1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hồ sơ hành chính 07 bản luận cứ + phát biểu của viện kiểm soát

13 534 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 70,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thưa vị Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Thưa Quý Luật sư đồng nghiệp; Tôi tên là Nguyễn Thị Nhung, thuộc Văn phòng Luật sư ABC – Đoàn Luật sư Thành phố A, Nhận được lời mời củ

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHÓA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn học: Hành chính cơ bản

Hồ sơ : LS.HC.07

Họ và tên:

Ngày sinh:

Lớp:

Khóa:

Số báo danh:

Thành phố Hồ Chí Minh ngày tháng năm 2021

Trang 2

BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN

BÀ HOÀNG THỊ NHÀN - CHỦ CƠ SỞ MỘC GIA DỤNG THÁI SƠN TỌA

LẠC TẠI LÔ 18 KHÓM TÂN AN, PHƯỜNG TÂN HỘI

Kính thưa hội đồng xét xử!

Thưa vị Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa;

Thưa Quý Luật sư đồng nghiệp;

Tôi tên là Nguyễn Thị Nhung, thuộc Văn phòng Luật sư ABC – Đoàn Luật sư Thành phố A, Nhận được lời mời của người khởi kiện và được sự chấp thuận của Quý Toà, tôi có mặt tại phiên toà hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là bà Hoàng Thị Nhân trong vụ án hành chính sơ thẩm về việc

“Khởi kiện quyết định xử phạt vi phạm hánh chính” do Toà án nhân dân TP A thụ lý

ngày 06/4/2018

Kính thưa HĐXX!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hôm nay, tôi xin được đưa ra quan điểm về vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ tôi như sau:

Chúng tôi cho rằng, việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch UBND TP A là không có cơ sở Bởi lẽ, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPVPHC ngày 27/01/2018 đã căn cứ theo Biên bản

xử phạt vi phạm hành chính đề ngày 14/01/2018 để ban hành quyết định này Tuy nhiên, trên thực tế, trong hồ sơ không có bất cứ biên bản vi phạm hành chính nào đề ngày 14/01/2018 mà chỉ có biên bản ngày 15/01/2018) Do vậy, việc ban hành Quyết định trên

là không có căn cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật

Tuy vậy, dù có bằng chứng để chứng minh và được chấp nhận sai sót trên thì Quyết định được căn cứ trên Biên bản vi phạm hành chính ngày 15/01/2018 cũng được ban hành trái với quy định của pháp luật Bởi các lý do và căn cứ như sau:

Trang 3

**Trước hết chúng tôi sẽ xem xét về đối tượng công văn 604/CV-UBND trả lời

về khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPVPHC ngày 27/01/2018:

Theo Khoản 3 Điều 6 Luật khiếu nại 2011 có quy định về nghiêm cấm hành vi ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định Nhưng ở đây ta thấy hình thức của quyết định này không phải là hình thức quyết định mà là công văn nên đề nghị H ĐXX xem xét hủy công văn giải quyết khiếu nại này

**Xét về hình thức, trình tự thủ tục trước khi ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPVPHC Đầu tiên ta sẽ xem xét quy trình và hình thức của biên bản vi phạm hành chánh ngày 15/01/2018:

Thứ nhất, về thời hạn lập biên bản vi phạm hành chính: Theo diễn biến vụ án,

ngày 11 tháng 11 năm 2017, Đoàn kiểm tra Liên ngành đã tiến hành kiểm tra cơ sở mộc của bà Hoàng Thị Nhân theo Biên bản Kiểm tra ngày 11/11/2017 Tại đây, Đoàn kiểm tra

đã nhận định, cơ sở của bà Hoàng Thị Nhân đã có những hành vi vi phạm như: không thực hiện chương trình giám sát môi trường và định kỳ cáo cáo gửi về phòng tài nguyên môi trường, đồng thời đã tiến hành lấy mẫu tiếng ồn và bụi để trưng cầu giám định làm

cơ sở để xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với bà Hoàng Thị Nhân (nếu có)

Căn cứ theo Nghị định 165/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, chúng tôi hiểu rằng, bụi và tiếng ồn là hai yếu tố cần phải sử dụng các phương tiện, thiết bị, kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường

Mặt khác, căn cứ theo khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính thì khi phát hiện khi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân

vi phạm

Trên cơ sở đó, chúng tôi khẳng định rằng:

(1) Đối với việc không thực hiện nội dung trong bản cam kết, nếu Đội kiểm tra cho rằng chúng tôi có hành vi vi phạm trên thì ngay tại ngày kiểm tra vào ngày 11/11/2017, Đội kiểm tra phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính Tuy nhiên, đã không có bất

cứ biên bản nào ghi nhận việc vi phạm của hành vi này trong ngày này mà đến tận ngày

