1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

On thi Chieu toi

7 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 11,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Big thơ được ra đời vào khoảng mùa thu năm 1942 trên con đường HCM bị áp giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo -> Trên con đường tù đày với “53 dặm một ngày trời” ấy Bác đã vượt[r]

Trang 1

Chiều tối

Vấn đề 1 : Chép phần phiên âm và dịch nghĩa bài thơ “Mộ” So sánh và

đánh giá độ chênh lệch giữa bản dịch thơ và nguyên tác

“Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

* So sánh:

- ở hai câu đầu phần nguyên tác “cô vân mạn mạn” nghĩa là chòm mây

cô đơn trôi lững lờ Song ở bản dịch thơ lại là “chòm mây trôi nhẹ” Như vậy là chưa lột tả được cái thần của cảnh vật, chưa biểu đạt được cái tâm trạng ẩn chứa bên trong hình ảnh chòm m ây đó là “cô đơn, có một cái gì

đó của sự nóng lòng sốt ruột”

- ở câu 3 hình ảnh “sơn thôn thiếu nữ” dịch là cô em xóm núi đ• làm mất đi cái nhìn trân trọng đối với người lao động Hơn thế ở nguyên tác không cần có chữ tối (như bản dịch thơ mà vẫn thể hiện được trời đ• tối)

- ở câu 3 và câu 4 có sự điệp lại cụm từ “ma bao túc”- “bao túc ma” như gợi ra những vòng quay đều đặn liên tục của chiếc cối xay, điều đó bản dịch thơ chưa lột tả được

Vấn đề 2: Bình giảng bài thơ Mộ

A Đặt vấn đề:

- Chiều tối là bài thơ thứ 31 trong 133 bài ở tập NKTT của Hồ Chí Minh Big thơ được ra đời vào khoảng mùa thu năm 1942 trên con đường HCM bị áp giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo

-> Trên con đường tù đày với “53 dặm một ngày trời” ấy Bác đã vượt lên hoàn cảnh cơ cực để đồng cảm với thiên nhiên, cuộc sống, con người

- Vẻ đẹp của bài thơ “Chiều tối” không chỉ là vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên – vẻ đẹp của con người lao động mà quan trọng hơn là vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình

B Giải quyết vấn đề:

I Hai câu thơ đầu đã thể hiện rõ cảnh thiên nhiên chiều tối và ẩn chứa bên trong là tâm trạng con người trước cảnh chiều tối:

Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Trang 2

+ Một khung cảnh thiên nhiên nơi rừng núi lúc chiều tối Có cánh chim chiều mệt mỏi đang bay về tổ Có chòm mây lẻ loi, lững lờ trôi giữa tầng không

+ Một không gian rộng lớn, thinh vắng trong cái thời khắc cuối cùng của một ngày

1 Cảnh chiều tối được gợi lên bắt đầu từ hình ảnh cánh chim khá quen thuộc:

“Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ”

a Chỉ với cánh chim bay về rừng này câu thơ đã lộ rõ thời gian đang trôi dần về tối ở vùng sơn cước Cách diễn tả thời gian bằng hình ảnh cánh chim ấy vốn là motip quen thuộc trong thi ca phương Đông

“Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao)

“Chim hôm thoi thót về rừng” (Nguyễn Du)

“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” (Huy Cận)

- Tuy nhiên hình ánh cánh chim trong chiều tối vốn còn có những nét khác với thi ca truyền thống

+ Cánh chim trong cổ thi thường bay với sự phiêu bạt

“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”

Hay:

“Thiên sơn điểu phi tuyệt”

(Ngàn non bóng chim tắt)

(Liễu Tông Nguyên)

=> Đây đều là những cánh chim bay mất hút trong không gian vô tận của ngàn non Đằng sau nó là tâm trạng cô độc, bất lực trước cái vô cùng của không gian vũ trụ

+ Còn trong “Chiều tối” của HCM thì cánh chim không hề vô vọng mà đang tìm về tổ ấm - tìm về sự sống, nó vừa là một nét vẽ phác hoạ không gian vừa gợi ra ý niệm thời gian

b Hình ảnh cánh chim trong chiều tối bên cạnh ý nghĩa biểu hiện thời gian, không gian còn có ý nghĩa biệu hiện tâm trạng

