1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập môn an sinh xã hội

60 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức hưởng bảo hiểm y tế đúng tuyến● 100% chi phí khám, chữa bệnh đối với các đối tượng: a Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; b Sỹ quan, hạ sỹ qu

Trang 1

ÔN TẬP AN SINH XÃ HỘI

1 Tìm hiểu về chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam

I Những thông tin cơ bản về bảo hiểm xã hội

1 Bảo hiểm xã hội là gì?

Căn cứ theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định khái niệm bảohiểm xã hội như sau: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thunhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảohiểm xã hội

Các yếu tố cấu thành các chế độ bảo hiểm xã hội

● Đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội;

● Điều kiện được hưởng bảo hiểm xã hội;

● Mức hưởng và thời hạn hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội

2 Các chế độ bảo hiểm xã hội

Các chế độ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam hiện nay bao gồm:

● a) Chế độ bảo hiểm ốm đau;

● b) Chế độ bảo hiểm xã hội tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;

● c) Chế độ bảo hiểm thai sản;

● d) Chế độ bảo hiểm thất nghiệp;

Trang 2

4 Chức năng của bảo hiểm xã hội

Trên thực tế, nhiều người lao động băn khoăn và không muốn tham gia BHXH vì chorằng mức đóng BHXH khá cao Tuy nhiên, người lao động lại không nắm rõ được lợiích mà BHXH mang lại cho người lao động Vậy thực chất khi đóng bảo hiểm xã hội đểlàm gì?

Bảo hiểm xã hội sẽ giúp bảo đảm thay thế, bù đắp sự thiếu hụt về mặt tài chính chongười lao động và gia đình người lao động khi gặp phải những rủi ro trong cuộc sốngnhư tai nạn, ốm đau, …

Ngoài chức năng trên thì bảo hiểm xã hội sẽ phân phối lại thu nhập cho người lao động.Chức năng này thể hiện ở việc người lao động san sẻ thu nhập theo thời gian Tức là,người lao động sẽ đóng BHXH để dành hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro hay có vấn đề khácnhư thai sản, thất nghiệp hay lương hưu sau này…

5 Bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội

● Bảo hiểm xã hội là lưới đầu tiên quan trọng nhất

+ Chính sách áp dụng với người lao động (chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu dân sốquốc gia, đóng vai trò trong sự phát triển KT-XH) và gia đình

+ Sự vững chắc của hệ thống an sinh sã hội, sự phát triển bền vững của nền kinh tếphản ánh thông qua chính sách BHXH

+ BHXH gián tiếp kích thích và góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định CT-XH

● Điều tiết cách chính sách khác

+ Các chính sách trong hệ thống ASXH phát triển theo xu hướng: đối tượng thamgia và được bảo vệ mở rộng, các chế độ được thực hiện càng nhiều

-> Đời sống người lao động và dân cư được bảo vệ và nâng cao, có điều kiện phát triển

-> góp phần giảm số đối tượng hưởng và nâng cao mức trợ cấp của các chính sáchASXH khác

Trang 3

II Chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam

* Thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Ngày 16-2-1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19CP thành lập Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống lao động - thương binh và xã hội và Liên đoàn lao động Hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý tập trung, thống nhất từ cấp Trung ương đến cấp quận, huyện

* Hợp nhất tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Ngày 24-1-2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển Bảo hiểm y tế (BHYT) Việt Nam sang BHXH Việt Nam

Ngày 6-12-2002, Chính phủ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Hệ thống BHXH Việt Nam vẫn gồm ba cấp Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở Trung ương tăng từ 08 đơn vị giúp việc lên 17 đơn vị

* Luật Bảo hiểm xã hội ra đời

Ngày 29-6-2006, Luật BHXH đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại Kỳ họp thứ 9 Đây là sự kiện đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ chính sách BHXH

* Luật Bảo hiểm y tế ra đời

Ngày 14-11-2008, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật BHYT Đồngthời Chính phủ quyết định lấy ngày 1-7 hằng năm là Ngày BHYT Việt Nam

* Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 21 về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Ngày 22-11-2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020 Nghị quyết này đánh dấu mốc quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội với nhiều đột phá trong thực hiện chính sách BHXH, BHYT, nâng cao vai trò, trách nhiệm cả hệ thống chính trị trong việc tổ chức thực hiện các chính sách này

Trang 4

* Ban hành Luật Việc làm

Ngày 16-11-2013, Quốc hội ban hành Luật Việc làm số 38/2013/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2015 tách chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ra khỏi Luật BHXH và bổ sung các chính sách mới về BHTN làm tăng quyền lợi hưởng các chế độ BHTN như: bổ sung trợ cấp Hỗ trợ học nghề, Hỗ trợ, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí, được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề

* Sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế

Ngày 13-6-2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật BHYT

Luật quy định rõ: “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc”; khuyến khích tham gia theo

hộ gia đình Ngày 20-11-2014, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH (sửa đổi) hướng đến hai mục tiêu chính là mở rộng diện bao phủ BHXH và thiết kế bổ sung chính sách phù hợp hơn, bổ sung nhiệm vụ quan trọng đối với ngành BHXH về chức năng thanh tra

* Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ

Ngày 5-1-2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2016/NĐ-CP quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam Theo đó, cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam ở Trung ương gồm 24 đơn vị

* Ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội

Ngày 23-5-2018, tại kỳ họp thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII đã thông quaNghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH, khẳng định sự quan tâm sâu sắc và nhất quán của Đảng ta đối với sự nghiệp chăm lo an sinh xã hội cho mọi người dân

* Phát triển ngành bảo hiểm xã hội hiện đại

Củng cố mục tiêu phát triển ngành BHXH Việt Nam theo hướng hiện đại, bảo đảm đủ năng lực và điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ và tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT đáp ứng yều cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Trang 5

III Những thay đổi chính sách trong năm 2020 về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế

Quy định mới về BHXH: Theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 27 của Luật Thi hành

án dân sự số 41/2019/QH14 “Phạm nhân được tham gia BHXH tự nguyện, hưởng chế

độ, chính sách về BHXH theo quy định của pháp luật” Quy định này có hiệu lực từ ngày 1/1/2020

+ Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 55 Luật BHXH năm 2014 thì từ năm 2020, lao động nam đủ 55 tuổi và lao động nữ đủ 50 tuổi mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

+ Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 56 Luật BHXH năm 2014, lao động nam nghỉ hưu trong năm 2020 phải có đủ 18 năm đóng BHXH mới được hưởng lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

Quyền lợi về BHYT của người tham gia BHYT

Tại Nghị quyết số 86/2019/QH14 ngày 12/11/2019 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2020 quy định từ ngày 1/7/2020 mức lương cơ sở sẽ được điều chỉnh tăng từ 1.490.000 đồng/tháng lên 1.600.000 đồng/tháng Theo đó, một số quyền lợi về BHYT của người tham gia BHYT nói chung và người lao động nói riêng sẽ được điều chỉnh thay đổi theo

Cụ thể, mức hưởng BHYT theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số

146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT như sau:

- Người tham gia BHYT được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh BHYT đối với trường hợp chi phí một lần khám chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở tương đương 240.000đ

- Người tham gia BHYT được hưởng 100% chi phí khám chữa bệnh BHYT khi có thời gian tham gia BHYT 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở tương đương với 9.600.000đ, trừ trường hợp tự đi khám chữa bệnh không đúng tuyến

Trang 6

Xác định mức thanh toán trực tiếp theo quy định tại Điều 30 Nghị định số

146/2018/NĐ-CP:

- 0,15 lần mức lương cơ sở tương đương với 240.000đ;

- 0,15 lần mức lương cơ sở tương đương với 800.000đ;

- 1,0 lần mức lương cơ sở tương đương với 1.600.000đ;

- 2,5 lần mức lương cơ sở tương đương với 4.000.000đ

Mức thanh toán chi phí vật tư y tế theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 3 Thông tư số04/2017/TT-BYT ngày 14/4/2017 của Bộ Y tế ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với vật tư y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT không vượt quá 45 tháng lương cơ sở tương đương với 72.000.000đ

2 Tìm hiểu về chính sách báo hiểm y tế Việt Nam

1 Bảo hiểm y tế là gì? Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng Bảo hiểm y tế giúp giảm thiểu những chi phí chăm sóc sức khỏe, chi phí liên quan đến việc điều trị, phục hồi sức khỏe…trong các trường hợp bị mắc bệnh hoặc bị tai nạn… Bảo hiểm y tế của nhà nước cơ cấu và tổ chức nhằm phục vụ, bảo vệ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân BHYT do nhà nước cung cấp không nhằm mục đích lợi nhuận mà nó là một chính sách xã hội Vì thế, người dân sẽ có trách nhiệm

và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm theo quy định của của luật bảo hiểm mà nhà nước ban hành

II Đối tượng bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế

Căn cứ Chương I, Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về nhóm 06 đối tượngtham gia BHYT bao gồm:

1 Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng;

2 Nhóm do cơ quan BHXH đóng;

3 Nhóm do ngân sách Nhà nước đóng;

4 Nhóm được ngân sách Nhà nước hỗ trợ mức đóng;

5 Nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình;

Trang 7

6 Nhóm do người sử dụng lao động đóng.

III Mức đóng bảo hiểm y tế

Căn cứ theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung 2014, Nghị định 105/2014/NĐ-CP quyđịnh chi tiết về mức đóng bảo hiểm y tế bao gồm:

Mức đóng BHYT thuộc nhóm 3 đối tượng

Đối với 3 nhóm đối tượng do người lao động và người sử dụng lao động đóng, nhóm doQuỹ bảo hiểm xã hội đóng và nhóm do ngân sách Nhà nước đóng thì mức đóng BHYT

là 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN hàng tháng

Mức đóng nhóm hộ gia đình

Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở;

Người thứ 2 đóng bằng 70% mức đóng của người thứ nhất;

Người thứ 3 đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất;

Người thứ 4 đóng bằng 50% mức đóng của người thứ nhất;

Từ người thứ 5 trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất

Lưu ý nhóm do Ngân sách nhà nước đóng:

Người thuộc hộ gia đình cận nghèo => Mức hỗ trợ tối thiểu là 70% TLCS

Học sinh, sinh viên => Mức hỗ trợ tối thiểu là 30% TLCS

Hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm, nghiệp có mức thu nhập trung bình => Mức hỗtrợ tối thiểu là 50% TLCS

IV Quyền lợi hưởng bảo hiểm y tế

Chi phí khám, chữa bệnh các bệnh thông thường, chưa kể đến các bệnh nan y tại các cơ

sở y tế hiện nay không phải là con số nhỏ Bằng việc tham gia BHYT, tùy thuộc vàotuyến khám, chữa bệnh, người tham gia sẽ được hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần

Căn cứ Điều 22, Luật BHYT số 01/VBHN-VPQH quy định chi tiết về quyền lợi màngười dân được hưởng khi tham gia bảo hiểm y tế như sau:

Trang 8

1 Mức hưởng bảo hiểm y tế đúng tuyến

● 100% chi phí khám, chữa bệnh đối với các đối tượng:

a) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ;

b) Sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đangcông tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan,chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân;

c) Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

d) Học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với họcviên ở các trường quân đội, công an;

đ) Người có công với cách mạng, cựu chiến binh

e) Trẻ em dưới 6 tuổi;

g) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng;

h) Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo,huyện đảo;

i) Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con củaliệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;

j) Khám, chữa bệnh một lần thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám, chữa bệnhtại tuyến xã;

k) Người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiềncùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường

hợp tự đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến

● 95% chi phí khám chữa bệnh đối với các đối tượng

+ Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;

+ Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ người được BHYT chi trả 100% chiphí;

Trang 9

+ Người thuộc hộ gia đình cận nghèo.

