt viện JINR)
Trang 31Năm 1976, phát hiện nguyên tố 107 – là nguyên tố Bohri (Bh).
Năm 1982, nhóm nghiên cứu người Đức phát hiện nguyên tố 109 – là Meitneri (Mt), năm 1984, nhóm này cũng phát hiện nguyên tố 108 – là Hassi (Hs)
Nguyên tố 106 được phát hiện vào năm 1974, được đặt tên là Seaborgi (Sg).
Các nguyên tố từ 106, 107 và 109 được đặt theo tên những người có cống hiến vĩ đại cho nền khoa học hiện
đại.
Nguyên tố 108 được đặt tên theo bang Hesse - Đức (nơi đặt viện GSI)
Trang 32Năm 1994, tổng hợp được Darmstadtium (Ds) – nguyên tố 110 và Roentgenium (Rg) – nguyên tố thứ 111.
Năm 1996, tổng hợp được Copernicium (Cp) – nguyên tố 112.
Nguyên tố 111 và 112 được đặt tên là những nhà
khoa học để vinh danh họ
Trang 33Quá trình phát triển bảng tuần hoàn giai đoạn đầu thế kỷ XXI
Trang 34Ngày 1/6/2011, chào đón thêm 2 thành viên mới là nguyên tố thứ 114 – Flerovium (Fl) và nguyên tố thứ
116 – Livermorium (Lv)
Flerovium được đặt theo tên của Gregory Flerov -là
giám đốc và nhà sáng lập nên Phòng thí nghiệm
Nghiên cứu Hạt nhân Viện Dubna (Nga)
Nguyên tố 116 được đặt tên là Livermorium để vinh danh thành phố Livermore nơi đặt Phòng thí nghiệm quốc gia
Lawrence Livermore
Trang 35Tháng 6/2016, 4 nguyên tố mới là nguyên tố 113 - Nihonium (Nh), nguyên tố 115 – Moscovium (Mc), nguyên tố 117 – Tennessine (Ts), nguyên tố 118 – Oganesson (Og) được hình thành
của Nga
Nguyên tố 117 – Tennessine (Ts) gợi nhắc đến bang Tennessee
Nguyên tố 118 – Oganesson (Og) nhằm vinh danh Yuri Oganessian – nhà Vật lý người Nga.
Trang 36Cơ sở hình thành bảng tuần hoàn các
nguyên tố hóa học 01
02
Nguyên tắc sắp xếp bảng tuần hoàn
Cấu tạo bảng tuần hoàn
Nhóm nguyên tố Khối các nguyên tố
Trang 37Các nguyên tố có số electron hóa trị trong nguyên tử như nhau được xếp thành một cột.
01 Nguyên tắc sắp xếp
Các nguyên tố có cùng số lớp electron trong nguyên tử được sắp xếp thành một hàng Các nguyên tố được sắp xếp theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân nguyên tử.
Trang 382 Cấu tạo bảng tuần hoàn
Số thứ tự ô = số hiệu nguyên tử của nguyên tố = số đơn vị điện tích hạt nhân = số electron = số proton
Trang 39b Chu kỳ
2 Cấu tạo bảng tuần hoàn
Chu kỳ là dãy các nguyên tố mà nguyên tử của chúng có cùng số lớp e, được sắp xếp theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân.
Trang 40c Nhóm nguyên tố
2 Cấu tạo bảng tuần hoàn
Nhóm nguyên tố là tập hợp các nguyên tố mà nguyên tử có cấu hình e tương tự
nhau do đó có tính chất hóa học gần giống nhau và được xếp thành một cột.
Trang 412 Cấu tạo bảng tuần hoàn
d Khối các nguyên tố
Khối các nguyên tố s : Gồm các nguyên tố nhóm IA và IIA (bao gồm cả hydro và heli).
Khối các nguyên tố p : gồm các nguyên tố thuộc các nhóm IIIA đến VIIIA ( trừ heli).
Khối các nguyên tố d : gồm các nguyên tố thuộc các nhóm IIIB đến IIB.
Khối các nguyên tố f : gồm các nguyên tố thuộc họ Lantan và Actini.
Trang 42Các bảng tuần hoàn khác
Trang 43Bảng tuần hoàn xoắn ốc của Professor Thoedor Benfey
(1964)
Trang 44Bảng tuần hoàn của Alexandre Emile Béguyer de
Chancourtois (1862)
Trang 45Bảng tuần hoàn nguyên tố của John Alexander Reina
Newlands (1865)
Trang 46Bảng tuần hoàn của Julius Lothar Meyer (1870)
Trang 47Bảng tuần hoàn nguyên tố của Gustavus Hinrichs (1855)
Trang 48Bảng tuần hoàn của James Franklin Hyde (1975)
Trang 49Bảng tuần hoàn ADOMAH của Valery Tsimmerman
(2006)
Trang 50Bảng tuần hoàn được cập nhật sau tháng 6/2016 của
IUPAC
Trang 51Mở rộng và phát triển bảng tuần hoàn
trong tương lai
Trang 52Chúng ta hy vọng trong tương lai, với những thiết bị tân tiến hơn, các nhà khoa
học sẽ tìm ra được nhiều nguyên tố hơn nữa