- Chim bay về rừng là tín hiệu của buổi chiều tối nhưng ở đây chim bay trong trạng thái mệt mỏi – “quyện điểu”

-> Hình tượng cánh chim trong thơ Bác không chỉ được quan sát ở trạng thái vận động bên ngoài như trong thơ xưa (cánh chim bay) mà còn được cảm nhận rất sâu ở trạng thái bên trong (cánh chim mỏi mệt)

- Phải chăng trạng thái ấy đã phần nào nói lên cảnh ngộ và tâm trạng của người đang nhìn cảnh chiều? Có thể thấy một sự gần gũi, tương đồng giữa cánh chim mỏi mệt sau một ngày kiếm ăn với người tù đã thấm mệt sau một ngày vất vả lê bước trên đường đi đày, chiều tối mà vẫn chưa biết đâu là chốn nghỉ Sự tương đồng của hoàn cảnh ấy đã tạo ra mối tương

Trang 3

thông giữa người và cảnh Ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh Trong ý thơ có

sự hoà hợp, đồng điệu giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên Cội nguồn của sự cảm thông ấy là tình yêu thương mênh mông của Bác dành cho mợi sống trên đời

2 Nếu câu khai chủ yếu gợi về thời gian thì câu thừa lại gợi về mặt không gian chiều tối

Cô vân mạn mạn độ thiên không

a So với nguyên tác thì câu thơ dịch chưa lột tả được ý thơ nguyên tác

là chòm mây cô đơn trôi lững lờ trên tầng không

=> Như vậy hai chữ “cô vân” không chỉ nói lên một chòm mây đơn lẻ giữa trời chiều mà còn diễn tả tâm trạng buồn bã lẻ loi giữa cái bao la của không gian chiều tối

b Hình ảnh “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” gợi nhớ câu thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay”

và thơ Nguyễn Khuyến “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu) Vẫn

là một thi liệu quen thuộc nhưng mây trong thơ Bác không gợi sự vĩnh viễn hay mang cái khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không mà là một chòm mây cô đơn, đang chậm chậm trôi giữa bầu trời bao la Chòm mây như có hồn người, nó như mang cái tâm trạng lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước sẽ đến đâu của người tù nơi đất khách

c Có thể nói câu thơ thứ hai với hình ảnh chòm mây cô đơn trôi lững lờ trước hết đã gợi lên một không gian hoang vắng mênh mông Hơn thế, trong hình ảnh này nhà thơ còn gửi gắm niềm cô đơn, sự sốt ruột bởi cảnh tù hãm, niềm khát khao về một bến bờ bình yên

d Hai câu thơ đầu của bài Chiều tối còn gợi nhớ hai câu thơ của Lí Bạch trong bài: “Độc toạ Kính Đình sơn” (Một mình ngồi trên núi Kính Đình)

“Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn”

(Bầy chim một loạt bay cao

Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình)

(Xuân Diệu dịch)

-> Có thể thấy, nếu cánh chim trong thơ Lí Bạch bay mất hút vào cõi

vô tận thì trong thơ Bác, đó là cánh chim ccủa đời sống hiện thực, nó bay theo cái nhịp điệu quen thuộc và bình ổn của cuộc sống: sáng bay đi kiếm

ăn, tối bay về rừng tìm chốn ngủ ánh mây của Lí Bạch bay nhàn tản gợi cảm giác thoát tục, còn chòm mây trong thơ Bác toát lên cái vẻ yên ả, thanh bình của đời sống thường ngày

* Tóm lại:

Trang 4

- Hai câu khai, thừa của bài thơ đã tái hiện được bức tranh thiên nhiên nơi sơn cước lúc chiều tối Bức tranh ấy đã được thể hiện qua bút pháp chấm phá lấy điểm để gợi diện Chỉ bằng hai hình ảnh: cánh chim, chòm mây mà vừa gợi được thời gian, vừa gợi được không gian của buổi chiều tối