● 80% chi phí nếu là các đối tượng khác

2 Mức hưởng bảo hiểm y tế trái tuyến

- 40% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương;

- 60% chi phí điều trị nội trú đến ngày 31/12/2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày01/01/2021 tại bệnh viện tuyến tỉnh;

- 100% chi phí tại bệnh viện tuyến huyện

Riêng người sống tại xã đảo, huyện đảo; người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèosống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn đi khám khôngđúng tuyến vẫn được hưởng theo mức hưởng đúng tuyến

Tham khảo chi tiết tại đây: Mức hỗ trợ khi đi khám bảo hiểm y tế trái tuyến mới nhất

2020

V Bảo hiểm y tế tự nguyện

Ngoài bảo hiểm y tế bắt buộc nêu trên thì người dân có thể tham gia bảo hiểm y tế tựnguyện Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vựcchăm sóc sức khỏe, do người dân tự nguyện tham gia và được Nhà nước tổ chức thựchiện, không vì mục đích lợi nhuận

Theo phương thức quản lý của Nhà nước thì hiện nay có 02 loại hình BHYT là BHYTbắt buộc và BHYT tự nguyện Do đó, trừ các đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc thìmọi công dân Việt Nam đều được tham gia BHYT tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế 2020 có những chính sách gì thay đổi?

I Thẻ BHYT giấy được thay thế bằng thẻ BHYT điện tử

Thẻ BHYT được cấp cho người tham gia để làm căn cứ và điều kiện hưởng quyền lợikhi khám, chữa bệnh Trước đây, việc sử dụng thẻ BHYT bằng giấy tồn tại khá nhiềuvấn đề bất cập liên quan đến việc rách, hỏng, mờ thông tin trên thẻ, gây khó khăn khilàm thủ tục hưởng quyền lợi

Trang 10

Vì vậy, theo quy định tại Điểm g, Khoản 5, Điều 42 của Nghị định 146/2018/NĐ-CP,năm 2020, Cơ quan BHXH sẽ thực hiện phát hành thẻ BHYT điện tử cho người thamgia Đây là loại thẻ được làm bằng chất liệu nhựa, tương tự như thẻ ATM của các ngânhàng Tuy nhiên, thẻ BHYT điện tử sẽ được gắn chip điện tử để tích hợp các thông tincủa người tham gia BHYT.

Toàn bộ các thông tin cá nhân, quá trình tham gia của người đóng BHYT sẽ được lưutrữ trên thẻ, thuận tiện cho quá trình hưởng các quyền lợi khi khám, chữa bệnh tại các

cơ sở y tế Đồng thời, thẻ BHYT điện tử còn có tính năng xác nhận người bệnh thôngqua công nghệ sinh trắc để nhận diện nhanh chóng, thuận tiện

Nhờ những tính năng của thẻ bảo hiểm y tế 020 bằng điện tử, người bệnh không cầnmang theo nhiều giấy tờ tùy thân Mặt khác, các khâu kiểm định, thanh toán, quản lýthông tin của người tham gia cũng được cơ quan BHXH quản lý dễ dàng hơn trước đây

II Mức hưởng Bảo hiểm y tế 2020

Một trong những thông tin quan trọng trong các chính sách thay đổi của BHYT là mứchưởng BHYT năm 2020

1 Đối với BHYT đúng tuyến

Mức hưởng BHYT đối với những người khám, chữa bệnh đúng tuyến được quy định tạiKhoản 1, Điều 24 của Luật BHYT sửa đổi, bổ sung ban hành năm 2014, cụ thể mứchưởng là:

● Toàn bộ chi phí khám chữa bệnh nếu người tham gia BHYT là công an, bộ đội, người có công với cách mạng, cựu chiến binh, trẻ em dưới 6 tuổi, người thuộc diện hộ nghèo hoặc có thời gian đóng BHYT đủ 5 năm liên tục Số tiền BHYT được hưởng phảilớn hơn 6 tháng lương cơ sở

● 95% của chi phí khám, chữa bệnh đối với những người tham gia BHYT là người đang hưởng lương hưu hàng tháng, trợ cấp mất sức lao động hoặc thuộc diện cận nghèo

● Các đối tượng tham gia BHYT còn lại được hưởng 80% chi phí khám, chữa bệnh

Trang 11

Mức hưởng BHYT khi khám chữa bệnh đúng tuyến, đúng quy định.

2 Đối với BHYT trái tuyến

Cũng theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014, người tham gia Bảo hiểm y tế

2020 khi đi khám, chữa bệnh trái tuyến sẽ được hưởng mức:

● 40% chi phí nếu đối tượng điều trị nội trú tại các bệnh viện tuyến trung ương

● 60% chi phí nếu đối tượng tham gia BHYT khám tại bệnh viện tuyến tỉnh và áp dụng đến 31/12/2020

● 100% chi phí nếu đối tượng tham gia khám tại bệnh viện tuyến huyện

III Mức thanh toán trực tiếp cho người sử dụng thẻ bảo hiểm y tế 2020

Từ ngày 01/07/2020, mức lương cơ sở tăng từ 1.49 triệu/tháng lên 1.6 triệu/tháng Vìvậy, mức thanh toán trực tiếp cho đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 2020 cũng sẽ tăngtheo, cụ thể từng trường hợp như sau:

Trường hợp khám, chữa bệnh ở tuyến huyện, không có hợp đồng khám, chữa bệnh:

● Điều trị ngoại trú: Mức thanh toán không quá 15% lương cơ sở, cụ thể là tăng từ 223.500 VND lên 240.000 VND

● Điều trị nội trú: Mức thanh toán không quá 0.5 lần lương cơ sở, cụ thể là mức thanh toán trực tiếp tăng từ 745.000 VND lên 800.000 VND

Trang 12

Trường hợp khám, chữa bệnh nội trú tại tuyến tỉnh hoặc tuyến tương đương, không cóhợp đồng, mức thanh toán không vượt quá 1 lần mức lương cơ sở tính tại thời điểm raviện Cụ thể là mức thanh toán sẽ tăng từ 1.49 triệu lên 1.6 triệu.

