Đá trầm tích Là loại đá được tạo thành trong điều kiện nhiệt động của vỏ trái đất thay đổi.. Đá biến chất Được hình thành từ sự biến tính của đá mácma, đá trầm tích , thậm chí cả từ đá b
Trang 1Địa chất công trình
ĐÁ VÀ NƯỚC DƯỚI ĐẤT
GVHD: CÔ NGUYỄN ĐỨC HỒNG VÂN
Trang 2Bài thuyết trình nhóm 8
NHÓM SVTH:
1 ĐOÀN LÊ THY VĂN
2 HỒ QUỐC TÙNG
3 LÊ THANH TÙNG
4 BÙI LONG VĨ
5 LÊ HÀO VIÊN
6 LÊ ĐOÀN QUỐC VIỆT
7 NGUYỄN HOÀI VINH
8 TRẦN VĂN VINH
9 HOÀNG QUANG VŨ
10 TRƯƠNG XUÂN VƯƠNG
11 NGUYỄN THẾ NGỌC
12 DƯƠNG HOÀNG NAM
Trang 3I Nguyên nhân hình thành thế nằm
của 3 loại đá
1 Định nghĩa
2 Thế nằm
a Đá magma
b Đá trầm tích
c Đá biến chất
II So sánh nước ngầm với nước có áp
III Tác động của nước dưới đất đối
với công trình xây dựng bên trên
Trang 4a Đá magma
Đá mácma hay đá magma là những loại
đá được thành tạo do sự đông nguội của những dung thể magma nóng chảy được đưa lên từ những phần sâu của vỏ Trái Đất Quá trình đông nguội có thể tạo ra các đá có các khoáng vật kết tinh rõ ràng hoặc không kết tinh tùy thuộc vào môi trường mà khối magma đông nguội, và dựa vào đó người ta ta phân ra: đá xâm nhập và phun trào
Macma này có thể có nguồn gốc
từ manti của Trái Đất hoặc từ các loại đá đã tồn tại trước đó bị nóng chảy do các thay đổi nhiệt độ áp suất cực cao Trên 700 loại đá mácma đã được miêu tả lại, phần lớn trong chúng được tạo ra gần bề mặt lớp vỏ Trái Đất
I Nguyên nhân hình thành thế nằm của 3 loại đá
1 Định nghĩa
Trang 5b Đá trầm tích
Là loại đá được tạo thành trong điều kiện nhiệt động của vỏ trái đất thay đổi Các loại đất đá khác nhau do sự tác động của các yếu tố nhiệt độ nước và các tác dụng hoá học mà bị phong hoá, vỡ vụn Sau đó chúng được gió và nước cuốn đi rồi lắng đọng lại thành từng lớp.
Đá trầm tích không đặc, chắc bằng đá
mácma (do các chất keo kết thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại) Vì thế cường
độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn Một số loại đá trầm tích khi bị hút nước, cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan
rã trong nước Đá trầm tích rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi.
Trang 6c Đá biến chất
Được hình thành từ sự biến tính của đá mácma, đá trầm tích , thậm chí cả từ đá biến chất có trước, do sự tác động của nhiệt độ, áp suất cao (nhiệt độ lớn hơn
150 đến 200 °C và áp suất khoảng trên
1500 bar) các chất có hoạt tính hoá học, gọi là quá trình biến chất
Các đá biến chất chiếm phần lớn trong lớp vỏ của Trái Đất và được phân loại dựa trên cấu tạo, và thành phần hóa học
và khoáng vật hay còn gọi là tướng biến chất Chúng có thể được tạo ra dưới sâu trong lòng đất bởi nhiệt độ và áp suất cao hoặc được tạo ra từ các quá trình kiến tạo mảng như va chạm giữa các lục địa, và cũng được tạo ra khi khối magma có nhiệt độ cao xâm nhập lên lớp
vỏ của Trái Đất làm các đá có trước bị biến đổi
Trang 72 Thế nằm
a.Đá magma
Thế nằm của đá cho biết hình dạng, kích thước và tư thế của khối đá trong không gian cũng như mối quan hệ của các khối đá đó với nhau
Các dạng thế nằm của đá macma xâm nhập
Dạng nền Dạng nấm
Trang 8 Dạng lớp Dạng mạch
