trắc nghiệm hóa sinh chất đủ mọi dạng bài để đánh và kiểm tra giúp bản thân cải thiện điểm số. Hãy cùng nhau học tập để đạt điểm số cao như mong muốn Thực chất là quá trình thuỷ phân glucid dưới tác dụng của các enzym của đường tiêu hoá. Đối với tinh bột và glycogen, amylase của nước bọt và dịch tuỵ sẽ thuỷ phân các liên kết a 14 glucosid ở bất kỳ vị trí nào trên phân tử, tạo các dạng dextrin rồi cuối cùng tạo maltose. Các disaccarid là sản phẩm thuỷ phân tinh bột và glycogen nói trên cùng với disaccarid của thức ăn như lactose, saccarose sẽ bị thuỷ phân của các enzym disaccaridase đó là: maltase, lactase, saccarase. Sản phẩm cuối cùng của sự thuỷ phân này là các monosaccarid chủ yếu là glucose, một số ít fructose và galatose Sự hấp thu các monosaccarid xảy ra phần đầu của ruột non. Sự hấp thu theo hai cơ chế: Sự khuếch tán dễ dàng xảy ra với một số monosaccarid như mannose và fructose, chúng được vận chuyển qua màng tế bào theo cơ chế thụ động nghĩa là theo chiều của sự chênh lệch gradient nồng độ, với cơ chế vận chuyển này cần có sự tham gia của hệ thống chất mang (carrier) nằm trong diềm bàn chải của tế bào thành ruột. Sự vận chuyển tích cực: cơ chế này xảy ra đối với glucose và galactose. Ở ruột non, các monosaccarid này được vận chuyển qua màng tế bào thành ruột với tốc độ nhanh và nhiều khi ngược chiều với gradient nồng độ. Sau khi hấp thu, các monosaccarid được tập trung vào hệ tĩnh mạch cửa rồi vào gan, ở đó các monosaccarid ngoài glucose sẽ được chuyển thành glucose để cơ thể sử dụng trong quá trình chuyển hoá chung
Trang 2Cảm ơn bạn đã tải sách từ Doctor Plus Club
Tất cả ebook được Doctor Plus Club sưu tầm & tổng hợp từ nhiều nguồn trên internet, mạng xã hội Tất cả sách Doctor Plus Club chia sẽ vì
đích duy nhất là để đọc, tham khảo, giúp sinh viên, bác sĩ Việt Nam tiếp cận, hiểu biết nhiều hơn về y học
Chúng tôi không bán hay in ấn, sao chép, không thương mại hóa những ebook này (nghĩa là quy đổi ra giá và mua bán những ebook này)
Chúng tôi sẵn sàng gỡ bỏ sách ra khỏi website, fanpage khi nhận được yêu cầu từ tác giả hay những người đang nắm giữ bản quyền những sách này
Chúng tôi không khuyến khích các cá nhân hay tổ chức in ấn, phát hành lại và thương mại hóa các ebook này nếu chưa được sự cho phép của tác giả
Nếu có điều kiện các bạn hãy mua sách gốc từ nhà sản xuất để ủng
hộ tác giả
Mọi thắc mắc hay khiếu nại xin vui lòng liên hệ chúng tôi qua email: support@doctorplus.club
Website của chúng tôi: https://doctorplus.club
Fanpage của chúng tôi: https://www.facebook.com/doctorplus.club/ Like, share là động lực để chúng tôi tiếp tục phát triển hơn nữa
Chân thành cảm ơn Chúc bạn học tốt!
Trang 4Nội dung: Gồm 25 câu, mỗi câu có thời lượng làm khoảng 30-45 phút
Tài liệu tham khảo chính:
- Nguyễn Viết Nhân (2007), Sách Giáo trình Di truyền Y học, Nhà xuất bản Đại học Huế
Tài liệu tham khảo thêm :
- Jorde LB, Carey JC, Bamshad MJ, White RL (2000), Medical Genetics, Mosby Inc
- Nussbaum RL, McInnes RR, Willard HF (2016), Thompson & Thompson: Genetics in Medicine, Saunders
Ghi chú: Tất cả các tài liệu này đều có sẵn tại bộ môn Di truyền Y học Những học viên cần tham khảo có thể đến mượn
Trang 5Bộ môn Di truyền Y học- 2019
2
Câu 1: Vẽ sơ đồ cấu trúc cơ bản của một gene người Mô tả và trình bày đặc điểm và chức năng chính các thành phần của gene
Sơ đồ cấu trúc cơ bản gene người
Cấu trúc cơ bản của một gene gồm hai phần là vùng được phiên mã và vùng khởi động Ngoài ra còn có các yếu tố điều hòa nằm kế cận hoặc xa gene, có nhiệm vụ điều hòa phiên mã
Vùng được phiên mã:
- Hai đầu là hai vùng không dịch mã: ở đầu 5’ (thuộc exon 1) và đầu 3’ (thuộc exon cuối)
- Ở giữa là các exon và intron nằm xen kẽ nhau
- Exon: trình tự nucleotide mang các bộ ba mã hóa các amino acid
- Intron: trình tự không mang bộ ba mã hóa, nằm xen kẽ giữa các exon Chức năng intron chưa được biết hết Đầu 5’ mỗi intron là là GT, đầu 3’ là AG
- Một số intron bên trong nó mang các gene được phiên mã mà không liên quan gì tới gene mang các intron đó Ví dụ intron của gene NF1 (neurofibromatose type I)
- Ngoài ra còn có các trình tự đồng thuận nằm xung quanh vị trí nối intron
exon- Vùng khởi động
- Vùng khởi động nằm ở đầu 5’ của gene, có thể dài nhiều kb, tuy nhiên vùng quan trọng nhất là promoter lõi, dài khoảng 100-200 bp
- Vùng khởi động lõi của gene đặc hiệu mô thường có hộp TATA (-25
-30 bp) và có thể có hộp CCAAT (-75 -80 bp) Gene quản gia thường thiếu hai hộp trên, thay vào đó là vùng giàu GC (hộp GC)
- Đây là vị trí tương tác với các yếu tố phiên mã và RNA polymerase
Các yếu tố điều hòa
- Yếu tố điều hòa có tính đặc hiệu mô
Exon1 Intron1 Exon2 Exon n
Vị trí khởi đầu phiên mã
Codon khởi đầu ATG Codon kết thúc TAA, TGA, TAG
Tín hiệu AATAAA
Vị trí gắn đuôi poly-A
CORE PROMOTER (vùng lõi khởi động)
Yếu tố thúc đẩy
VÙNG ĐƯỢC PHIÊN MÃ
Trang 6Bộ môn Di truyền Y học- 2019
3
- Yếu tố thúc đẩy: tăng phiên mã của gene kế cận nó Có thể tác động ở khoảng cách xa Có thể tác động từ phía 5’ hoặc 3’ của gene nhờ cơ chế bẻ vòng DNA
- Yếu tố im lặng: nằm kế cận hoặc chồng một phần lên yếu tố thúc đẩy
- Ngoài ra còn có vùng kiểm soát locus (LCR: locus control region)
Trang 7Bộ môn Di truyền Y học- 2019
4
Câu 2 Trình bày các loại DNA
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc và phân bố, người ta chia DNA thành các loại sau:
* DNA độc bản (single - copy DNA):
Đây là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 45% genome Các đoạn DNA loại này chỉ được thấy một lần duy nhất (hoặc vài lần) trong genome Các gene mã hóa cho protein đều thuộc loại DNA này, tuy nhiên phần mã hóa chỉ chiếm một phần rất nhỏ, khoảng 1-1,5% genome Hầu hết các DNA độc bản là các intron hoặc là các đoạn DNA nằm xen giữa các gene, chưa biết rõ chức năng
* DNA lặp (repetitive DNA):
Chiếm 55% còn lại của genome, đây là các đoạn DNA được lặp đi lặp lại hàng ngàn lần trong genome DNA lặp gồm 2 loại:
- DNA lặp lại nối tiếp:
Loại DNA này tập trung ở một số vùng nhất định trên nhiễm sắc thể (NST),
ở đó chúng sắp xếp nối đuôi nhau Chiếm khoảng 10% genome, chia thành 3 loại nhỏ:
+ DNA vệ tinh (satellite DNA): Có chiều dài từ 100 kb đến nhiều Mb, phần lớn chưa được giải trình tự Một trong những DNA vệ tinh được biết rõ
là vệ tinh : có kích thước mỗi đơn vị lặp là 171 bp, lặp lại nhiều lần với chiều dài hàng triệu bp Được thấy cạnh tâm của NST, giúp NST gắn vào sợi thoi phân bào, đảm bảo sự phân ly của NST Thường được ứng dụng trong xác định tâm mới của NST (vd: chẩn đoán NST hai tâm)
+ DNA tiểu vệ tinh (minisatellite DNA): có kích thước mỗi đơn vị lặp từ
14 – 500 bp, lặp đi lặp lại với chiều dài khoảng vài ngàn bp Có hai họ