15 tháng 01 năm 2018, tức hơn 2 tháng sau, Đội quản lý trật tự đô thị mới liệt kê nội

Trang 4

dung này tại Biên bản vi phạm hành chính Rõ ràng, hành vi nêu trên của Đội quản lý trật

tự đô thị là vi phạm quy định của pháp luật

(2) Đối với hành vi liên quan đến bụi và tiếng ồn thì cần được lập biên bản ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm, tức khi kết quả phân tích độ bụi và tiếng ồn Trên thực tế, đến ngày 15/11/2017, Trung tâm quan trắc kỹ thuật tài nguyên môi trường

đã có kết quả phân tích mẫu bụi và tiếng ồn Tuy nhiên đến ngày 26/11/2017 Phòng Tài Nguyên và Môi trường mới có Báo cáo số 23/BC-TNMT về kết quả kiểm tra cơ sở mộc Hoàng Thị Nhân, khóm Tân AN, Phường Tân Hội, TP A và đến tận ngày 15/01/2018, mới lập biên bản vi phạm hành chính là vi phạm nghiên trọng về thời hạn lập biên bản theo quy định pháp luật Do vậy, chúng tôi cho rằng, biên bản ngày 15/01/2018 là không

có giá trị pháp lý

Thứ hai, về thể thức biên bản vi phạm hành chính: cụ thể tại khoản 3 Điều 58

quy định: “Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người

vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều

tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản Nếu người

vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.”

Nhưng căn cứ theo biên bản lấy lời khai đối với người khởi kiện ngày 29-04-2018 tại trụ sở tòa án nhân dân TP A, bà Nhân có khẳng định là Nhân không có ký tên vào biên bản vi phạm ngày 15/01/2018 và sau đó bà có đến Phòng Tài nguyên Môi trường của TP

A để xin các văn bản hồ sơ để bổ sung đơn khởi kiện, khi được Phòng Tài nguyên Môi trường cung cấp (bản photo) tôi mới phát hiện có chữ ký của bà trong biên bản này, do đó

bà Nhân có yêu cầu bổ sung cho bà thấy được (bản chính) và yêu cầu được giám định chữ ký của bà

Điều đó cho thấy rằng biên bản xử phạt vi phạm hành chính ở đây không đúng với quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án cho giám định chữ ký như yêu cầu của người khởi kiện

Thứ ba, về giá trị pháp lý của biên bản vi phạm hành chính:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính có quy định thì Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm Tuy nhiên, biên bản vi phạm hành chính ngày 15/01/2018, do ông Trần Văn Tuất lập đối với cơ sở mộc của bà Hoàng Thị Nhân, chỉ thể hiện ngày lập vi phạm hành chính và các hành vi vi phạm hành chính của

Trang 5

cơ sở mà không nêu rõ địa điểm, thời gian xảy ra vi phạm, căn cứ để xác định hành vi vi phạm của cơ sở của bà Nhân Hành vi vi phạm trên của Đoàn kiểm tra khiến cho cơ sở kinh doanh không thể biết được biên bản vi phạm hành chính này được lập dựa theo kết quả kiểm tra ngày 11/11/2017 hay ngày 11/01/2018, từ đó gây nên khó khăn trong việc khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Xét trong trường hợp, biên bản được lập dựa trên kết quả kiểm tra ngày 11/11/2017 thì như đã phân tích nêu trên về thời hạn lập biên bản, trình tự kiểm tra của Đoàn kiểm tra thì biên bản trên không có giá trị pháp lý

Xét trong trường hợp biên bản được lập dựa trên kết quả kiểm tra ngày 11/01/2017 thì biên bản trên không có căn cứ pháp luật Bởi tại buổi kiểm tra này, không ghi nhận bất

kì vi phạm nào của cơ sở kinh doanh của bà Hoàng Thị Nhân

Bởi những căn cứ nêu trên, chúng tôi cho rằng, biên bản vi phạm hành chính ngày 15/01/2017 không có giá trị pháp lý và không thể là cơ sở để ban hành quyết định xử phạt

vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, căn cứ khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; Tuy nhiên, sau khi lập biên bản vi phạm hành chính ngày 15/01/2017, bà Hoàng Thị Nhân không được nhận lại bất kì biên bản nào, điều đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền được biết, được khiếu nại của mình

Bên cạnh đó thì khi xem xét về trình tự kiểm tra của Đội kiểm tra: Về thành

phần của Đoàn kiểm tra:

(1) Tại Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 08/11/2017 về việc thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra cơ sở mộc Thái Sơn của Chủ tịch UBND TP.A có thể thấy, Đoàn kiểm tra gồm 9 người do ông Đặng Ngọc Tuấn - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường TP làm trưởng đoàn Tuy nhiên, tại biên bản kiểm tra ngày 11/11/2017, Đoàn kiểm tra có đến 11 người, và đặc biệt, không có các cá nhân theo quyết định số 16 nêu trên mà được thay thế bằng tên của các cá nhân khác Trên cơ sở đó, chúng tôi hiểu rằng, Đoàn kiểm tra không có đúng đủ, thành phần theo quyết định 16 của Chủ tịch UBND TP

và những người không có tên tại quyết định này nhưng vẫn tham gia kiểm tra là trái thẩm quyết theo quy định của pháp luật

(2) Không những thế, trong biên bản ngày 11 tháng 11 năm 2017 có thể hiện đoàn kiểm tra có 11 người, tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 8 người Khi được bà Hoàng Thị Nhân hỏi thì người lập biên bản - ông Trần Văn Tuất, đáp “không cần thấy mặt, chỉ cần thấy tên là được rồi” Hành vi trên của ông Trần Văn Tuất và Đoàn kiểm tra là vi phạm

Trang 6

nghiêm trọng quy định của pháp luật về việc kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính

Bởi những căn cứ nêu trên, việc thực hiện kiểm tra của Đoàn kiểm tra là không đúng với quy định của pháp luật, do vậy, mọi kết quả và hậu quả phát sinh, liên quan đến việc thanh tra, kiểm tra là không có giá trị pháp lý

**Xét về đối tượng chính là quyết định xử phạt hành chính số 44/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch UBND TP A:

Thứ nhất, thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Căn cứ

theo Khoản 1 Điều 66 của Luật xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn ra quyết định

xử phạt vi phạm hành chính là trong thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Biên bản vi phạm hành chính được lập vào ngày 15/01/2018 nhưng đến ngày 27/01/2018, nghĩa là đã quá 7 ngày UBND Thành phố A mới ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính xử phạt bà Hoàng Thị Nhân Chúng tôi xin lưu ý rằng, trường hợp của bà Hoàng Thị Nhân không thuộc vụ việc quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 và cơ quan có thẩm quyền cũng không ban hành bất cứ văn bản xin gia hạn thời hạn nào, do vậy, không thể áp dụng quy định về thời hạn 30 ngày trong trường hợp này

Do vậy, căn cứ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 65 thì đây là một trong những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Từ đó có thể kết luận quyết định của quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch UBND TP A là trái với quy định của pháp luật

Thứ hai, về thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 38 của Luật xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt của Chủ Tịch UBND cấp huyện và Điểm k Khoản 1 Điều 52 của Nghị định quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì Chủ tich UBND cấp huyện có thẩm quyền xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Nhưng quyết định số 44/QĐ-XPHC lại do Phó chủ tịch UBND ký thay nhưng không có văn bản giao quyền, và trong phần căn cứ của quyết định cũng không nêu nội dung số hiệu văn bản ủy quyền liên quan Trong xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án, Chủ tịch UBND cũng không cung cấp bất cứ văn bản giao quyền nào liên quan đến việc ban hành quyết định này, do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên do người không có thẩm quyền ban hành, vậy nên quyết định trên là trái với quy định của pháp luật

Trang 7

Thứ ba, về nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính: tại Khoản 3 Điều

1 quy định việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đã đề cập sai đối tượng chịu chế tài, trong vụ việc không có ai tên là Định Thị Nhường

Với những chứng cứ và lập luận đã trình bày, cho rằng đã đủ căn cứ để khẳng định quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPVPHC ban hành trái với quy định của pháp luật Do đó, tại phiên tòa ngày hôm nay, chúng tôi kính đề nghị HĐXX ra quyết định đình chỉ viHội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch UBND TP A vì quyết định này không đúng với quy định của pháp luật tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 của Chủ tịch UBND TP.A vì trái với quy định của pháp luật

Các cơ sở phân tích trên đã đủ để khẳng định Quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018 xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường do Phó chủ tịch UBND thành phố A Đặng Văn Phát kí là trái pháp luật Do đó tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điểm b, Khoản 2, Điều 193 của Luật TTHC chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của thân chủ tôi và tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày

27/01/2018 xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường do Phó chủ tịch UBND thành phố A Đặng Văn Phát kí

Xin chân thành cảm ơn!