- Từ bức tranh thiên nhiên ấy đã biểu lộ cảnh ngộ và tâm trạng của người ngắm cảnh Đó là sự cô đơn và nỗi buồn- nỗi buồn của người xa xứ đang bị áp giải giữa cảnh núi rừng khi chiều tối dần buông

-> Qua nỗi buồn cô đơn ở hai câu mở đầu bài thơ “Chiều tối” chúng ta càng thấy rõ hơn một điều đó là: “Nhật kí trong tù” của HCM không chỉ biểu hiện một tâm hồn lớn lao cao cả mà còn chân thành bày tỏ những nỗi niềm riêng của một con người như mọi con người

- Thế nhưng, dù bị giải đi từ lúc “Gà gáy một lần đêm chửa tan”, phải hứng chịu “Gió thu lạnh lẽo từng trận từng trận táp vào mặt”, phải trải qua

“Năm mươi ba cây số một ngày- Mũ áo dầm mưa rách hết giày” trong tình cảnh “xiềng xích thay dây trói” và rồi “Lại khổ thâu đêm không đủ chỗ-Ngồi trên hố xí đợi ban mai”, tâm hồn của Bác vẫn luôn hướng về thiên nhiên Từ bức tranh thiên nhiên , ta thấy một cái nhìn trìu mến dõi theo từng biểu hiện của tạo vật Đằng sau cái nhìn ấy, cháy bỏng và khắc khoải một ước mong sum họp, một niềm khao khát tự do

- Mệt mỏi, đau đớn và chán chường, vậy mà cảm hứng thơ vẫn đến với Bác Không có chân dung người tù khổ ải mà chỉ hiện ra cái dáng vẻ, phong

độ của bậc tao nhân mặc khách đang ung dung, thư thái thưởng ngoạn cảnh chiều hôm nơi núi rừng Những câu thơ mềm mại nhưng thực ra lại có chất thép bên trong Nếu không có ý chí và nghị lực phi thường vượt lên hoàn cảnh, có bản lĩnh kiên cường và sự tự chủ, tự do hoàn toàn về tinh thần ở Bác thì cũng khó có được những vần thơ cảm nhận thiên nhiên sâu sắc, tinh

tế như thế trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt Quả đúng là thơ bác có sự hoàquyện giữa chất thép và cái tình, chất thép càng sâu nặng thì cái tình càn bao la:

“Vần thơ của Bác, vần thơ thép

Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”

(Hoàng Trung Thông)

II Hai câu tiếp theo của bài Chiều tối là bức tranh về cuộc sống sinh hoạt của con người

1 Nếu hai câu khai, thừa là cảnh sắc thiên nhiên mang đậm phong vị cổ điển thì hai câu chuyển, hợp lại là hình ảnh xã hội mang màu sắc thơ ca hiện đại:

Hai câu thơ sau của bài thơ có sự vận động chuyển đổi cả về mặt thời gian và không gian

- Nếu thời gian ở hai câu đầu là chiều muộn thì ở hai câu sau là đêm tối

Trang 5

- Nếu trên là không gian mở ra ở chièu cao, rộng thì ở hai câu thơ sau lại là không gian khép dần lại thu vào ngôi nhà xóm núi và cuối cùng là hội

tụ ở lò lửa hồng

2 Câu thơ chuyển quả là hoàn toàn chuyển đổi đúng với chức năng của nó: từ trời mây chim chóc đến chuyển sang con người: “Sơn thôn thiếu nữ

ma bao túc”

a Hình ảnh con người ở đây thật mới mẻ nếu so với hình ảnh con người trong thơ cổ và lãng mạn

- Trong thơ cổ, hiện lên dưới cánh chim ngàn thường là hình ảnh của con người đạo sĩ hoặc ẩn sĩ:

“Nghìn non bóng chim tắt

Muôn nẻo dấu người không

Thuyền đơn ông tơi nón

Một mình câu sông tuyết”

(Giang tuyết – Liễu Tông Nguyên)

- Và trong thơ lãng mạn là bóng gian nhân u sầu buồn bã

“Mây vẩn từng không chim bay đi

Khi trời u uất hận chia ly

ít nhiều thiếu nữ buồn không nói”