Trường hợp đối tượng tham gia BHYT khám, chữa bệnh nội trú tại tuyến trung ươnghoặc tuyến tương đương, không có hợp đồng, mức hưởng không quá 2.5 lần lương cơ sởhiện hành Tức là mức thanh toán trực tiếp sẽ tăng từ 3.725 triệu đến 4 triệu đồng

Trường hợp khám, chữa bệnh tại nơi không đúng quy định:

● Khám, chữa bệnh ngoại trú: Mức thanh toán không quá 0.15 lần lương cơ sở hiệnhành, tức là tăng từ 223.500 đồng lên 240.000 đồng

● Khám, chữa bệnh nội trú: Tối đa không quá 0.5 lần mức lương cơ sở ở thời điểm

ra viện, cụ thể là tăng từ 745.000 lên 800.000 đồng

IV Thay đổi mức đóng BHYT hộ gia đình

Do trong năm 2020, mức lương cơ sở tăng lên 1.6 triệu đồng/tháng, áp dụng từ01/07/2020 Đồng thời, theo Nghị định 146/2018/NĐ-CP, mức đóng của người tham giaBHYT theo hộ gia đình là 4.5 % lương cơ sở Đối với người thứ hai, ba, tư trở đi, mứcđóng lần lượt tính bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người đầu tiên Riêng từ ngườithứ năm trở đi, mức đóng BHYT bằng 40% mức của người đầu tiên

Cụ thể, mức đóng bảo hiểm y tế 2020 của từng người trong hộ gia đình khi lương cơ sởtăng lên 1.6 triệu đồng như sau:

● Người thứ nhất: Mức đóng = 4.5% x 1.6 triệu = 72.000 đồng/tháng (tăng 4.950 đồng so với mức 67.050 của trước đây)

● Người thứ hai: Mức đóng = 70% x 72.000 = 50.400 đồng/tháng (tăng 3.465 đồng/tháng)

● Người thứ ba: Mức đóng = 60% x 72.000 = 43.200 đồng/tháng (tăng 2.970 đồng/tháng)

● Người thứ tư: Mức đóng = 50% x 72.000 = 36.000 đồng/tháng (tăng 2.475

đồng/tháng)

● Từ người thứ năm trở đi, mức đóng = 40% x 72.000 = 28.800 đồng /tháng (tăng 1.980 đồng/tháng)

Trang 13

V Thay đổi về điều kiện hưởng BHYT 5 năm liên tục năm 2020

Theo quy định tại Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014, điều kiện hưởng Bảohiểm y tế 5 năm liên tục là:

● Người tham gia phải có thời gian đóng BHYT từ 5 năm trở lên Tức là trên thẻ BHYT phải có ghi dòng chữ “Thời điểm đủ 5 năm liên tục: Từ / /…”

● Nếu có thời gian tham gia gián đoạn thì không được quá 3 tháng

● Có số tiền chi trả chi phí khám hoặc chữa bệnh trong 1 năm không quá 6 lần lương cơ sở

Cụ thể, nếu thời điểm khám chữa bệnh từ ngày 01/01/2020 đến trước 01/07/2020 (lương

cơ sở là 1.49 triệu đồng) thì số tiền chi trả phải lớn hơn: 6x1.49 triệu đồng = 8.94 triệuđồng

Từ thời điểm 01/07/2020 lương cơ sở tăng lên 1.6 triệu đồng thì số tiền chi trả phải lớnhơn 6x1.6 triệu đồng = 9.6 triệu đồng

Trên đây bảo hiểm xã hội điện tử eBH đã tổng hợp một số những điểm thay đổi của Bảohiểm y tế 2020 Các chính sách, quy định về BHYT có ảnh hưởng trực tiếp đến ngườitham gia khi thực hiện khám, chữa bệnh và làm các thủ tục hưởng quyền lợi Vì vậy,bạn hãy cập nhật đầy đủ để áp dụng khi cần thiết

3 “An sinh xã hội góp phần đảm bảo công bằng xã hội” Nhận định đúng hay sai?

Giải thích

- Trên Bình Diện xã hội an sinh xã hội là một công cụ để cải thiện điều kiện sống và làmviệc của các tầng lớp dân cư đặc biệt là đối với những người nghèo khổ khổ và những nhóm dân cư yếu thế trong xã hội I trên bình diện kinh tế an sinh xã hội là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay công cụ này ngày càng phải được coi trọng bởi vì hố ngăn cách giàu

Trang 14

nghèo đã và đang có xu hướng gia tăng giữa các nước các châu lục và ngay cả trong phạm vi một nước tháng 9 năm 2002 hội nghị các nguyên thủ quốc gia họp tại Nam Phi

đã đưa ra kết luận tài sản của 3 Tỷ phú giàu nhất thế giới bằng tài sản của 49 quốc gia nghèo nhất thế giới cộng lại hay 5 phần trăm dân số giàu có trên thế giới chiếm 85% của cả còn 95% dân số thì sống bằng số của cải còn lại là 15% cũng trong hội nghị này Tổng thống Nam Phi tmb khi đưa ra một dẫn chứng rất đắt đó là mỗi con bò ở nước giàuđược nhận tiền trợ cấp cao hơn 3 lần thu nhập của một người nông dân nước nghèo nhất trên thế giới đó là sự thật trong thế giới ngày nay là Chính điều đó mà an sinh xã hội đã được đông đảo người dân trên thế giới quan tâm và hưởng ứng ảnh thì an sinh xã hội ít nhiều đã góp phần đảm bảo công bằng xã hội thông qua phân phối hại của cải tiền bạc giữa các nhóm dân cư khác nhau