là: DNA đầu mút có vai trò đảm bảo tính toàn vẹn của NST trong nhân đôi, được thêm vào NST bởi telomerase; DNA siêu biến có tính đa hình
cao do số lần lặp thay đổi, tạo nên “dấu vân tay” DNA được ứng dụng trong pháp y
+ DNA vi vệ tinh (microsatellite DNA): có kích thước mỗi đơn vị lặp từ 1 – 13 bp (thường chỉ 2, 3 hoặc 4 bp), lặp đi lặp lại với tổng chiều dài không quá vài trăm bp Phân tán khắp các NST, có tính đa hình cao, có thể gây nên hiện tượng “trượt” trong nhân đôi
- DNA lặp lại rải rác: Chiếm khoảng 45% genome
Phần lớn là có nguồn gốc từ các transposon (yếu tố cơ động, yếu tố có khả năng chuyển vị) Có 4 phân nhóm transposon, chia thành 2 nhóm: + Retrotransposon: enzyme phiên mã ngược tổng hợp cDNA từ bản sao RNA của retrotransposon, rồi tích hợp vào genome Gồm SINEs, LINEs, yếu tố giống retrovirus
+ DNA transposon: di trú trực tiếp không qua sao chép Trình tự DNA được tách ra và chèn vào genome thông qua cơ chế “cắt – dán”
Trang 8Bộ môn Di truyền Y học- 2019
5
Quan trọng nhất trong DNA lặp lại rải rác là các nhóm SINEs và LINEs + Yếu tố rải rác kích thước ngắn (SINEs: short interspersed elements): Kích thước đơn vị lặp từ 100-400 bp Ví dụ: Họ Alu, các đoạn DNA lặp dài
#300 bp, hơn 1.000.000 thành viên, chiếm 10% genome
+ Yếu tố rải rác kích thước dài (LINEs: long interspersed elements): Kích thước trung bình 7000 bp Ví dụ: Họ LINE-1 (L1), các đoạn DNA lặp dài 6000 bp, có khoảng 850.000 thành viên, chiếm khoảng 20% genome Hai họ Alu và L1 được xem là nguyên nhân đột biến do: Có thể tự tạo bản sao của chúng và tích hợp vào genome Chiếm 1/500 đột biến Ngoài ra còn
có cơ chế do rối loạn tái tổ hợp
Trang 9Bộ môn Di truyền Y học- 2019
6
Câu 3 Trình bày các bước trong cơ chế nhân đôi DNA Cho ví dụ về ứng dụng cơ chế nhân đôi DNA trong thực hành y khoa
Cơ chế phân tử của quá trình nhân đôi DNA gồm các bước như sau:
1 Trình tự base tại điểm gốc nhân đôi được nhận dạng
2 Enzyme helicase bẻ gãy liên kết hydro giữa các cặp base gắn bổ sung Điều này cho phép hai mạch DNA bắt đầu tháo xoắn và hình thành hai chạc nhân đôi
3 Protein SSB (single-stranded DNA binding) gắn vào các mạch đơn DNA, ngăn không cho chúng tái bổ sung lại với nhau, đồng thời bảo vệ DNA khỏi bị giáng hóa bởi nuclease
4 Enzyme primase tổng hợp mồi RNA ngắn (khoảng 10 nucleotide) theo hướng 5’ 3’, bắt đầu từ điểm gốc của mỗi mạch đơn Hai mạch đơn của phân tử DNA mẹ được sử dụng làm khuôn mẫu cho quá trình nhân đôi Mồi RNA là cần thiết vì DNA polymerase không thể khởi đầu tổng hợp DNA, và chỉ có thể kéo dài mạch đơn từ đầu 3’ của mồi đã bổ sung sẵn trên khuôn mẫu
5 Enzyme DNA polymerase III tổng hợp DNA theo hướng 5’3’, bắt đầu
từ đầu 3’ của mỗi mồi RNA Mạch mới tổng hợp là bổ sung và đối song với mạch khuôn mẫu Mạch mới này có thể được tổng hợp liên tục thành một đoạn dài và được gọi là “mạch liên tục” (leading strand)
- “Mạch gián đoạn” (lagging strand) được tổng hợp không liên tục dưới dạng một loạt các đoạn nhỏ (khoảng 1000 nucleotide), gọi là đoạn Okazaki Mỗi đoạn Okazaki được khởi đầu bằng một mồi RNA, mà được tổng hợp nhờ enzyme primase, và rồi được hoàn tất bằng sự tổng hợp DNA nhờ enzyme DNA polymerase III Mỗi đoạn đều được hình thành theo hướng 5’3’
- Mỗi chạc nhân đôi trên nhiễm sắc thể có một mạch liên tục và một mạch gián đoạn
6 Các mồi RNA được loại bỏ bởi enzyme RNAse H trong eukaryote và một DNA polymerase không đặc trưng sẽ điền DNA mới vào chỗ trống Ở prokaryote, DNA polymerase I vừa loại bỏ mồi nhờ hoạt tính 5’ exonuclease vừa tổng hợp DNA mới, bắt đầu tại đầu 3’ của đoạn Okazaki
kế cận
7 Cả DNA polymerase của eukaryote và prokaryote đầu có khả năng “đọc sửa sai” (proofread) sản phẩm của chúng bằng hoạt tính 3’5’ exonuclease Nếu DNA polymerase tạo lỗi trong quá trình tổng hợp DNA, thì base không bắt cặp đúng tại đầu 3’ của mạch DNA đang được tổng hợp
sẽ bị loại bỏ trước khi quá trình tổng hợp được tiếp tục
8 Enzyme DNA ligase bít lỗ hở giữa các đoạn Okazaki, chuyển chúng thành mạch DNA liên tục
9 Enzyme DNA gyrase (DNA topoisomerase II) sẽ tháo phần DNA siêu xoắn trước mỗi chạc nhân đôi Bởi vì khi helicase tháo xoắn DNA tại chạc nhân đôi, thì DNA phía trước trở nên xoắn hơn và hình thành siêu xoắn
Trang 10sử dụng hiệu quả trong chống ung thư
Trang 11Bộ môn Di truyền Y học- 2019
8
Câu 4 Trình bày quá trình phiên mã
Phiên mã là bước đầu tiên trong quá trình truyền thông tin di truyền từ gene đến protein
Quá trình phiên mã tổng hợp nên RNA thông tin (mRNA: messenger RNA)
từ bản khuôn trên DNA gồm các bước như sau:
1 Bắt đầu cho quá trình phiên mã, enzyme RNA polymerase II sẽ gắn vào vùng khởi động của gene Dưới sự xúc tác của enzyme này cấu trúc xoắn kép của một đoạn DNA sẽ được tách đôi và một trong hai mạch của DNA sẽ đóng vai trò của bản khuôn để tổng hợp mRNA
- Vị trí khởi động đóng vai trò quyết định mạch nào sẽ trở thành mạch khuôn trong việc tổng hợp mRNA thông qua việc định hướng cho enzyme RNA polymerase trên DNA
- Trên mạch khuôn, RNA polymerase sẽ di chuyển theo chiều từ 3’ đến 5’
và cho phép lắp ghép các ribonucleotide theo nguyên tắc bổ sung theo chiều từ 5’ đến 3’ với các base trên mạch khuôn theo cách thức tương tự như trong quá trình nhân đôi của DNA nhưng base thymine được thay bằng uracyl
2 Sau khi quá trình tổng hợp RNA được bắt đầu, đầu 5’ của phân tử RNA đang được tổng hợp sẽ được “bít” lại bằng cách thêm vào một nucleotide guanine
đã được thay đổi về mặt hóa học, đầu này được gọi là “5’ cap” 5’ cap giúp ngăn cản sự giáng hóa của RNA trong quá trình tổng hợp và giúp chỉ định vị trí bắt đầu quá trình giải mã của mRNA
3 Quá trình phiên mã được tiếp tục cho tới khi RNA polymerase đọc tới một đoạn nucleotide gọi là đoạn kết thúc (termination sequence) Khi đến vị trí này một đoạn gồm từ 100 đến 200 adenine sẽ được gắn vào đầu 3’ của mRNA, cấu trúc này được gọi là đuôi poly - A (poly A-tail)
- Đuôi poly-A được cho là có vai trò giữ cho phân tử mRNA được hằng định và không bị giáng hóa khi vào trong bào tương
- Khi đến vị trí kết thúc, RNA polymerase tiếp tục phiên mã trên chuỗi DNA thêm vài ngàn base tuy nhiên trên mRNA đoạn base thêm phía sau đuôi poly - A sẽ bị mất đi
4 Cuối cùng RNA polymerase sẽ tách khỏi chuỗi DNA, giải phóng phân
tử RNA với cấu trúc chuỗi đơn, phân tử này được gọi là RNA nguyên thủy
Ở một số gene người, trên một gene có thể có nhiều vị trí khởi đầu khác nhau nằm ở các vị trí khác nhau Do đó gene có thể được bắt đầu phiên mã ở các
vị trí khác nhau dẫn đến việc tổng hợp các phân tử protein ít nhiều khác nhau từ cùng một gene Điều này cho phép với cùng một gene có thể mã hóa cho các protein khác nhau ở các mô khác nhau
Trang 12Bộ môn Di truyền Y học- 2019
9
Câu 5 Trình bày sự điều hòa biểu hiện của gene ở người
Mặc dù tất cả tế bào của cơ thể đều mang trình tự DNA giống nhau, nhưng hoạt động phiên mã của các gene không giống nhau
