Viện kiểm sát nhân dân thành phố A phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án như sau: I/ Việc tuân theo pháp luật tố tụng: 1.. Thôn
Trang 1Mẫu số 19/HC
Theo QĐ số 388/QĐ-VKSTC
ngày 01 tháng 7 năm 2016
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH B
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ A
Số: 999/PB-VKS-HC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Thành phố A, ngày …… tháng …… năm 2018
PHÁT BIỂU
của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
Căn cứ các điều 43, 190 và 249 Luật tố tụng hành chính năm 2015,
Hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố A, tỉnh B mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ
án hành chính “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính” giữa:
Người khởi kiện: Bà Hoàng thị Nhân, sinh năm 1960
Địa chỉ: Lô 18 + Lô 19, khóm Tân An, phường Tân Hội, thành phố A, tỉnh B
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện: Luật sư [ ] thuộc Văn phòng Luật sư […] - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A, tỉnh B.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn Phát - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A, tỉnh B
Địa chỉ: […]
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người bị kiện: Luật sư [ ] thuộc Văn phòng Luật sư […] - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: [ ]
Địa chỉ: […]
Qua kết quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay Viện kiểm sát nhân dân thành phố
A phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
I/ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1 Về tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án:
a Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Trang 2Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định theo Điều 38 Luật tố tụng hành chính, như thông báo cho đương sự biết về việc thụ lý vụ án hành chính, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí theo Điều 125; Điều 126 Luật tố tụng hành chính; yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ, thông báo và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ Điều 133,
136, 138 Luật tố tụng hành chính; tổ chức đối thoại giữa các đương sự được quy định tại Điều 20; quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn quy định tại Điều 130 và gửi quyết định cho các đương sự và VKS đúng quy định tại điều 146; hồ sơ vụ án chuyển đến VKS nghiên cứu đúng quy định tại Điều 147 Luật tố tụng hành chính Tuy nhiên trong quá trình nhận đơn khởi kiện đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã xác định sai cấp tòa án
có thẩm quyền giải quyết Căn cứ khoản 1 Điều 31 và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành
chính đối với “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án” thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm Do đó tòa án nhân dân thành phố A đã thụ lý và đưa ra xét xử là trái thẩm quyền theo quy định của Luật tố tụng hành chính.1
b Về tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử tại phiên tòa:
Tại phiên tòa hôm này Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Điều 39 Luật
tố tụng hành chính như nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa đúng thành phần quy định, phần tham gia hỏi tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 177 Luật tố tụng hành chính cũng như chấp hành đúng các quy định từ Điều 148 đến Điều 189 Luật tố tụng hành chính 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án
c Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thư ký phiên tòa:
Tại phiên tòa hôm nay Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định tại Điều 41 Luật tố tụng hành chính như: Phổ biến nội quy phiên tòa theo Điều 153 Luật tố tụng hành chính, kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa cũng như sự có mặt, vắng mặt của các đương sự Tiến hành đầy đủ, đúng trình tự quy định của Luật tố tụng hành chính về thủ tục sơ thẩm như: Chuẩn bị khai mạc phiên tòa theo Điều 167; khai mạc phiên tòa theo Điều 169 Luật tố tụng hành chính
2 Về tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
a Đối với người khởi kiện: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà
Hoàng Thị Nhân đã thực hiện đúng quy định tại Điều 55, Điều 56, Điều 83 Luật tố tụng hành chính như cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ kiện theo Điều 9, Điều 78 Luật tố tụng hành chính; tham gia đối thoại, thực hiện quyền khởi kiện vụ án, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và chấp hành tốt nội quy phiên tòa theo Điều 115 đến Điều 119, Điều 153, Điều 157 Luật tố tụng hành chính
1 Nội dung này được phát biểu nếu phiên sơ thẩm được diễn ra tại TAND thành phố A Nếu là TAND tỉnh B thì nhận xét Thẩm phán tuân theo pháp luật tố tụng.