+ ASXH thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội Trên bình diện xã hội, ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt

là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, được thực hiện theo hai chiều ngang và dọc Sự phân phối lại thu nhậptheo chiều ngang là sự phân phối lại giữa những người khoẻ mạnh và người ốm đau, giữa người đang làm việc và người đã nghỉ việc, giữa người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình Một bên là những người đóng góp đều đặn vào các loại quỹ ASXH hoặc đóng thế, còn bên kia là những người được hưởng trong các trường hợp với các điều kiện xác định Thông thường, sự phân phối lại theo chiều ngang chỉ xảy ra trong nội bộ những nhóm người được quyền hưởng trợ cấp (một “tập hợp đóng” tương đối)

ASXH góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội Đến nay người ta đã ý thức được rằng, sự phát triển của xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau Sự phát triển của thế giới trong những năm gần đây đặt ra mụctiêu là bảo đảm những cải thiện nhất định cho hạnh phúc của mỗi người và đem lại những lợi ích cho mọi người; bảo đảm phân phối công bằng hơn về thu nhập và của cải, tiến tới công bằng xã hội; đạt được hiệu quả sản xuất, bảo đảm việc làm, mở rộng và cải thiện về thu nhập giáo dục và y tế cộng đồng; giữ gìn và bảo vệ môi trường… Đáp ứng

Trang 15

những nhu cầu tối cần thiết cho những người gặp khó khăn, bất hạnh là vấn đề được ưu tiên trong chiến lược phát triển của thế giới Những lưới đầu tiên của ASXH đã bảo vệ, giảm bớt sự khó khăn cho họ Sự phát triển sau này của những lưới khác tạo ra sự đa dạng trong ASXH, giải quyết được những nhu cầu khác nhau của nhiều nhóm người trong những trường hợp “rủi ro xã hội” Tuy nhiên, phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Ngoài ra, hệ thống ASXH, trong đó có BHXH, thông qua các hoạt động của mình, góp phần làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động

và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất, gắn bó với nơi mình làm việc Người sử dụng lao động tham gia đóng góp quỹ BHXH và các quỹ xã hội khác cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động và xã hội Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa quản lý hoạt động của quỹ BHXH và các quỹ ASXH khác, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước - người sử dụng lao động - người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội ASXH, thông qua các cơ chế của mình, góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội./

4 Vì sao phải nâng cao nhận thức về đảm bảo an sinh xã hội

*Sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về ASXH

+ ASXH gồm nhiều chính sách, nhiều chương trình đa dạng và bảo vệ diện rộng.+ Cơ chế quản lí tài chính khác nhau đối với mỗi chính sách, mỗi chương trình ASXH

+ Các chính sách ASXH thường được triển khai kết hợp, đan xen, lồng ghép

+ Xã hội hóa ASXH đang trở thành xu hướng tất yếu

+ Tư tưởng cục bộ, ỷ lại còn tồn tại khá phổ biến

Trang 16

* Xã hội có rất nhiều thành phần, hoàn cảnh gia đình,… thu nhập cáo – thu nhập thấp… Kinh tế các phát triển thì sự phân cực ngày càng lớn.Khi đó an sinh xã hội sẽ pải do toàn

xã hội gành vác dướ sự qli của nhà nước => cần nâng cao sự nhận thức của công chúng

để họ tự nguyện, tự giác tham gia công tác hđ và qlí an sinh xã hội – tức là làm tròn nhiệm vụ “dân là chủ, dân làm chủ”

Đồng thời lấy đó làm cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách ptr thích hợp và phải

thường xuyên tuyên truyền để nâng cao nhận thức toàn dân về an sinh xã hội

5 So sánh bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại.

Bảo hiểm nói chung đóng vào trò quan trọng trong cả kinh tế, chính trị, xã hội Thực tế

đã cho thấy một thị trường bảo hiểm mạnh là nền tảng cơ bản cho bất cứ nền kinh tếthành công nào Bảo hiểm có thể được phân loại thành bào hiềm thương mại và bảohiểm xã hội Trong bài viết này, Tư vấn Việt luật xin so sánh 2 loại hình bảo hiểm này

để bạn đọc có thể nhận ra những điểm chung, điểm riêng như sau:

1 Giống nhau:

Thứ nhất, về phương thức hoạt động:

Bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm thương mại đều là những biện pháp chia sẻ rủi ro củamột người hay của số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi rocùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹchung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may

bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra

Thứ hai, về nguyên tắc hoạt động:

Hai loại bảo hiểm này được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng gópbảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được đòi hỏi quyềnlợi

Thứ ba, mục đích hoạt động:

Trang 17

Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượngtham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảohiểm đang tham gia.

2 Khác nhau:

Trang 18

6 Những vấn đề còn tồn tại trong công tác trợ giúp xã hội ở Việt Nam hiện nay

(Gtrinh: t149)

Là một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, lại bị ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu; đang trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh nên hiện nay số người cần trợ giúp xã hội của Việt Nam rất lớn, chiếm hơn 20% dân số cả nước Trong đó có khoảng 9,2 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, gần 5% hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, 204 nghìn người nghiện ma tuý, khoảng

30 nghìn nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; ngoài ra, còn nhiều phụ

Trang 19

nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố.