- Một số gene được phiên mã trong tất cả các tế bào của cơ thể, chúng được gọi là các “gene quản gia” (housekeeping gene) chịu trách nhiệm mã hóa cho các sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và chuyển hóa của tế bào Số này chỉ chiếm một
tỉ lệ rất nhỏ trên DNA
- Đa số gene chỉ hoạt động ở các mô đặc hiệu và ở những thời điểm nhất định do đó tạo nên tính đặc thù cho từng loại tế bào, loại mô khác nhau và qua đó sản xuất ra các loại protein khác nhau
- Nhiều loại protein khác nhau tham gia vào quá trình phiên mã
- Một số cần thiết cho mọi quá trình phiên mã được gọi là các yếu tố phiên
mã tổng quát
- Một số chỉ hoạt động ở một số gene nhất định vào những giai đoạn nhất
định trong quá trình phát triển, được gọi là các yếu tố phiên mã đặc hiệu
- Enzyme RNA polymerase II mặc dù có vai trò quyết định trong việc bắt đầu quá trình phiên mã thông qua việc gắn với vùng khởi động nhưng tự nó không thể gắn vào vị trí này và không thể quyết định số lượng mRNA được tổng hợp
- Tuy nhiên những tác nhân này không tương tác trực tiếp với các gene mà thay vào đó chúng được gắn với các yếu tố phiên mã đặc hiệu được gọi là các tác
nhân hoạt hóa (activator) Những yếu tố này đến phiên nó lại gắn với loại yếu tố
phiên mã đặc hiệu thứ hai gọi là các tác nhân đồng hoạt hóa (co-activator), các tác nhân này mới thật sự gắn với phức hợp các yếu tố phiên mã tổng quát nói trên Kết quả làm gia tăng tốc độ phiên mã của các gene đặc hiệu ở những thời điểm nhất định
- Ngược lại, các đoạn DNA khác thông qua kiểu tác động tương tự làm ức chế hoạt động phiên mã của gene được gọi là yếu tố im lặng (silencer)
- Đột biến xảy ra ở các đoạn DNA là yếu tố thúc đẩy, yếu tố im lặng, vị trí khởi động hoặc đột biến ở các gene mã hóa cho các yếu tố phiên mã có thể gây ảnh hưởng đến sự điều hòa biểu hiện gene
Trang 13Bộ môn Di truyền Y học- 2019
10
Câu 6 Nguyên nhân của đột biến
Về mặt nguyên nhân, đột biến được chia làm hai loại:
- Đột biến tự phát: xảy ra trong quá trình nhân đôi của DNA
- Đột biến cảm ứng: xảy ra do tác động của các tác nhân có trong môi
trường sống Các tác nhân gây ra dạng đột biến này được gọi là tác nhân đột biến
Các tác nhân gây đột biến gồm có:
+ Dạng phóng xạ này có thể tác động trên mọi loại tế bào của cơ thể bao gồm cả các tế bào mầm sinh dục
- Các tác nhân phóng xạ không ion hóa:
+ Ví dụ tia cực tím
+ Không làm thay đổi điện tích của các nguyên tử nhưng làm cho các electron có thể nhảy từ quỹ đạo trong ra quỹ đạo ngoài của nguyên tử làm những nguyên tử này trở nên không hằng định về mặt hóa học + Tia cực tím tạo nên các liên kết cộng hóa trị giữa các base pyrimidine
nằm cạnh nhau (vd thymine và cytosine) tạo nên các pyrimidine dimer,
những dimer này không thể bắt cặp chính xác với các base purine trong quá trình nhân đôi của DNA, dẫn đến kết quả là gây ra sự thay thế một cặp base Vì tia cực tím chỉ được hấp thu bởi lớp biểu bì nên chỉ có thể gây ra ung thư da mà không thể đến được các tế bào mầm sinh dục
Hóa chất
+ Một số các hóa chất cũng có thể gây ra đột biến do có cấu trúc tương
tự các base của DNA, chúng được gọi là các base tương đồng như 5
- bromouracyl Loại base này có thể thay thế cho một base thật sự của DNA trong quá trình nhân đôi Do cấu trúc của base tương đồng không giống một cách hoàn toàn như base mà nó thay thế nên nó có thể gây ra sai sót trong quá trình bắt cặp ở những lần nhân đôi tiếp
Trang 14Bộ môn Di truyền Y học- 2019
11
theo
+ Hàng trăm loại hóa chất đã được phát hiện là có khả năng gây đột biến
ở súc vật thí nghiệm như nitrogen mustard, vynil chloride, các tác nhân alkyl hoá, formaldehyde, sodium nitrite và saccharin Khả năng gây đột biến của chúng không giống nhau, nitrogen mustard là một chất gây đột biến mạnh trong khi đó saccharine gây đột biến nhẹ hơn
Các tác nhân khác
Một số tác nhân đột biến được sản xuất bởi con người nhưng cũng có nhiều tác nhân xuất hiện tự nhiên trong môi trường như aflatoxin B1 (có mặt phổ biến trong thực phẩm) Ngoài ra còn có một số tác nhân khác như tác nhân sinh học (virus…)
Trang 15Trẻ mắc bệnh được sinh ra từ hôn nhân của một người hoàn toàn bình thường
và một ngừơi mắc bệnh dị hợp tử (Aa x aa) Hôn nhân giữa hai người đều mắc cùng một bệnh di truyền gene trội đột biến trên NST thường thì rất hiếm
Các đặc điểm chính của các bệnh di truyền do gene trội trên NST thường:
1 Cả hai giới đều có tỷ lệ mắc xấp xỉ
2 Không có sự gián đoạn giữa các thế hệ
3 Nếu bố mẹ không mắc bệnh thì con của họ sẽ không có ai mắc bệnh trừ khi xuất hiện đột biến mới
4 Người mang gene bệnh ở trạng thái dị hợp (Aa) kết hôn với người bình thường (aa) sẽ truyền bệnh cho khoảng một nửa số con của họ khi tính trên một số lượng lớn cặp vợ chồng thuộc kiểu này
- Nguy cơ tái phát:
Khi một trong hai bố mẹ bị ảnh hưởng bởi một bệnh di truyền gene trội trên NST thường ở trạng thái dị hợp (người kia hoàn toàn bình thường) Nguy cơ xảy
ra và nguy cơ tái phát đều là 1/2
Trang 16Bố mẹ của người mắc bệnh di truyền gene lặn trên NST thường đều phải dị hợp tử về gene bệnh (Aa x Aa)
Các đặc điểm chính của các bệnh di truyền do gene lặn trên NST thường:
1 Bệnh thường được thấy ở một hoặc một số anh chị em ruột nhưng không xảy ra ở các thế hệ đầu
2 Nam và nữ đều có khả năng mắc bệnh như nhau
3 Trung bình một phần tư con của cặp vợ chồng mang gene bệnh ở trạng thái dị hợp sẽ biểu hiện bệnh
4 Tình trạng hôn nhân đồng huyết, được gặp nhiều trong phả hệ của loại bệnh di truyền này hơn so với các loại bệnh di truyền khác
- Nguy cơ tái phát:
Nguy cơ tái phát trong con cái của các bố mẹ mang gene bệnh (carrier) trung bình là 25% Tỷ lệ này thay đổi trong từng gia đình nhưng khi tính trên một số lượng lớn gia đình sẽ đạt được tỷ lệ trên
Trang 17Bộ môn Di truyền Y học- 2019
14
Câu 9 Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến kiểu di truyền đơn gene trên nhiễm sắc thể thường sau: đột biến mới, tình trạng khảm ở tế bào dòng sinh dục, khởi bệnh muộn, khởi bệnh sớm và tăng mức biểu hiện ở thế hệ sau Đột biến mới
Nếu một đứa trẻ được sinh ra với một bệnh di truyền và trong gia đình của trẻ chưa hề có tiền sử về bệnh này thì có thể bệnh xảy ra ở trẻ này là kết quả của một đột biến mới (new mutation), điều này đặc biệt đúng đối với bệnh di truyền
do gene trội trên NST thường
Trong trường hợp này nguy cơ tái phát ở lần sinh tiếp theo của cặp bố mẹ này không cao hơn mức chung của quần thể Các nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ lớn của các bệnh di truyền gene trội trên NST thường là kết quả của một đột biến mới Đặc điểm này cho thấy bệnh có xu hướng giới hạn tiềm năng sinh sản của
cá thể mắc bệnh
Tình trạng khảm ở các tế bào dòng sinh dục (germline mosaicism)