(ĐMTT – Xuân Diệu)

b Còn trong CT cũng là sơn nữ nhưng không phải cô gái “mắt xanh biêng biếc một mình tương tư” mà là sơn nữ với công việc nhà nông

- Người thiếu nữ trong chiều tối đang xay ngô mang một vẻ đẹp khoẻ khoắn của người lao động đang mải mê với cồng việc

+ Vẻ đẹp khoẻ khoắn say mê trong công việc của sơn thôn thiếu nữ được đặc tả qua điệp từ lliên hoàn: “ma bao túc” – “bao túc ma” Với điệp ngữ này đã nối liền các dòng thơ như diễn tả vòng quay liên tục, đều đặn của động tác xay ngô

+ Câu thơ chỉ gợi tả thế thôi mà chất chứa bao sự cảm thông yêu thương trong đó: HCM đã quên đi nỗi vất vả của riêng mình để đồng cảm với cô gái đảm đang đang đảm đương công việc nặng nề liên tiếp

- Trong thơ cổ dù mạch thơ cũng vận động từ bức tranh thiên nhiên đến đời sống con người nhưng bóng dáng con người thấp thoáng, mờ nhạt, nhỏ

bé và thiếu vắng sự sống đang vận động Hình ảnh con người chỉ tôn thêm cái hoang sơ, hùng vĩcủa đất trời thiên nhiên Còn ở đây, trong thơ Bác, hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khoẻ mạnh, đầy sức sống Giữa núi rừng mênh mông, thiếu nữ sơn cước không bị hoà lẫn vào cảnh vật hay trở nên nhỏ bé, yếu ớt mà trái lại, chính cô là điểm sáng của bức tranh, là trung tâm của cảnh vật Công việc lao động của cô, ngọn lửa hồng từ lò than

và nhiệt huyết của tuổi trẻ đã làm bừng sáng và sưởi ấm không gian rừng núi

Trang 6

chiều tối âm u, heo hút Khung cảnh ấy dễ đưa lại cho người đi đường, nhất

là người tù, hơi ấm của sự sống, niềm vui và niềm hạnh phúc bình dị, thường nhật

3 Câu thơ cuối với hình ảnh lô dĩ hồng đã trở thành trung tâm của bức tranh chiều tối, tạo nên sức sống, sự ấm áp

a Với ánh hồng này nhà thơ đã diễn tả thật tinh tế thời gian đi vào buổi tối

- Thực chất lò than ấy đã nhóm lên từ trước nhưng phải đến khi trời tối hẳn thì người đi phía ngoài mới nhìn thấy nó rực sáng lên như vậy

- ở đây nhà thơ dùng hình ảnh ánh sáng để diễn tả bóng tối (theo bút pháp cổ điển lấy động để tả tĩnh) và như vậy bản dịch thơ của tác giả Nam Trân thêm vào một chữ tối ở câu thứ ba đã làm mất mát không ít cái tinh tế của nguyên tác: “Đúng là xay ngô tối nhưng đặt chữ tối vào đây thì sớm quá,

lộ quá Nguyên văn không nói đến tối mà tự nhiên nói đến, thời gian trôi dần theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối xay ngô, quay quay mãi, ma bao túc… bao túc ma hoàn… và đến khi cối xay dừng lại thì

lô dĩ hồng, lò đã rực hồng, tức trời tối, trời tôí thì lò rực lên”

- Ba chữ “ma bao túc” ở câu 3 dược điệp vòng ở đầu câu 4 “bao túc ma hoàn” tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như vừa diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian từ chiều đến tối

b Hình ảnh ảnh hồng ở cuối bài thơ không chỉ toả sáng mà còn toả hơi

ấm xua đi cái cô quạnh nơi không gian núi rừng và với ánh hồng này còn làm đẹp hơn vẻ đẹp hồng hào, khoẻ khoắn của người lao động Đồng thời

nó còn bao hàm diễn tả niềm vui sum vầy của con người sau một ngày vất vả

c Một lần nữa ta lại nhận ra cái nhìn trìu mến hường về sự sống ở Bác Cái nhìn ấy vừa tự nhiên như bao người khác vừa thể hiện sự quan tâm và tình cảm yêu thương của Người với những người lao động nghèo Hai câu thơ có sắc điệu tươi vui cho thấy một niềm phấn khích, thích thú trước vẻ đẹp của cuộc sống đời thường đang dâng lên trong tâm hồn nhà thơ Dường như Người đã hoàn toàn quên đi cảnh ngộ của mình để cảm nhận cuộc sống,