Giai đoạn 2011-2015, kinh tế đất nước có khó khăn, thách thức, song Đảng và Nhà nước

ta đã có nhiều giải pháp để bảo đảm an sinh xã hội, trong đó có lĩnh vực trợ giúp xã hộitiếp tục là điểm sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tạobước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm

tỉ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân” Nghị quyết số NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đềchính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 cũng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả công táctrợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp;nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách Nhà nước.Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội làm căn cứ xác địnhngười thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xãhội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, phát triển mô hình chăm sócngười có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tưnhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyếttật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão”

15-Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Nghị quyết của Quốc hội, công tác trợgiúp xã hộ thời gian qua đã đạt được những kết quả chính như sau:

Thứ nhất, đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo cơ sở pháp lý

cho thực hiện tốt chính sách trợ giúp xã hội Đến nay, đã có trên 10 Bộ luật, luật; 7 Pháplệnh và hơn 30 Nghị định, Quyết định của Chính phủ; hơn 40 Thông tư, thông tư liêntịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan quy định khuôn khổ pháp luật, chính sáchtrợ giúp xã hội Trong đó có những văn bản quan trọng như Luật Người cao tuổi, LuậtNgười khuyết tật, Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, Luật Phòng chống bạo lựcgia đình, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP, Nghị định số136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội

Thứ hai, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên.Tính

đến cuối năm 2015, cả nước đã giải quyết trợ cấp xã hội hàng tháng cho trên 2,643 triệuđối tượng Trong đó: người cao tuổi trên 80 tuổi không có lương hưu 1.454 ngàn người;

Trang 20

người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 85 ngàn người; người khuyết tật nặng và đặc biệtnặng 896 ngàn người; trẻ em mồ côi không có nguồn nuôi dưỡng 45 ngàn trẻ; người đơnthân nuôi con thuộc hộ nghèo 113 ngàn người; ngoài ra, còn khoảng 50 ngàn đối tượngkhác Kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí maitáng cho các đối tượng khoảng 13 nghìn tỷ đồng/năm.

Thứ ba, bảo đảm ổn định đời sống dân sinh khi gặp thiên tai, hỏa hoạn và các nguyên

nhân bất khả kháng Từ năm 2011 đến nay, các địa phương đã chủ động bố trí ngân sáchđịa phương, huy động cộng đồng và các nhà hảo tâm hỗ trợ hàng hóa, lương thực với trịgiá hàng ngàn tỷ đồng cho các cá nhân và gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai, tai nạngiao thông hoặc các lý do bất khả kháng khác Tính đến ngày 31/12/2014, Chính phủ đã

hỗ trợ 180.224 tấn gạo cho 26 lượt tỉnh để thực hiện cứu đói cho 2.469.443 lượthộ/8.618.121 nhân khẩu thiếu lương thực

Thứ tư, đã từng bước quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội và dịch

vụ trợ giúp xã hội Hiện nay, cả nước có 408 cơ sở trợ giúp xã hội, gồm 194 cơ sở cônglập và 214 cơ sở ngoài công lập, được thành lập, hoạt động, kiện toàn theo quy định tạiNghị định số 68/2008/NĐ-CP, Nghị định số 81/2012/NĐ-CP của Chính phủ Trong đó,

có 31 cơ sở chăm sóc người cao tuổi, 71 cơ sở chăm sóc người khuyết tật, 139 cơ sởchăm sóc trẻ em, 102 cơ sở tổng hợp, 31 cơ sở chăm sóc người tâm thần, 34 Trung tâmcông tác xã hội với khoảng 10.000 cán bộ, nhân viên

Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010 của Thủ tướng Chính phủphê duyệt Đề án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; đến nay, cả nước

có 34 tỉnh, thành phố thành lập, xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội, trong đó

có trên 20 tỉnh, thành phố xây dựng mô hình trung tâm công tác xã hội trên cơ sở nângcấp, chuyển đổi cơ sở bảo trợ xã hội 100% tỉnh, thành phố đã thành lập mạng lưới cộngtác viên công tác xã hội từ nhiều chương trình, đề án khác nhau với tổng số gần 100nghìn cộng tác viên Các chương trình, giáo trình đào tạo công tác xã hội trình độ đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đã được hoàn thiện, ban hành và triển khai đàotạo tại 55 trường cao đẳng, đại học có đào tạo công tác xã hội trên cả nước; có 3 trườngđào tạo tiến sỹ, thạc sỹ công tác xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt Đề án đàotạo thạc sỹ công tác xã hội do Tổ chức CFSI và Học viện châu Á tài trợ; 11 trường cao

Trang 21

đẳng, đại học đã đào tạo hệ vừa học, vừa làm cho 13.000 cán bộ trình độ đại học, 1.092cán bộ trình độ cao đẳng và 7.024 cán bộ trình độ trung cấp công tác xã hội; cáctỉnh/thành phố đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 40.000 lượt cán bộ, nhân viêncông tác xã hội.

Nhìn tổng thể, chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam đã đạt được thành quả góp phầnbảo đảm an sinh xã hội cho người dân Hệ thống trợ giúp xã hội tuy đã hình thànhnhưng chưa được hoàn thiện theo cách tiếp cận hệ thống, đồng bộ, toàn diện, bao phủhết đối tượng, gắn kết chặt chẽ trong mối tương quan với an sinh xã hội, giảm nghèobền vững, phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc

tế về phát triển trợ giúp xã hội, nhất là trong điều kiện Việt Nam là nước đang phát triển

có thu nhập trung bình

Giải pháp đổi mới trong thời gian tới !

Trong thời gian tới, nước ta phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức như: vấn đềgià hoá dân số; tác động của biến đổi khí hậu và nhiều nguyên nhân khác nhau làm giatăng số người cao tuổi khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đòi hỏiphải có một hệ thống chính sách an sinh xã hội và trợ giúp xã hội đồng bộ, bao phủ và

đủ sức làm tốt vai trò phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân Muốnvậy, hệ thống trợ giúp xã hội cần phải được đổi mới một cách căn bản theo hướng:

- Phải chuyển mạnh mẽ về quan điểm coi trợ giúp xã hội từ hoạt động nhân đạo sangquan điểm bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng trợ giúp xã hội Chính sáchtrợ giúp xã hội là biện pháp, công cụ, tác động để thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàncuộc sống cho bộ phận dân cư không may gặp phải hoàn cảnh khó khăn