Đôi khi trong một gia đình người ta có thể thấy trong số con của cùng một
bố mẹ có tới 2 con hoặc nhìều hơn mắc cùng một loại bệnh di truyền trội NST thường trong khi tiền sử của gia đình chưa hề có ai mắc bệnh này Vì đột biến là một sự kiện hiếm gặp nên việc xảy ra nhiều lần một loại đột biến trong cùng một gia đình rất khó có thể xảy ra
Cơ chế giải thích cho hiện tượng này là hiện tượng khảm của các tế bào dòng sinh dục (germline mosaicism) Trong quá trình phát triển phôi của một trong hai
bố mẹ, một đột biến có thể đã xảy ra và ảnh hưởng lên tất cả hoặc một phần của của các tế bào dòng tinh hoặc tế bào tạo trứng nhưng không ảnh hưởng hoặc chỉ ảnh hưởng đến một vài tế bào soma của phôi Như vậy bố hoặc mẹ đã mang đột biến trong các tế bào dòng sinh dục của họ nhưng họ hoàn toàn không có biểu hiện bệnh trên kiểu hình Kết quả là họ có thể truyền gene đột biến cho nhiều người con Hiện tượng này mặc dù tương đối hiếm gặp nhưng ảnh hưởng rất lớn đến nguy cơ tái phát của bệnh
Khởi bệnh muộn (delayed age of onset)
Trong khi một số bệnh di truyền biểu hiện ngay từ khi sinh hoặc chỉ một thời gian ngắn sau đó thì nhiều bệnh di truyền phải đợi cơ thể tới giai đoạn trưởng thành mới biểu hiện Hiện tượng này được gọi là hiện tượng khởi bệnh muộn Tình trạng biểu hiện muộn dẫn đến hậu quả là người bệnh thường có con trước khi họ nhận thức được tình trạng mang gene bệnh của mình
Khởi bệnh sớm và sự gia tăng mức biểu hiện ở thế hệ sau
Từ trong giai đoạn đầu của thế kỷ XX người ta đã quan sát thấy một vài bệnh di truyền dường như có tuổi khởi bệnh sớm hơn hoặc có mức độ biểu hiện bệnh nặng hơn hoặc có thể thể hiện cả hai hiện tượng này trong các thế hệ sau của mỗi gia tộc Kiểu biểu hiện này gọi là hiện tượng khởi bệnh sớm (anticipation)
Trang 18Bộ môn Di truyền Y học- 2019
15
Câu 10 Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến kiểu di truyền đơn gene trên nhiễm sắc thể thường sau: tính thấm giảm, biểu hiện đa dạng, tính đa hiệu, tính dị nguyên
Tính thấm giảm (reduced penetrance)
Một đặc điểm quan trọng của nhiều bệnh di truyền là tính thấm giảm Tính thấm giảm là hiện tượng người mang kiểu gene của bệnh nhưng hoàn toàn không
có biểu hiện trên kiểu hình, mặc dù vậy họ vẫn truyền gene bệnh cho thế hệ sau
Biểu hiện đa dạng (variable expression)
Một tình trạng phức tạp khác là sự biểu hiện đa dạng của bệnh Bệnh có thể
có tính thấm hoàn toàn nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh có sự thay đổi rất lớn
Ví dụ: Trong bệnh u xơ thần kinh (neurofibromatosis) type I (còn được gọi
là bệnh Von Recklinghausen) Bố hoặc mẹ có thể có bệnh rất nhẹ, nhẹ đến nỗi họ không nghĩ là mình mắc bệnh, nhưng họ có thể truyền gene bệnh cho con và đôi khi chúng có biểu hiện bệnh rất nặng
Giống như tình trạng khởi bệnh muộn và tính thấm giảm, biểu hiện đa dạng của bệnh cũng là một cơ chế tạo điều kiện cho gene bệnh không bị đào thải và có mặt với tần số cao trong quần thể
Tính đa hiệu (pleiotropy)
Một gene có thể gây ra các hiệu quả khác nhau trên cơ thể được gọi là gene
đa hiệu (pleiotropy)
Ví dụ: Trong hội chứng Marfan Đây là một bệnh di truyền gene trội trên
NST thường với các biểu hiện ở mắt, xương, và hệ tim mạch Tất cả những biểu hiện này đều xuất phát từ tình trạng tổ chức liên kết bị kéo dãn không bình thường Gene gây ra hội chứng Marfan được định vị trên nhánh dài của NST 15 mã hóa cho fibrilin, một thành phần của mô liên kết Đột biến gene này dẫn đến nhiều hậu quả khác nhau trên cơ thể
Tính dị nguyên (heterogenity)
Khi một bệnh nhưng có thể gây ra bởi các đột biến trên các locus khác nhau
ở các gia đình khác nhau, tình trạng này được gọi là tính dị nguyên của locus (locus hetero-genity) Tình trạng bệnh gây ra bởi đột biến ở các gene khác nhau
có thể không phân biệt được trên lâm sàng
Trang 19Phả hệ của một người mắc bệnh di truyền gene lặn trên NST X cho thấy nhiều đặc điểm khác với trường hợp bệnh do gene trên NST thường gây ra
Biểu hiện của bệnh được thấy phổ biến ở người nam hơn người nữ
Gene bệnh được truyền dưới dạng dị hợp tử qua một loạt các người nữ dẫn đến sự ngắt quãng trong biểu hiện qua một số thế hệ
Bố mắc bệnh sẽ truyền gene cho 100% con gái của ông ta và những người con gái này sẽ truyền gene bệnh cho 50% số con trai của họ và làm biểu hiện bệnh
Kiểu hôn nhân phổ biến là hôn nhân giữa một người nữ mang gene bệnh (carrier) và một người nam bình thường
Một kiểu hôn nhân phổ biến khác là bố mắc bệnh và mẹ bình thường, trong trường hợp này toàn bộ con trai của họ hoàn toàn bình thường và toàn bộ con gái của họ đều là người mang (carrier) với kiểu gene dị hợp
tử do nhận gene bệnh từ bố
Kiểu hôn nhân giữa một người nam mắc bệnh và một người nữ mang gene bệnh rất ít gặp Con gái của họ sẽ có một nửa mang gene bệnh ở trạng thái dị hợp tử (carrier) và nửa kia mang gene bệnh ở trạng thái đồng hợp tử và có biểu hiện bệnh Ở con trai cũng có một nửa hoàn toàn bình thường và một nửa mắc bệnh
Đôi khi cũng có thể gặp người nữ chỉ mang một gene lặn đột biến trên NST
X nhưng vẫn có biểu hiện bệnh do hiện tượng bất hoạt của NST X Vd: Đối với
bệnh hemophilia A có khoảng độ 5% người nữ dị hợp tử có nồng độ yếu tố VIII thấp đủ để được coi như là mắc bệnh hemophilia thể nhẹ
Trang 20Bộ môn Di truyền Y học- 2019
17
Câu 12 Trình bày những đặc điểm cơ bản của di truyền ty thể
Đa số các bệnh di truyền gây ra do các khuyết tật xảy ra trên genome trong nhân tế bào, tuy nhiên cũng có một số bệnh gây ra do các đột biến của ty thể, chiếm tỷ lệ không lớn
Mỗi tế bào người chứa hàng trăm ty thể trong bào tương Quá trình phiên
mã của DNA ty thể (mtDNA) xảy ra ở trong ty thể và độc lập với DNA trong nhân Khác với DNA của nhân, DNA của ty thể không có các đoạn intron Tỷ lệ đột biến ở DNA trong ty thể cao hơn khoảng 10 lần so với DNA trong nhân, tình trạng này xảy ra do ty thể thiếu hệ thống enzyme sửa chữa DNA và cũng có lẽ do các gốc oxy tự do được giải phóng trong quá trình oxy-phosphoryl hóa gây thương tổn DNA
Do ở trong bào tương nên DNA của ty thể được truyền theo dòng mẹ Người nam nhận DNA ty thể từ mẹ nhưng không thể truyền DNA này cho con vì tinh trùng chỉ chứa một lượng DNA ty thể rất ít và DNA ty thể này của tinh trùng không thể đi vào trong trứng trong quá trình thụ tinh để tham gia vào quá trình phát triển phôi được
Vì mỗi tế bào chứa một quần thể phân tử DNA ty thể, nên mỗi tế bào có thể mang một vài phân tử có đột biến của DNA ty thể và một số phân tử khác thì
không Hiện tượng này của DNA được gọi là hiện tượng heteroplasmy, đây là
nguyên nhân quan trọng giải thích tính đa dạng trong biểu hiện của các bệnh lý
di truyền ty thể Tỷ lệ phân tử DNA ty thể đột biến càng lớn thì mức độ nặng nề trong biểu hiện bệnh càng cao