Trang 9 Các dạng thế nằm của đá magma phun trào
Dạng lớp phủ Dạng dòng chảy
Trang 10b Đá trầm tích
Thế nằm ngang của các lớp : thế nằm ban đầu của đá trầm tích là thế nằm ngang Thế nằm ngang thường gặp ở các lớp đá hình thành ở miền nền tức là những miền mà chuyển động kiến tạo của vỏ TĐ yếu hoặc các lớp đá trầm tích trẻ vì các lớp đá này chưa trải qua chuyển động kiến tạo đáng kể
Thế nằm nghiêng của lớp đá trầm tích có thể là thế nằm nguyên sinh tức là thế nằm nghiêng được hình thành cùng với quá trình trầm tích
Do các lớp nằm nghiêng theo bề mặt địa hình nghiêng sẵn ở nơi trầm tích, hoặc do các lớp trầm tích được hình thành đồng thời với quá trình nâng lên hạ xuống của đáy trầm tích
Trang 11c Đá biến chất
Đá biến chất có dạng thế nằm giống với đá ban đầu đã tạo nên nó (dạng lớp của đá trầm tích, dạng nấm, dạng mạch của đá macma…)
Đá biến chất tiếp xúc có dạng thế nằm riêng, nó thường ở dạng các vành đai có các múc độ biến chất khác nhau bao quanh khối mac ma gây ra biến chất Do
đó nó có thể gây ra sự không đồng nhất
về tính chất vật lý và cơ học
Trang 12II So sánh nước ngầm với nước có áp
Nước không áp
Phía trên không có tầng cách nước hoặc
chỉ có dạng thấu kính cách nước cục bô
̣,phía dưới là tầng cách nước.
Nước có áp
Phía trên và phía dưới có tầng cách nước
Các tầng chứa nước không áp có độ chứa
nước lớn hơn(chiều dày tầng từ vài mét
đến vài chục mét nhưng diện tích phân bố
khá lớn),nước ngầm chứa trong các lỗ rỗng,
khe nứt của đất đá, chứa trong các trầm
tích đệ tích vụn rời.
Nước có áp thường chứa ở các nếp uốn , các đơn tà, dưới các tầng cách nước hoặc trong các hệ thống khe nứt
và gãy đức phức tạp Có 2 dạng tàng trữ chính là: bồn nước áp lực và dốc nước áp lực.
•Bồn nước áp lực: nằm trong một phạm
vi rộng giữa 2 tầng cách nước dạng nếp uốn
•Dốc nước áp lực: Tầng chứa nước nghiêng về một phía
Trang 13Miền bố sung nước ngầm có thể trùng hoặc
không trùng với mặt phân bố, nhận
lượng nước bổ cấp trực tiếp từ trên mặt
đất (nước mưa, tuyết tan) hoặc từ sông,
suối, ao, hồ và thoát ra ngay trên mặt
đất(khu vực thoát nước), vì chúng có quan
hệ thủy lực với tầng chứa nước.
Miền cung cấp của nước có áp thường nằm cao và mực nước có mặt thoáng Miền thoát mực nước cũng có mặt thoáng và nước chảy ra dưới dạng mạch nước lên
Trang 14Nước không áp có các yếu tố dòng thấm
thay đổi theo mùa, chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ các yếu tố thủy văn
Mặt thoáng của nước ngầm được thể
hiện trên bản đồ bằng các đường thủy
đẳng cao – là các đường có cùng độ cao
mực nước
Qui luật thấm của nước có áp khác nước không áp tức là khác nước ngầm và nước giữa hai tầng nước.
Mực nước áp lực có thể nằm dưới mặt đất và cũng có thể nằm trên mặt đất, khi
đó qua các giếng khoan nước có thể tự phun lên trên mặt đất, gọi là nước tự lưu hay nước Actezia.
Không có áp lực hay áp lực tại biên trên của
tầng chứa nước bằng áp lực khí quyển.
Mức ô nhiễm cao nên Khai thác dùng làm
nguồn nước tưới.
Khi mực nước áp lực giảm xuống dưới nóc của tầng chứa nước (m>H) thì nước
áp lực chuyển thành nước giữa hai tầng không có áp lực.