- Từng bước nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm sự tương quan với các chính sách

xã hội khác Nghiên cứu, xây dựng chính sách trợ giúp xã hội dựa trên vòng đời sẽ bảođảm sự thống nhất, hài hòa với các chính sách an sinh xã hội khác, đặc biệt là chínhsách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp

- Quá trình phát triển của chính sách trợ giúp xã hội phải gắn liền với quá trình pháttriển kinh tế - xã hội Trợ giúp xã hội là một bộ phận của chính sách kinh tế - xã hội, do

Trang 22

vậy quá trình hoàn thiện và phát triển phải dựa trên cơ sở của quá trình phát triển kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Chính sách trợ giúp xã hội phải gắn liền với quá trình cải cách thể chế hành chính Nhànước trên cả phương diện về (i) cải cách thể thế chính sách, (ii) cải cách thể chế nghiệp

vụ, (iii) cải cách thể chế tổ chức thực thi chính sách và (iii) cải cách thể chế tài chính

- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội với mục tiêuđến năm 2015 phát triển mạng lưới 451 cơ sở trợ giúp xã hội phù hợp với điều kiện pháttriển kinh tế-xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp xã hội tiếp cậncác nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu trợ giúp của người dân, hướng tớimục tiêu phát triển xã hội công bằng và hiệu quả

- Từng bước hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết chính sách về

an sinh xã hội, đáp ứng nhu cầu thông tin cho các cấp quản lý nhanh nhạy, kịp thời,chính xác, góp phần cải cách hành chính trong trợ giúp xã hội./

7 Thực tế triển khai các chính sách ưu đãi xã hội hiện tại ở Việt Nam, các chương

trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay

8 Vì sao BHXH là trụ cột chính của bảo hiểm an sinh xã hội.

Vấn đề BHXH, đây là trụ cột cơ bản nhất, cần thiết cho sự bảo đảm của cả hệ thống ASXH Có thể coi BHXH là xương sống của hệ thống ASXH Chỉ khi có một hệ thống BHXH hoạt động có hiệu quả thì mới có thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia, gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp Thông qua các trợ cấp BHXH, người lao động có được một khoản thu nhập bù đắp hoặc thay thế cho những khoản thu nhập bị giảm hoặc mất trong những trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm

Có thể nói rằng BHXh giữ vai trò trụ cột, bền vững trong hệ thống an sinh xã hội, dựa trên những nguyên tắc sau:

Trang 23

Một là, người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập để hỗ trợ bản thân hoặc người khác khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, lúc tuổi già để duy trì và ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình Cho nên, hoạt động BHXH một mặt đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ, mặt khác nó thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững.

Hai là, thực hiện chính sách BHXH đảm bảo sự bình đẳng về vị trí xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển Xóa bỏ nhận thức trước đây cho rằng chỉ có làm việc trong khu vực nhà nước, là công nhân viên chứcnhà nước mới được gọi là có việc làm và được hưởng các chính sách BHXH

Ba là, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro

Bốn là, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững

Năm là, quyền lợi của các chế độ BHXH không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp vớiđiều kiện và mức sống chung toàn xã hội tại từng thời điểm, đảm bảo cuộc sống của người tham gia BHXH và đặc biệt là người hưởng lương hưu sau cả cuộc đời lao động cực nhọc

9 “ An sinh xã hội góp phần đảm bảo duy trì liên tục ít nhất ở mức tối thiểu cho các

thành viên ở trong xã hội.”Đúng hay sai Giải thích ngắn gọn

Trang 24

- tự chỉnh cái này nhé: - quyền con người là được tự do, được ăn ở… thì ASXH được sinh ra giúp chúng ta đảm bảo được quyền co n người đó, đó là mức tối thiểu ( tham khảo cả sách nhớ)

10.Tại sao phần lớn các quốc gia trên thế giới đều lựa chọn phương thức đóng góp

BHXH theo căn cứ tiền lương

Mức đóng góp bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động là nguyên tắc cơ bản của Luật bảo hiểm xã hội 2014

Mức đóng góp bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động, mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn Trước hết để hiểu về nguyên tắc này chúng ta phải hiểu bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện là gì?

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là hình thức bảo hiểm xã hội mà luật quy định bắt buộc chủ thể tham gia, về chế độ và mức phí đóng.

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là hình thức mà người lao động được lựa chọn mức phí đóng trên cơ sở người lao động xem xét mức thu nhập của mình tới đâu và tự mình lựa chọn mức phí đóng bảo hiểm xã hội.

Thu nhập được bảo hiểm xã hội là phần thu nhập của người lao động tham gia bảo hiểm mà nếu nó biến động giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thì tố chức bảo hiểm xã hội phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc bù đắp một phần cho họ.

Cơ sở pháp lý:

Nguyên tắc này được ghi nhận tại điểm 2, Điều 5 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

Trang 25

Nội dung nguyên tắc:

Mức thu nhập bảo hiểm là mức tiền lương hoặc mức thu nhập bằng tiền nào đó do Nhà nước quy định Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thức tế của đại

đa số người lao động, mức thu nhập bình quân đầu người… Nhà nước quy định lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm để đảm bảo cho mức thu nhập này luôn thăng bằng tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia bảo hiểm và gia đình họ.

Trong thực tế có hai cách để lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm tùy theo đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Cách thứ nhất là lấy tiền lương làm cơ sở để quy định mức thu nhập được bảo hiểm Cách thứ hai là quy định mức thu nhập nhất định đối với người được bảo hiểm Mỗi cách đều có những tác dụng riêng nhưng thông thường người ta lấy tiền lương làm căn cứ để xác định mức thu nhập được bảo hiểm.