Cho tới nay đã xác định được trên 50 đột biến điểm và trên 100 đột biến mất đoạn hoặc nhân đoạn trên DNA của ty thể gây ra những hậu quả bệnh lý Cũng
có một số ý kiến cho rằng các đột biến của DNA ty thể tích lũy trong suốt cuộc đời của một cá thể, do kết quả của sự tích lũy các gốc tự do, có thể đã góp phần vào quá trình lão hóa
Trang 21Vị trí tâm (centromere) chia mỗi NST ra làm hai nhánh được gọi là nhánh ngắn (ký hiệu là p) và nhánh dài (ký hiệu là q) Tùy theo vị trí của tâm mà các NST được chia thành ba loại:
NST tâm giữa: tâm nhiễm sắc thể nằm giữa, hai nhánh p và q tương đối bằng nhau
NST tâm lệch: tâm nằm lệch, sự khác biệt giữa nhánh p và q khá rõ
NST tâm đầu: NST nằm ở một đầu của NST Các NST tâm đầu thường
có mang các vệ tinh nối với tâm động nhiễm sắc thể bằng các cuống Với kỹ thuật nhuộm thông thường (không có băng) 22 cặp NST thường được chia thành 7 nhóm được ký hiệu bằng các chữ cái la tinh A, B, C, D, E, F, G Mỗi nhóm gồm các NST có kích thước gần giống nhau và dễ nhầm lẫn với nhau khi phân loại
Nhóm A: gồm 3 cặp số 1, 2, 3, đây là 3 cặp lớn nhất NST 1 và 3 có tâm giữa, còn NST 2 có tâm lệch
Nhóm B: gồm 2 cặp số 4 và 5, đây là 2 cặp NST lớn có tâm lệch
Nhóm C: gồm 7 cặp số 6, 7, 8, 9 10, 11, 12 với chiều dài trung bình và tâm lệch
Nhóm D: gồm 3 cặp số 13, 14, 15 có chiều dài trung bình và tâm đầu
Nhóm E: gồm 3 cặp số 16, 17, 18 có chiều dài bé, các NST có tâm lệch hoặc tâm giữa
Nhóm F: gồm 2 cặp số 19 và 20 có chiều dài bé và tâm giữa hoặc lệch
Nhóm G: gồm 2 NST 21 và 22 có chiều dài bé và tâm đầu
NST X giống các NST của nhóm C và NST Y giống NST của nhóm G nên thường được xếp chung vào các nhóm này
Trang 22Bộ môn Di truyền Y học- 2019
19
Câu 14 Trình bày bất thường nhiễm sắc thể kiểu đa bội ở người
Đa bội hiếm gặp ở người, hai trường hợp đa bội đã được báo cáo ở người
là tam bội (triploid, 3n = 69) karyotype là 69,XXX (69XYY hoặc 69XXY) và tứ bội (tetraploid, 4n = 92) karyotype là 92,XXXX (92XXYY)
Tam bội
Trường hợp tam bội được gặp với tỷ lệ 1/10.000 trẻ sinh sống nhưng chiếm
tỷ lệ tới 15% trong số các loại bất thường NST xảy ra trong thai kỳ Đa số các trường hợp tam bội đều bị sẩy thai ngẫu nhiên
Nguyên nhân phổ biến của hiện tượng tam bội là do một trứng được thụ tinh bởi 2 tinh trùng (dispermy), một số ít còn lại do 1 trứng và một thể cực (polar cell) được thụ tinh bởi một tinh trùng hoặc do rối loạn phân ly của toàn bộ NST trong giảm phân tạo ra 1 tinh trùng hoặc trứng lưỡng bội (2n) rồi qua thụ tinh với giao tử n để tạo thành hợp tử 3n
Tùy theo nguồn gốc của bộ nhiễm sắc thể thừa là từ bố hoặc mẹ mà biểu hiện kiểu hình có thể khác nhau Nếu là từ bố thì thai nhi tứ bội thường có bánh nhau bất thường, và được phân loại là chữa trứng một phần Nếu là từ mẹ thì thường sẩy thai sớm
Tứ bội
Trường hợp tứ bội hiếm hơn rất nhiều cả ở các trẻ sinh sống và trong các trường hợp sẩy thai ngẫu nhiên Trường hợp này chỉ được ghi nhận ở một vài trẻ sinh sống nhưng cũng chỉ sống được trong một thời gian rất ngắn sau sinh
Tứ bội được tạo thành do rối loạn phân ly của toàn bộ NST trong hợp tử hoặc do sự kết hợp của 2 loại giao tử mang bộ NST 2n
Tứ bội được ghi nhận luôn có karyotype 92,XXXX (92XXYY) mà không
có karyotype 92,XXXY và 92,XYYY Điều này có thể là do hợp tử tạo thành thất bại trong việc hoàn thành giai đoạn phân chia sớm của phôi
Trang 23Bộ môn Di truyền Y học- 2019
20
Câu 15 Trình bày bất thường nhiễm sắc thể kiểu lệch bội
- Lệch bội là loại bất thường phổ biến nhất trong các hội chứng bất thường NST người, xảy ra tối thiểu 5% trường hợp thai
kỳ Phần lớn trường hợp lệch bội là thể tam nhiễm (trisomy).Cơ chế:
Các tế bào lệch bội mang thừa hoặc thiếu một hoặc vài NST, thông thường chỉ có một NST bị ảnh hưởng (2n +/-1)
* Sự không phân ly NST trong quá trình giảm phân có thể xảy ra ở lần phân bào thứ nhất hoặc thứ hai, và qua đó tạo ra các hậu quả khác nhau:
- Nếu có sự không phân ly của một cặp NST tương đồng xảy ra trong lần phân bào thứ nhất của giảm phân, giao tử tạo thành sẽ mang cả hai NST với một của bố và một của mẹ hoặc không mang NST nào trong cặp này cả
- Nếu có sự không phân ly của hai chromatide chị em xảy ra trong lần phân bào thứ hai của giảm phân, giao tử tạo thành sẽ mang hai NST hoặc đều có nguồn gốc từ bố hoặc có nguồn gốc từ mẹ hoặc không mang NST nào trong cặp này cả
* Sự không phân ly NST xảy ra sau khi thụ tinh (rối loạn phân ly trong nguyên phân) có thể tạo ra trạng thái khảm (mosaic), trong cơ thể sẽ có 2 hoặc hơn các dòng tế bào khác nhau về bộ NST
- Các yếu tố ảnh hưởng:
Có mối liên quan giữa sự gia tăng tuổi mẹ với sự gia tăng nguy cơ sinh con mang thể tam nhiễm Nhiều giả thuyết đã được đưa ra để giải thích hiện tượng này:
Mẹ càng lớn tuổi thì khả năng đào thải các thai mang thể tam nhiễm càng giảm
Gia tăng sự không phân ly của các NST trong quá trình giảm phân tạo trứng ở các bà mẹ lớn tuổi
Vai trò của các yếu tố như nồng độ của các hormone, hút thuốc, uống rượu, bệnh tuyến giáp tự miễn và phóng xạ cũng đã được nghiên cứu nhưng không cho thấy có sự liên quan đến tình trạng rối loạn phân ly của các NST
- Thể đơn nhiễm và thể tam nhiễm:
Thể đơn nhiễm (monosomy) của NST được gặp rất ít trong số các trẻ sinh sống do đa số không sống được tới khi sinh trừ trường hợp thể đơn nhiễm X do hiện tượng bất hoạt bình thường của 1 trong 2 NST X
Thể tam nhiễm (trisomy) được gặp ở trẻ sinh sống với tần số cao hơn do
cơ thể có thể dung nạp tình trạng thừa vật liệu di truyền tốt hơn trường hợp thiếu vật liệu di truyền
Trang 24Bộ môn Di truyền Y học- 2019
21
Câu 16 Trình bày nguyên nhân, tần suất, biểu hiện lâm sàng và nguy cơ tái phát của hội chứng Down
Nguyên nhân và tần suất
Đây là trường hợp bất thường NST được gặp phổ biến nhất
- Khoảng 95% trường hợp xảy ra do thừa một NST 21(trisomy 21)
- 4% do chuyển đoạn không cân bằng liên quan đến nhánh dài của NST 13,
14, 15 (đa số trường hợp là NST 14) và nhánh dài của NST 21 hoặc giữa NST 21 và 22
- Khoảng từ 1 đến 3% trường hợp Down ở dạng khảm với sự có mặt của 2 dòng tế bào, một dòng bình thường và một dòng thừa 1 NST 21
Khoảng 90 - 95% trường hợp trisomy 21 có NST 21 thừa được nhận từ mẹ
và có sự liên quan chặt chẽ giữa sự gia tăng tuổi mẹ với nguy cơ sinh con bị trisomy 21 Ở những bà mẹ dưới 30 tuổi nguy cơ sinh con bị thể tam nhiễm 21 là 1/1000, ở các bà mẹ trong độ tuổi 35 nguy cơ này là 1/400, ở các bà mẹ 40 tuổi
là 1/100 và ở các bà mẹ 45 tuổi là 1/50
Biểu hiện lâm sàng
- Trẻ mắc hội chứng Down có khuôn mặt khá điển hình với mũi tẹt, mắt xếch, có nếp quạt ở góc trong của mắt, gáy phẳng, tai nhỏ, lưỡi dày 50% trẻ này có rãnh khỉ trong lòng bàn tay, giảm trương lực cơ
- Chậm phát triển tinh thần - vận động Trẻ mang karyotype dạng khảm có biểu hiện nhẹ nhàng hơn