Mức ô nhiễm thấp nên Khai thác cho sinh hoạt và công nghiệp.
Nước áp lực ( nước Actezia) Bản đồ thủy đẳng cao
Trang 15-Định nghĩa
•Nước dưới đất bao gồm các loại nước có trong lỗ rỗng, khe nứt và các hang hốc của các lớp đất đá Nước còn tham gia vào thành phần cấu tạo mạng tinh thể của khoáng vật tạo ra các đá
•Lượng nước ngấm dưới đất nhiều hay ít tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nơi (địa hình, thành phần đất đá, lượng mưa …)
Ảnh hưởng của nước dưới đất đến xây dựng công trình bên trên
Trang 16Nước có thể tác động trực tiếp đến công trình xây
dựng bên trên(tác dụng lực trực tiếp lên nền
móng,tác dụng hóa học làm ăn mòn vlxd…),hoặc có
thể tác động gián tiếp đến ctxd(làm thay đổi tính
chất cơ lý của đất đá dưới ctxd qua đó ảnh hưởng
đến ct bên trên).vì vậy để tìm hiểu tác động của
nước dưới đất đến ct bên trên thì ta đi tìm hiểu tác
động của nước dưới đất tới đất đá ở dưới và xung
quanh công trình,và tìm hiểu tính chất hóa học của
nước để xem khả năng ăn mòn vlxd như thế nào
Nước dưới đất có ảnh hưởng rất mạnh đến tính chất vật lý
và cơ học của đất đá :
•Chúng làm thay đổi trạng thái, độ bền và tính biến dạng, tính ổn định của khối đất
•Gây ra các tác dụng hoà tan,
ăn mòn hoặc cuốn trôi các hạt đất theo dòng thấm
•Là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng lún, trượt đất đá ở mái dốc, hiện tượng cát chảy hoặc xói ngầm…
•Gây khó khăn cho việc thi công hố móng, làm mất ổn định nền móng công trình
Do nước tiếp xúc trực tiếp với đất đá, nên nó chứa hầu hết các
nguyên tố có trong vỏ trái đất Cho đến nay người ta mới phát
hiện được 62 nguyên tố trong nước thiên nhiên
Kiểu hoá học và tính chất cơ bản của nước dưới đất do các
hợp phần sau quyết định : Cl-, SO42-, HCO3-, CO32-, Na+, Ca2+,
Mg2..Dựa vào độ PH người ta có thể đánh giá tính chất (hoạt
tính) của nước dưới đất Độ PH càng cao thì tính axit của nước
càng mạnh, gây ra các quá trình hoà tan hoặc ăn mòn VLXD và
đất đá
Trang 17Ngoài ra độ ăn mòn của nước dưới đất còn ảnh hưởng đến công trình
Sự ăn mòn phụ thuộc vào nồng độ ion hydro cũng như các khí hoà tan trong nước như oxi, H2S, CO2 và một số các muối khác
Tác dụng ăn mòn của nước dưới đất thể hiện qua thời gian
ăn mòn và phá hỏng các ống chống bằng thép của hố khoan, các bộ phận bằng kim loại của thiết bị phục vụ cho công trình, hay ăn mòn bê tông đối với các công trình dưới nước Tác dụng ăn mòn của nước được biểu hiện ở sự phá hoại bê tông do sự kết tinh của các chất mới, kèm theo sự tăng thể tích và rửa lủa khỏi bêtông một số thành phần của nó, đặc biệt là cacbonat canxi
Các chất sinh ra trong quá trình thuỷ hóa thường bị hoà tan mạnh Một số chất mới sinh ra trong quá trình thuỷ hoá có thể kết hợp với các chất có trong nước dưới đất để hình thành các chất khác hoặc bị hoà tan hoặc làm tăng thể tích khối bêtông …
• Dạng ăn mòn rửa trôi
• Các dạng ăn mòn muối :Các
muối này sẽ phản ứng với
các thành phần khoáng do
ximăng thuỷ hoá sinh ra, các
chất mới tạo thành có tính
nở thể tích và làm mất
cường độ của bê tông
• Dạng ăn mòn axit
• Dạng ăn mòn cacbonic :khiến
cấu kiện bê tông ngày càng
rỗng
Trang 18CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ
CHÚ Ý LẮNG NGHE