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH

B

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ A

Số: 999/PB-VKS-HC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Thành phố A, ngày …… tháng …… năm 2018

PHÁT BIỂU

của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ các điều 43, 190 và 249 Luật tố tụng hành chính năm 2015,

Trang 8

Hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố A, tỉnh B mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án

hành chính “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính” giữa:

Người khởi kiện: Bà Hoàng thị Nhân, sinh năm 1960

Địa chỉ: Lô 18 + Lô 19, khóm Tân An, phường Tân Hội, thành phố A, tỉnh B

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện: Luật sư [ ] thuộc Văn phòng Luật sư […] - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A, tỉnh B.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn Phát - Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A, tỉnh B

Địa chỉ: […]

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người bị kiện: Luật sư [ ] thuộc Văn phòng Luật sư […] - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: [ ]

Địa chỉ: […]

Qua kết quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay Viện kiểm sát nhân dân thành phố A phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

I/ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

1 Về tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án:

a Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

Trang 9

Thông qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định theo Điều 38 Luật tố tụng hành chính, như thông báo cho đương sự biết về việc thụ lý vụ án hành chính, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí theo Điều 125; Điều 126 Luật tố tụng hành chính; yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ, thông báo và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ Điều 133, 136, 138 Luật tố tụng hành chính; tổ chức đối thoại giữa các đương sự được quy định tại Điều 20; quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn quy định tại Điều 130 và gửi quyết định cho các đương sự và VKS đúng quy định tại điều 146; hồ sơ vụ án chuyển đến VKS nghiên cứu đúng quy định tại Điều 147 Luật tố tụng hành chính Tuy nhiên trong quá trình nhận đơn khởi kiện đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã xác định sai cấp tòa án có thẩm quyền giải quyết Căn cứ khoản 1 Điều 31 và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính đối

với “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án” thuộc thẩm quyền của Tòa án

nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm Do đó tòa án nhân dân thành phố A đã thụ

lý và đưa ra xét xử là trái thẩm quyền theo quy định của Luật tố tụng hành chính.1

b Về tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử tại phiên tòa:

Tại phiên tòa hôm này Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại Điều 39 Luật tố tụng hành chính như nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa đúng thành phần quy định, phần tham gia hỏi tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 177 Luật tố tụng hành chính cũng như chấp hành đúng các quy định từ Điều 148 đến Điều 189 Luật tố tụng hành chính 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án

c Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thư ký phiên tòa:

Tại phiên tòa hôm nay Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định tại Điều 41 Luật

tố tụng hành chính như: Phổ biến nội quy phiên tòa theo Điều 153 Luật tố tụng hành chính, kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa cũng như sự có mặt, vắng mặt của các đương sự Tiến hành đầy đủ, đúng trình tự quy định của Luật tố tụng hành chính về thủ tục sơ thẩm như: Chuẩn bị khai mạc phiên tòa theo Điều 167; khai mạc phiên tòa theo Điều 169 Luật tố tụng hành chính

2 Về tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:

a Đối với người khởi kiện: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà

Hoàng Thị Nhân đã thực hiện đúng quy định tại Điều 55, Điều 56, Điều 83 Luật tố tụng hành chính như cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ kiện theo Điều 9, Điều 78 Luật tố

1 Nội dung này được phát biểu nếu phiên sơ thẩm được diễn ra tại TAND thành phố A Nếu là TAND tỉnh B thì nhận xét Thẩm phán tuân theo pháp luật tố tụng.

Trang 10

tụng hành chính; tham gia đối thoại, thực hiện quyền khởi kiện vụ án, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và chấp hành tốt nội quy phiên tòa theo Điều 115 đến Điều 119, Điều 153, Điều 157 Luật tố tụng hành chính

b Đối với người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A ủy quyền cho Phó

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố A theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật tố tụng hành chính Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người bị kiện đã chấp hành đúng theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 55, Điều 57, Điều 83, Điều 93, Điều 153, Điều

157 và Điều 128 Luật tố tụng hành chính

c Đối với những người tham gia tố tụng khác: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên

tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, người ủy quyền của người bị kiện đã chấp hành đúng theo quy định từ Điều 59 đến Điều 64, Điều 153, Điều

159 đến Điều 161 Luật tố tụng hành chính

II/ Về việc giải quyết vụ án:

Ngày 27/1/2018, Chủ tịch UBND thành phố A ban hành Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC về việc phạt vi phạm hành chính đối với bà Nhân với tổng mức phạt là 14.500.000 VND, đồng thời buộc bà Nhân phải thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung ghi trong cam kết bảo vệ môi trường và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường

Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC nên ngày 9/2/2018, bà Nhân có Đơn khiếu nại và được UBND thành phố A trả lời bằng Công văn 604/CV-UBND ngày 21/2/2018 Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC ngày 27/1/2018 và Công văn số 604/CV-UBND ngày 21/3/2018, nên ngày 21/3/2018, bà Nhân đã gửi Đơn khởi kiện

vụ án hành chính gửi đến Tòa án nhân dân thành phố A tỉnh B, yêu cầu hủy quyết định số 44/QĐ-XPHC ngày 27/01/2018

Xét thấy:

Quyết định xử phạt số 44/QĐ-XPHC ngày 27/1/2018 của Chủ tịch UBND thành phố A

có những vi phạm sau:

+ Về thẩm quyền ban hành quyết định:

Ngày đăng: 10/11/2021, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w