- Dị tật bẩm sinh: 40% trẻ Down bị tật tim bẩm sinh trong đó phổ biến nhất
là thông liên nhĩ; khoảng 3% số trẻ bị dị tật của ống tiêu hóa
- Trẻ có nguy cơ bị bệnh bạch cầu cao gấp 15 đến 20 lần so với trẻ bình thường, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đặc biệt là nhiễm khuẩn hô hấp
- Khả năng sinh sản: Người nam mắc hội chứng Down hầu như luôn luôn
vô sinh, một số ít người nữ mắc hội chứng này có khả năng sinh sản Do cơ hội sinh sản của những người bị trisomy 21 hầu như không đáng kể nên các trường hợp trisomy 21 đều được xem như là kết quả của một đột biến mới
Nguy cơ tái phát
Nguy cơ sinh thêm con bị trisomy 21 ở cặp bố mẹ đã có con bị trisomy 21 khoảng 1%, nguyên nhân của sự gia tăng này không được rõ Đối với những người mang chuyển đoạn Robertson cân bằng, nếu mẹ là người mang thì nguy cơ sinh con mắc hội chứng Down vào khoảng 10 - 15% và khoảng 1 - 2% nếu bố là người mang
Trang 25Bộ môn Di truyền Y học- 2019
22
Câu 17 Trình bày nguyên nhân, tần suất, biểu hiện lâm sàng của hội chứng Edward
Nguyên nhân và tần suất:
- Thể tam nhiễm 18 là loại thể tam nhiễm được gặp phổ biến vào hàng thứ hai trong số các trường hợp thể tam nhiễm của NST thường
- Tần suất mắc là 1/6000 trẻ sinh sống
- Hơn 95% trường hợp hội chứng Edwards là do thể tam nhiễm 18, dạng khảm chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
- Giống như trường hợp thể ba nhiễm 21, sự xuất hiện thể ba nhiễm sắc thể
18 liên quan tới sự gia tăng tuổi mẹ và 90% trường hợp NST 18 thừa được nhận
từ mẹ
- Trên 95% trường hợp thai mang thể tam nhiễm 18 bị sẩy ngẫu nhiên trong thai kỳ
Biểu hiện lâm sàng:
- Trẻ có trọng lượng sơ sinh thấp
- Chậm phát triển tâm thần
- Khuôn mặt điển hình với tai nhỏ, vành tai vểnh ra ngoài, miệng nhỏ, há
ra khó khăn
- Xương ức ngắn
- Bàn tay nắm chặt điển hình với ngón trỏ đè lên trên ngón giữa
- Bàn chân rocker bottom
- Hầu hết các trẻ này đều mắc các dị tật bẩm sinh quan trọng như tật tim bẩm sinh (thường là khuyết tật của vách ngăn tâm thất)
- Dị tật khác: thoát vị rốn, thoát vị cơ hoành
- Khoảng 50% trẻ mắc hội chứng này chết trong tháng đầu tiên, chỉ có khoảng 10% sống đến 12 tháng tuổi Các trường hợp thể tam nhiễm 18 sống tới tuổi thiếu nhi có hiện tượng chậm phát triển nặng nề, hầu hết trẻ không thể đi được
Trang 26- Giống như trường hợp thể tam nhiễm 21 và 18, sự xuất hiện thể tam nhiễm
13 cũng có sự liên quan chặt chẽ với sự gia tăng tuổi mẹ
- Trên 95% trường hợp thai mang thể tam nhiễm 13 bị sẩy ngẫu nhiên trong thai kỳ
Biểu hiện lâm sàng
- Chậm phát triển tâm thần
- Trẻ có bất thường sọ mặt với các tật như khe hở môi hàm nặng, mắt nhỏ
- Dị tật của hệ thần kinh trung ương được gặp phổ biến
- Đôi khi có thể gặp tình trạng bất sản da đầu vùng chẩm sau
- Có thể thừa ngón sau trục (thừa ngón út)
- Bàn chân rocker bottom
- Dị tật khác như thận đa nang (có thể phát hiện được từ trong thười kỳ bào thai)…
- 90% trẻ này chết trong năm đầu sau sinh
Trang 27Bộ môn Di truyền Y học- 2019
24
Câu 19 Trình bày nguyên nhân, tần suất, biểu hiện lâm sàng của hội chứng Turner
Nguyên nhân và tần suất
- Tần số xuất hiện hội chứng này là 1/5000 trong số trẻ gái sinh sống nhưng tần số thể đơn nhiễm X trong thai kỳ chiếm tới 4% nghĩa là có trên 99% thai mang thể đơn nhiễm X đã bị sẩy thai ngẫu nhiên
- Bất thường NST ở những người mắc hội chứng Turner khá đa dạng + Khoảng 50% bệnh nhân có karyotype 45,X khi đánh giá trên tế bào lympho ở máu ngoại vi
+ Khoảng từ 30-40% ở dưới dạng khảm, phổ biến là 46,XX/45,X, dạng 46,XY/45,X ít gặp hơn (khoảng 5%)
+ Khoảng 10-20% có bất thường cấu trúc NST X như mất đoạn một phần hoặc toàn bộ nhánh ngắn của NST X
Sự đa dạng này giải thích sự khác biệt rất lớn trong biểu hiện kiểu hình của những người mắc hội chứng Turner
Biểu hiện lâm sàng
- Người mắc hội chứng Turner có kiểu hình là nữ với các biểu hiện đặc trưng sau: (1) lùn cân đối; (2) nhi hóa về giới tính và loạn sản buồng trứng; (3) mang một số các dị tật lớn hoặc nhỏ
- Khuôn mặt hình tam giác
- Lỗ tai ngoài quay về phía sau
- Cổ rộng và có “màng”
- Ngực rộng và có hình khiên
- Nhiều bệnh nhân bị bệnh tim bẩm sinh
- Khoảng 50% có bất thường cấu trúc của thận nhưng thường không gây nên các hậu quả bệnh lý
- Thường không bị chậm phát triển tâm thần
- Hầu hết đều vô sinh
- Có thể quan sát thấy tình trạng phù bạch mạch ở bàn tay và bàn chân của trẻ sơ sinh mắc hội chứng này
Ở tuổi dậy thì những người mắc hội chứng Turner cần được điều trị bằng Estrogen
để thúc đẩy sự phát triển các đặc tính sinh dục phụ Ngoài ra, điều trị bằng hormone tăng trưởng cũng có thể giúp bệnh nhân đạt được chiều cao trung bình
Trang 28Bộ môn Di truyền Y học- 2019
25
Câu 20 Trình bày nguyên nhân, tần suất, biểu hiện lâm sàng của hội chứng Klinefelter
Nguyên nhân và tần suất
- Tần suất mắc bệnh khoảng 1/1000 trẻ nam
- 50% trường hợp Klinefelter có NST X thừa xuất phát từ mẹ và có sự gia tăng
tỉ lệ mắc theo tuổi mẹ
- Dạng khảm được thấy trong khoảng 15% trường hợp
- Mặc dù biểu hiện kiểu hình tương đối nhẹ nhưng người ta ước tính có tối thiểu 50% số thai mang karyotype 47,XXY bị sẩy ngẫu nhiên
Biểu hiện lâm sàng
- Người nam mắc hội chứng này có xu hướng cao trên trung bình
- Tay và chân dài không cân đối với cơ thể
- Khám lâm sàng sau tuổi dậy thì thấy tinh hoàn nhỏ
- Hầu hết đều bị vô sinh do teo các ống sinh tinh
- Biểu hiện vú lớn (gynecomasty) được thấy trên khoảng một phần ba bệnh nhân
- Mặc dù người nam mắc hội chứng Klinefelter thường không bị chậm phát triển tâm thần nhưng cũng có biểu hiện khó khăn về học và có trí thông minh dưới mức trung bình
Do biểu hiện của hội chứng thường không rõ ràng nên phần lớn bệnh nhân được chẩn đoán muộn, thường là sau tuổi dậy thì và đôi khi thường đến khám với
lý do vô sinh
Ngày nay những người Klinefelter vẫn có thể có con sinh học nhờ hỗ trợ sinh sản thông qua phẫu tích tinh hoàn
Trang 29Các dạng đột biến cấu trúc NST
Mất đoạn (deletion)
Một đoạn NST bị mất, đoạn mất có thể nằm ở một đầu cùng của NST hoặc
là một đoạn kẻ nằm trong nhánh ngắn hoặc nhánh dài của NST Đôi khi mất đoạn xảy ra ở cả hai đầu cùng của NST, trường hợp này thường dẫn đến việc tạo thành NST hình nhẫn (ring chromosome) Hiện tượng mất đoạn còn được gọi với tên thể đơn nhiễm một phần (partial monosomy)
Đảo đoạn (inversion)
Một đoạn NST bị đảo ngược vị trí, tùy theo việc đoạn đảo có hoặc không ảnh hưởng đến tâm động mà được chia ra hai loại: (1) Đảo đoạn quanh tâm (pericentric) với đoạn đảo bao gồm cả tâm động và (2) đảo đoạn ngoài tâm (paracentric) với đoạn đảo chỉ khu trú trên nhánh p hoặc q của NST
Nhân đoạn (duplication)
Một đoạn của NST bị lặp lại, đoạn lặp có thể nằm cạnh nhau hoặc xa nhau, cùng chiều (tandem dup.) hoặc ngược chiều (mirror dup.)