Trang 3b Đối với người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A ủy quyền cho Phó
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật tố tụng hành chính Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người bị kiện đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 55, Điều 57, Điều 83, Điều 93, Điều 153, Điều 157 và Điều 128 Luật tố tụng hành chính
c Đối với những người tham gia tố tụng khác: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại
phiên tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người ủy quyền của người bị kiện đã chấp hành đúng theo quy định từ Điều 59 đến Điều 64, Điều
153, Điều 159 đến Điều 161 Luật tố tụng hành chính
II/ Về việc giải quyết vụ án:
Ngày 27/1/2018, Chủ tịch UBND thành phố A ban hành Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC về việc phạt vi phạm hành chính đối với bà Nhân với tổng mức phạt là 14.500.000 VND, đồng thời buộc bà Nhân phải thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung ghi trong cam kết bảo vệ môi trường và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường
Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC nên ngày 9/2/2018, bà Nhân
có Đơn khiếu nại và được UBND thành phố A trả lời bằng Công văn 604/CV-UBND ngày 21/2/2018 Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC ngày 27/1/2018
và Công văn số 604/CV-UBND ngày 21/3/2018, nên ngày 21/3/2018, bà Nhân đã gửi Đơn khởi kiện vụ án hành chính gửi đến Tòa án nhân dân thành phố A tỉnh B, yêu cầu hủy quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018
Xét thấy:
Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC ngày 27/1/2018 của Chủ tịch UBND thành phố
A có những vi phạm sau:
+ Về thẩm quyền ban hành quyết định:
Theo Điểu b khoản 2 Điều 38 Luật XLVPHC 2012; Khoản 2 Điều 5 và điểm b Khoản 2 Điều 48 Nghị định 155/2016/NĐ-CP, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ở hình thức phạt tiền tối đa là 50.000.000VND Căn cứ Khoản 1 và 2 điều 54 Luật xử lý VPHC 2012 về giao quyền xử phạt thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được giao quyền cho cấp phó để ban hành quyết định xử phạt này Việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền
Tuy nhiên, trong toàn bộ hồ sơ vụ án, cũng như cho đến phiên kiểm tra việc giao nộp, công khai, tiếp cận chứng cứ, Bên bị kiện không giao nộp, cũng như không xuất trình tại phiên xét xử sơ thẩm ngày hôm nay Như vậy, việc Phó Chủ tịch UBND thành phố A thay mặt Chủ tịch UBND thành phố A ký ban hành Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC ngày 27/1/2018 là không đúng thẩm quyền
Trang 4+ Về trình tự, thủ tục, hình thức quyết định:
Xét về BBVPHC, theo khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC 2012 thì “Trường hợp vi
phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì
việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá
nhân vi phạm”
Tuy nhiên, sau quá trình thu mẫu và phân tích kết quả chất lượng không khí,
P.TNMT có kết quả kiểm tra (Báo cáo số 23/BC-TNMT) vào ngày 26/11/2017, nhưng ngay khi đó không tiến hành việc lập BBVPHC, mà cho đến ngày 15/1/2018 (sau 1 tháng
19 ngày) mới tiến hành lập BBVPHC là không đúng thời hạn ra quyết định
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 56 và 57 Luật XLVPHC 2012 thì đối với mức phạt tiền là 14.500.000 VND thuộc trường hợp phải lập BBVPHC BBVPHC này phải dựa trên kết quả do đạc và phân tích mẫu môi trường để làm căn cứ xác định vi phạm hành chính Tuy nhiên, theo nội dung của BBVPHC cũng như Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, không có bất kỳ căn cứ nào dựa trên kết quả đo đạc và phân tích mẫu môi trường bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ để xác định hành vi thải bụi vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 1,5 lần, cũng như hành vi gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn được quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định 155/2016 là từ 2 dBA đến 5 dBA để ra quyết định xử phạt
Ngoài ra, nội dung của BBVPHC được Đội quản lý trật tự đô thị lập ngày 15/1/2018 được lập không đúng theo quy định tại Điều 58 Luật XLVPHC 2012 Cụ thể: không được lập tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính, không có lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm, không giao cho cá nhân vi phạm hành chính 01 bản sau khi lập
Xét về thời hạn ban hành Quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018, theo
quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC 2012 thì trường hợp bà Nhân bị phạt dưới 15.000.000 đồng nên không có quyền giải trình với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Vì vậy, việc xử phạt bà Nhân không thuộc trường hợp giải trình Ngoài ra, toàn bộ hồ sơ vụ án không có tài liệu nào cho thấy UBND thành phố A đánh giá đây là vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cũng như không có văn bản gia hạn thời hạn ra quyết định
xử phạt
Do đó, theo khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC 2012 thì “người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.”, tức ngày 15/1/2018 tiến hành lập BBVPHC thì chậm nhất là vào ngày 22/1/2018 phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Tuy nhiên, Chủ tịch UBND Tp.A ra QĐXP vào ngày 27/1/2018 là quá thời hạn
+ Về nội dung quyết định:
Tại thời điểm ra QĐ XLVPHC là ngày 27/1/2018, lúc này Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 ngày 20/06/2012 đang có hiệu lực nhưng UBND Tp.A lại căn cứ Luật xử lý vi
Trang 5phạm hành chính ngày 11/11/2011 là không có cơ sở Ngoài ra, BBVPHC do Đội quản lý trật tự đô thị lập ngày 15/1/2018, nhưng Quyết định số 44/QĐ-XPHC lại căn cứ vào BBVPHC do Đội quản lý trật tự đô thị lập vào ngày 14/1/2018 là không có cơ sở
Nội dung BBVPHC lập ngày 15/1/2018 và Quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 được ban hành mà không dựa trên bất kỳ kết quả phân tích mẫu bụi và tiếng
ồn nào
Từ các phân tích trên, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận [một phần/toàn bộ] yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy [một phần/toàn bộ] quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan.2
III Kiến nghị khắc phục vi phạm:
Từ phân tích tại phần “tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán”, căn cứ theo
khoản 2 Điều 34 Luật tố tụng hành chính đề nghị Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ việc xét xử, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm là Tòa án nhân dân tỉnh B.3
Trên đây là ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và
ý kiến về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố A tại phiên toà hôm nay
Nơi nhận:
- TAND thành phố A;
- Lãnh đạo Khối;
- Lưu: VT, HSKS.
KIỂM SÁT VIÊN
(đã ký, đóng dấu)
Huỳnh Thị Thanh Vân
2 Nội dung này được phát biểu nếu phiên sơ thẩm được diễn ra tại TAND tỉnh B.
3 Nội dung này được phát biểu nếu phiên sơ thẩm được diễn ra tại TAND thành phố A Nếu là TAND tỉnh B thì không có kiến nghị khắc phục vi phạm.