để đồng cảm, sẻ chia với nièm vui Niềm hạnh phúc bình dị của những người lao động tuy vất vả nhưng tự do và tự chủ

d Với một chữ hồng Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm

mất đi sự mỏi mệt, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã điễn tả trongba câu đầu, làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối Chữ

“hồng” trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là con mắt thơ (thi nhãn) hoặc là “nhãn tự” (chữ mắt), nó sáng bừng lên, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa… Với chữ hồng

Trang 7

đó, có ai còn cmả giác nặng nề, mệt mỏi, nhọc nhằn nữa đâu, mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình, cả lao động của cô gái đáng yêu kia Đó là màu đỏ của tình cảm Bác

* Tóm lại:

- ở hai câu cuối bài thơ Chiều tối, bức tranh thiên nhiên u buồn cô quạnh đã được thay thế bằng bức tranh sinh hoạt của con người đầy khoẻ khoắn, ấm áp, tươi tắn

-> Sự vận động của hình tượng thơ ấy đã thể hiện vẻ đẹp tư tưởng HCM: Tràn đầy niềm lạc quan và tình yêu cuộc sống tha thíêt

- Như vậy, cũng giống như nhiều bài thơ khác của Bác, hình tượng thơ trong bài Chiều tối vận động thật khoẻ khoắn, bất ngờ và theo xu thế phát triển: từ ánh chiều âm u tăm tối đến ánh lửa rực hồng, ấm áp; từ mỏi mệt đến khoẻ khoắn; từ buồn đến vui Sự vận động này cho thấy cái nhìn tràn đầy niềm lạc quan yêu đời, thể hiện một tâm hồn luôn hường về sự sống, ánh sáng và tương lai ở nhà thơ - chiến sĩ Hồ Chí Minh

- Gốc rễ của sự vận động trong bài thơ chính là bởi từ tấm lòng nhân ái của HCM, người đã quên đi nỗi bất hạnh của riêng mình hướng tới hạnh phúc đời thường của một gia đình, một cô gái nơi xóm núi bên bếp lửa hồng Người quả là đã “nâng niu tất cả chỉ quên mình”

C Kết luận:

1 Bài thơ chiều tối trước hết đã tái hiện được bức tranh thiên nhiên nơi sơn cước vào lúc chiều tối và cuộc sống bình dị của người lao động Thung Hoa Sự vận động của bức tranh cảnh Chiều tối này là từ u buồn, hoang vắng lạnh lẽo đến sự sống sôi động, ấm áp

2 Bức tranh cảnh chiều tối đã toát lên vẻ đẹp tâm hồn HCM Đó là tấm lòng yêu thương rộng lớn, là tinh thần lạc quan yêu đời của một người tù chiến sĩ, thi sĩ

-> Bài thơ không chỉ miêu tả cảnh chiều nơi sơn cước mà trên hết và toát lên từ toàn bộ thi phẩm là hình tượng nhân vật trữ tình có tấm lòng yêu thương rộng lớn, luôn luôn nâng niu, trân trọng mọi sự sống trên đời Người

đã quên đi cảnh ngộ của bản thân, sự đau đớn của thể xác, sự mệt mỏi về tinh thần để yêu thương và nâng niu một cánh chim chiều, một áng mây trôi, một cảnh lao động vất vả nhưng rất đỗi bình dị, tự do của con người Sự nâng nui ấy xuất phát từ một lẽ sâu xa và lớn đẹp ở Bác:

“Bác sống như trời đất của ta”

(Tố Hữu)

Ngày đăng: 03/10/2021, 07:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w