NST đều (iso chromosome)
Xảy ra do bất thường trong việc tách NST sau khi nhân đôi dẫn đến hình thành 2 NST, một NST gồm 2 nhánh p và một NST gồm 2 nhánh q
Chèn đoạn (insertion)
Một đoạn NST được chuyển từ NST này đến chèn vào NST khác
Chuyển đoạn tương hỗ (reciprocal trans.)
Có sự trao đổi đoạn giữa 2 NST không tương đồng
Chuyển đoạn Robertson (Robertsonian trans.)
Còn gọi là chuyển đoạn hòa hợp tâm (centrifusion trans.) Chuyển đoạn xảy
ra giữa 2 nhánh dài của 2 NST tâm đầu, phần vệ tinh bị mất
Trang 30Bộ môn Di truyền Y học- 2019
27
Câu 22 Trình bày các kỹ thuật nhuộm băng nhiễm sắc thể
1 Kỹ thuật nhuộm băng G (G-band): nhuộm băng NST bằng thuốc
nhuộm Giemsa sau khi đã xử lý NST bằng Trypsin Đây là phương pháp nhuộm được sử dụng rộng rãi để đánh giá các bất thường của NST về số lượng và cấu trúc Qua kỹ thuật nhuộm band G, trên NST xuất hiện các band sáng tối, trong đó band tối chứa DNA giàu AT và được cho là chứa
ít gene hoạt động hơn so với DNA ở vùng band sáng Với kỹ thuật này
sẽ có khoảng 350 - 550 band (trên bộ NST đơn bội) ở kỳ giữa Mỗi band
có 5 - 10 x 106 cặp base (bp) của DNA (do mỗi gene chứa trung bình khoảng 30.000 bp nên mỗi band trung bình chứa khoảng từ vài đến hàng trăm gene)
2 Kỹ thuật nhuộm băng Q (Q-band): nhuộm NST bằng thuốc nhuộm
huỳnh quang quinacrin Kỹ thuật cho hiển thị băng tương tự như nhuộm băng G tuy nhiên không được dùng rộng rãi do đòi hỏi phải sử dụng kính hiển vi huỳnh quang
3 Kỹ thuật nhuộm băng R (reverse band, R-band): đòi hỏi phải xử lí
NST bằng nhiệt trước khi nhuộm Kỹ thuật này cho phép hiển thị các băng sáng tối ngược với phương pháp nhuộm băng Q và G Kỹ thuật này tạo thuận lợi cho việc đánh giá các bất thường ở các đầu cùng của NST
4 Kỹ thuật nhuộm băng C (C-band): cho phép nhuộm và đánh giá các
vùng dị nhiễm sắc (heterochromatin) nằm cạnh tâm động
5 Kỹ thuật nhuộm NOR (nucleolar organizing region): vùng cấu tạo
nên hạch nhân): cho phép nhuộm các vệ tinh và các cuống ở các NST tâm đầu
6 Kỹ thuật nhuộm băng G với độ phân giải cao (high resolution banding): NST được nhuộm khi đang ở kỳ đầu (prophase) hoặc vào giai
đoạn sớm của kỳ giữa (prometaphase) sau khi xử lí bằng các hóa chất thích hợp, do đó tổng số băng của NST từ 300 đến 450 band trong kỹ thuật nhuộm băng thường có thể tăng lên đến 800 band vì vậy cho phép phát hiện các bất thường nhỏ trong cấu trúc của các NST
Trang 31Bộ môn Di truyền Y học- 2019
28
Câu 23 Trình bày những nét cơ bản về bệnh tăng phenylalanine máu
- Khuyết tật trong chuyển hóa phenylalanine (một amino acid thiết yếu) gây
ra chứng tăng phenylalanine máu Khuyết tật này gây ra bởi các đột biến trên các gene mã hóa cho các thành phần tham gia vào con đường hydroxy hóa phenylalanine
- Đây là bệnh di truyền gene lặn trên nhiễm sắc thể thường Hầu hết các trường hợp tăng phenylalanine máu gây ra bởi các đột biến của enzyme phenylalanine hydroxylase (PAH) và gây ra bệnh phenylketonuria cổ điển (classical phenylketonuria, PKU) Đã có trên 400 đột biến đã được xác định trên gene PAH gồm các dạng thay thế, mất và thêm nucleotide
- Sự gia tăng nồng độ của phenylalanine trong huyết tương sẽ làm tổn hại đến các quá trình hoạt động bình thường của tế bào trong não như myelin hóa, tổng hợp protein, gây ra tình trạng chậm trí nặng
- Tỷ lệ mắc bệnh tăng phenylalanine máu thay đổi khá lớn giữa các nhóm chủng tộc, với tỷ lệ bệnh PKU thay đổi từ 1/10.000 ở người da trắng đến 1/90.000
ở người Châu Phi
- Mẹ mắc bệnh PKU nếu không được theo dõi, điều trị chặt chẽ trong quá trình mang thai thì con sinh ra mặc dù có kiểu gene dị hợp tử nhưng có thể bị chậm trí, tật đầu nhỏ, kém phát triển, và có các dị tật khác Nguyên nhân là do nồng độ alanine cao trong máu mẹ qua nhau thai vào tuần hoàn thai và gây độc
13 - 19 tuổi), tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy việc điều trị suốt cả cuộc đời đem lại nhiều lợi ích hơn cho các bệnh nhân PKU
Trang 32cơ tái phát thường khó khăn hơn rất nhiều Nguyên nhân là do không biết rõ (1)
số lượng gene đã đóng góp vào quá trình gây bệnh; (2) cấu trúc kiểu gene chính xác của bố mẹ và (3) phạm vi tác động của các yếu tố môi trường
- Đối với hầu hết các bệnh di truyền đa yếu tố, nguy cơ tái phát được đưa
ra dựa trên việc quan sát trực tiếp các dữ kiện liên quan đến sự xuất hiện của bệnh
đã thu thập được trên một số lượng lớn gia đình có người mắc bệnh, vì vậy nó được gọi là nguy cơ kinh nghiệm (empiric risk)
Ví dụ: ở Anh qua nghiên cứu cho thấy có khoảng 5% anh chị em ruột của người mắc tật của ống thần kinh có nguy cơ mắc bệnh Như vậy một cặp bố mẹ người Anh nếu đã có một đứa con mắc khuyết tật của ống thần kinh thì nguy cơ tái phát sẽ là 5%
- Vì các yếu tố nguy cơ thay đổi giữa các loại bệnh khác nhau nên nguy cơ kinh nghiệm cũng mang tính đặc hiệu cho từng loại bệnh thuộc nhóm di truyền
đa yếu tố và có thể thay đổi đáng kể từ quần thể này sang quần thể khác Điều này xảy ra do tần số của các gene cũng như các yếu tố môi trường có thể khác nhau giữa các quần thể
Ví dụ: nguy cơ tái phát của các khuyết tật của ống thần kinh ở Bắc Mỹ khoảng từ 2 - 3%, thấp hơn so với ở Anh (5%)
- Đôi khi cũng khó phân biệt giữa các bệnh di truyền đa gene (polygenic) hay bệnh di truyền đa yếu tố với các bệnh di truyền đơn gene có tính thấm thấp hoặc có biểu hiện đa dạng Để có thể phân biệt phải cần một lượng lớn thông tin
và các số liệu đáng tin cậy về mặt dịch tễ
Trang 33- Khoảng 20 – 30 % trường hợp người có kiểu hình nữ mang bộ nhiễm sắc thể 46,XY là do đột biến điểm hoặc mất đoạn gene SRY Sự phát triển noãn bào chỉ cần một NST X nhưng để duy trì các noãn bào này thì cần có 2 NST Vì vậy người có kiểu hình nữ mang bộ nhiễm sắc thể 46,XY thường
có buồng trứng nhưng những nang noãn thường thoái hóa sau sinh
Tần suất:
- Tỷ lệ mắc bệnh của 46, XX có kiểu hình nam và 46,XY kiểu hình nữ khoảng 1/20 000
Biểu hiện lâm sàng:
Những biểu hiện chính của bệnh này bao gồm: Mơ hồ giới tính, giảm các đặc tính sinh dục phụ, vô sinh
Người nam mang bộ nhiễm sắc thể 46,XX SRY(+): thường có nhiều triệu chứng tương tự hội chứng Klinefelter như
- Thiểu sản sinh dục
- Vô tinh
- Vú to
- Chiều cao thì bình thường hoặc lùn
Người nữ mang bộ nhiễm sắc thể 46,XY SRY(-):
- Thường cao hơn chiều cao trung bình của nữ
- Nếu SRY(-) có liên quan mất đoạn nhánh dài nhiễm sắc thể Y thì bệnh nhân có những đặc điểm của hội chứng Turner
- Cơ quan sinh dục dạng vết nên không dậy thì tự phát
Những bệnh nhân do đột biến mất đoạn hoặc chuyển đoạn SRY thì thường có tính thấm hoàn toàn và biểu hiện tương đối đồng nhất, trong khi đó những bệnh nhân đột biến điểm gene SRY thì biểu hiện đa dạng và có tính thấm không hoàn toàn Những bệnh nhân này cũng thường cao hơn người nữ bình thường
Một số ít trường hợp đột biến điểm SRY có đặc điểm sinh sản trong gia đình khá đặc biệt: những người nữ vô sinh, còn những người nam thì có khả năng sinh sản
Ban chủ nhiệm Bộ môn Di truyền Y học
Trang 34
ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
BỘ MÔN GIẢI PHẪU HỌC
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI BÁC SĨ NỘI TRÚ
MÔN: GIẢI PHẪU HỌC
Huế, 2012
Trang 352
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI BÁC SĨ NỘI TRÚ
MÔN GIẢI PHẪU HỌC
Mô tả các tam giác cổ
Mô tả các môi trường trong suốt của nhãn cầu
Mô tả hình thể ngoài thân não
Mô tả mặt trên ngoài đoan não
Mô tả hình thể trong thanh quản
Mô tả dây thần kinh vận nhãn
Mô tả dây thần kinh sinh ba
Mô tả dây thần kinh mặt
Mô tả xương vai
Mô tả cấu tạo, nhánh tận của đám rối thần kinh cánh tay
Mô tả các cơ vùng cánh tay trước
Mô tả xương đùi
Mô tả xương chày
Mô tả hình thể ngoài và liên quan của tim
Mô tả hình thể ngoài của phổi
Mô tả giới hạn và phân khu của trung thất, kể tên các thành phần được chứa đựng trong trung thất tương ứng
Mô tả hình thể ngoài và liên quan của dạ dày
Mô tả hình thể ngoài và liên quan của gan
Mô tả hình dạng, vị trí và liên quan của manh tràng và ruột thừa
Mô tả hình thể ngoài, kích thước và liên quan của thận
Mô tả buồng trứng
Mô tả tử cung: hướng, tư thế, hình thể ngoài và liên quan
Mô tả âm đạo
Bộ môn Giải phẫu học
Trang 363
Câu 1 Xương hàm dưới
Xương hàm dưới là một xương đơn hình móng ngựa, có một thân và hai ngành
hàm, ngành hàm tiếp khớp với xương thái dương bằng một khớp động là khớp thái dương - hàm dưới
1 Thân xương: có hai mặt
1.1 Mặt ngoài
Ở giữa nhô ra thành lồi cằm, hai bên lồi cằm có lỗ cằm và đường chéo
1.2 Mặt trong (hay mặt sau)
Ở giữa có bốn mấu nhỏ gọi là gai cằm, hai bên gai cằm là đường hàm móng để
cơ hàm móng bám Trên đường hàm móng là hố dưới lưỡi để tuyến nước bọt dưới lưỡi nằm; dưới đường hàm móng là hố dưới hàm để cho tuyến nước bọt dưới hàm nằm
1.3 Bờ trên: có 16 huyệt răng
1.4 Bờ dưới: có hố cơ hai thân
2 Ngành hàm
Hướng lên trên và ra sau, tận cùng bằng hai mỏm Ở trước là mỏm vẹt; sau là mỏm lồi cầu Mỏm lồi cầu gồm có hai phần: chỏm hàm dưới và cổ hàm dưới Giữa mỏm lồi cầu và mỏm vẹt là khuyết hàm dưới Ngành hàm có hai mặt và bốn
Ngành hàm và thân xương hàm dưới gặp nhau ở góc hàm, một mốc giải phẫu quan trọng trong giải phẫu và nhân chủng học
Trang 374
Xương hàm dưới
A Thân xương hàm dưới B Ngành hàm
1 Chỏm hàm dưới 2 Cổ hàm dưới 3 Khuyết hàm dưới 4 Mỏm vẹt 6 Lưỡi hàm
dưới 7 Lỗ hàm dưới 9 Răng 10.Đường hàm móng 11.Lồi cằm
13.Góc hàm 14.Đường chéo 15.Lỗ cằm
Trang 385
Câu 2 Nền sọ trong
Nền sọ trong gồm ba hố sọ từ trước ra sau như hình bậc thang:
1 Hố sọ trước: Nâng đỡ thùy trán của đại não, cấu tạo bởi: phần ổ mắt của
xương trán, mảnh sàng, cánh nhỏ và phần trước của thân xương bướm Có các chi tiêt sau:
- Ở giữa có: mào trán, lỗ tịt, mào gà, rãnh giao thoa thị giác, mà hai đầu rãnh là hai lỗ ống thị giác, ống này có dây thần kinh thị giác (II) và động mạch mắt đi qua
- Hai bên có các lỗ sàng để cho các sợi của dây thần kinh khứu giác (I) đi qua
Giới hạn giữa hố sọ trước và hố sọ giữa là bờ sau cánh nhỏ xương bướm và rãnh giao thoa thị giác Ở đây có khe ổ mắt trên do cánh nhỏ và cánh lớn xương bướm tạo nên, qua khe ổ mắt trên có các dây thần kinh III, IV, VI và nhánh mắt của dây thần kinh sinh ba (V) đi qua
2 Hố sọ giữa
Nâng đỡ thùy thái dương của đại não Cấu tạo bởi phần giữa của thân xương bướm, cánh lớn xương bướm và mặt trước phần đá xương thái dương Gồm có các chi tiết sau
- Hố tuyến yên và các mỏm yên bướm trước và mỏm yên bướm sau
- Khe ổ mắt trên có các dây thần kinh III, IV, VI và nhánh mắt của dây thần kinh sinh ba (V), các tĩnh mạch mắt đi qua
- Lỗ tròn: có nhánh thần kinh hàm trên của dây thần kinh sinh ba đi qua
- Lỗ bầu dục: có nhánh thần kinh hàm dưới của dây thần kinh sinh ba đi qua
- Lỗ gai: có động mạch màng não giữa đi từ ngoài vào trong sọ
- Lỗ rách: có một màng xơ sụn che phủ và dây thần kinh ống chân bướm đi qua
- Vết ấn của dây thần kinh sinh ba có hạch sinh ba nằm
3 Hố sọ sau
Nâng đỡ tiểu não và thân não Cấu tạo bởi lưng yên, mặt sau phần đá xương thái dương, một phần của xương chẩm Gồm có các chi tiết sau
- Lỗ lớn có hành não đi qua
- Lỗ ống tai trong có các dây thần kinh số VII, VIII đi qua
- Lỗ tĩnh mạch cảnh có các dây thần kinh số IX, X, XI và tỉnh mạch cảnh trong đi qua
- Ông thần kinh hạ thiệt có dây thần kinh hạ thiệt đi qua
- Ông lồi cầu có tĩnh mạch liên lạc đi qua
Ngoài ra còn có rãnh của các xoang tĩnh mạch như xoang tĩnh mạch ngang, xoang tĩnh mạch sigma
Trang 396
Ranh giới giữa hai hố sọ giữa và sau là bờ trên phần đá xương thái dương,
ở bờ này có lều tiểu não bám, lều tiểu não có khuyết lều tiễu não họp với giới hạn trước của lưng yên tạo thành một lỗ để cho thân não đi qua Lỗ này hay xảy ra thoát vị thuỳ thái dương của não gọi là thoát vị khuyết lều tiểu não
Trang 407
Nền sọ trong
1 Lỗ tịt 2 Mào gà 3 Mảnh sàng 4 Diện yên
5 Rãnh giao thoa thi giác 6 Ống thị giác 7 Mỏm yên bướm trước
8 Yên bướm 9 Mỏm yên bướm sau 10 Lưng yên
11 Phần nền xương chẩm 12 Ống hạ thiệt 13 Lỗ lớn 14 Mào chẩm trong
15 Ụ chẩm trong 16 Cánh nhỏ xương bướm 17 Khe ổ mắt trên
18 Lỗ tròn 19 Lỗ bầu dục 20 Lỗ gai 21 Rãnh TK đá bé 22 Lỗ rách
23 Lỗ ống tai trong 24 Lỗ cảnh 25 Rãnh xoang tĩnh mạch sigma