Đối với hình thức bảo hiểm xã hội bắt buộc, mức phí đóng sẽ dựa trên tiền lương của người lao động Để đảm bảo tính hợp lý khi thu phí bảo hiểm xã hội cần phải

có căn cứ để đưa ra những mức đóng góp phù hợp với người lao động Tiền lương của người động được lấy làm cơ sở để tính mức đóng bảo hiểm bắt buộc bắt buộc, điều này là hợp lí Bảo hiểm xã hội bắt buộc được áp dụng đối với người lao động

có thời hạn làm việc ở mức nhất định, thu nhập ổn định Theo đó tùy thuộc vào mức lương của mình mà người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo các định mức

mà pháp luật đặt ra.

Đối với hình thức bảo hiểm xã hội tự nguyện, họ không thuộc diện đóng bảo hiểm

xã hội bắt buộc Đối với các đối tượng thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện,

tổ chức bảo hiểm có thể thiết kế nhiều mức phí bảo hiểm và thể thức đóng góp khác nhau để người tham gia tự nguyện lựa chọn cho phù hợp Những đối tượng này được phép căn cứ vào khả năng thu nhập của họ để lự.a chọn mức đóng phù

Trang 26

hợp với nhu cầu của bản thân hoặc lựa chọn phương thức đóng (đóng theo tháng, theo quý hoặc theo năm) Đây là một quy định rất linh hoạt tạo điều kiện cho những người có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội được tham gia đóng bảo hiểm

Ý nghĩa của nguyên tắc:

– Nguyên tắc này trước hết làm căn cứ để hưởng bảo hiểm một cách công bằng trong xã hội

– Giúp nhà nước dễ dàng quản lý, cũng như dễ dàng thực thi các chính sách bảo hiểm xã hội trên thực tế.

– Góp phần đảm bảo chế độ của quỹ một cách ổn định.

11.Đánh giá vai trò của xóa đói giảm nghèo trong phát triển hệ thống an sinh xã hội của

Việt Nam

- Xóa đói giảm nghèo góp phần đảm bảo an sinh xã hội lâu dài và bền vững hơn cảnhất là khi đặt trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam Đứng trên góc độ bộ các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Mỹ được coi là trụ cột chắc có vai trò đảm bảo an sinh xã hội bền những bởi nó đáp ứng được những yêu cầu cần thiết để tạo nên tính I bền vững

ấy I khi các yêu cầu tính chất cơ bản ấy là tính che chắn ăn, ăn lâu dài, I tính xã hội hóa và tính cải thiện

+ Tính che chắn: đối tượng mà chương trình xóa đói giảm nghèo hướng tới là những người có thu nhập thấp đời sống bấp bênh đói nghèo trong xã hội khi họ thường có điều kiện sống thiếu thốn thu nhập thấp trình độ học vấn Nhìn chung là không cao ít được tiếp xúc với các dịch vụ chăm sóc y tế giáo dục một cách đầy đủ → đủ các

chương trình xóa đói giảm nghèo của Đảng của Việt Nam đã nhanh chóng khắc phục được những khó khăn tiếp tục thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách có trọngtâm và trọng điểm ví dụ vụ: phụ đề án chương trình 30a ba của chính phủ thực hiện

Trang 27

cho 61 huyện nghèo là một ví dụ các huyện nghèo mới được bổ sung vào diện ưu tiên phát triển kinh tế xã hội để đảm bảo tính kịp thời và tính chất che chắn ưu đãi cho ngườinghèo của chính sách xóa đói giảm nghèo số lượng hộ nghèo ở Việt Nam lớn vai trò chơi Chắn bao trùm của các chương trình chống đói nghèo ở Việt Nam là Rất đáng ghi nhận

+ tính lâu dài: Ví dụ điển hình: Chương trình 135 - chương trình trọng điểm về xóa đóigiảm nghèo với số tiền đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng dự kiến ban đầu kéo dài 75 từ năm

1998 đến năm 2005 Nhưng sau đó quốc hội và Chính Phủ đã quyết định kéo dài chươngtrình này 5 năm nữa năm 2006 đến 2010 và gọi là chương trình 135 giai đoạn 2 chương trình này góp phần tăng cường hiệu quả đã đạt được từ giai đoạn 1 giúp người nghèo thoát nghèo và không tái nghèo do những sự Đầu tư lâu dài cho thấy quyết tâm của Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo rất nhiều chương trình đề án lồng ghép khác đang được xem xét áp dụng trong thời gian tới Theo phù hợp với những mục tiêu hoàn cảnh mới

+ I tính xã hội hóa: các chương trình xóa đói giảm nghèo không chỉ hướng tới những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội mà còn kêu gọi cộng đồng xã hội tham gia cuộc chiến chống đói nghèo mục tiêu của Chính sách xóa đói giảm nghèo rất rõ ràng

nó phát huy tính nhân văn nhân đạo giữa các thành viên trong xã hội do đó thu hút được

sự quan tâm hưởng ứng của mỗi cá nhân của toàn xã hội I Liên hệ thực tế: thế tại Việt Nam chính sách xã hội hóa trong xóa đói giảm nghèo là một bộ phận quan trọng trong tiến trình chống đói nghèo chung của quốc gia ngày vì người nghèo là một hoạt động như thế Thế các hoạt động ủng hộ quyên góp cho quỹ người nghèo diễn ra rất tích cực trong những ngày cuối cùng của năm đặc biệt vào ngày 31 tháng 12 thực tế cho thấy nguồn quỹ này không hề nhỏ và được huy động trong thời gian tương đối ngắn quan trọng hơn là nó thu hút được sự chú ý của cộng đồng đặc biệt là từ phía doanh nghiệp vìmảng chính sách xã hội hóa này Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện tốt và hiệu quả trên thế giới

+ tính cải thiện: các chương trình trong đó nhằm đảm bảo tính bền vững bởi nó cải thiện được đời sống của bộ phận dân cư có thu nhập thấp trong xã hội trong dài hạn xóa đói giảm nghèo làm giảm chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân cư ngăn chặn tìnhtrạng bất bình đẳng trong xã hội thành công của chương trình xóa đói giảm nghèo chính

Trang 28

là sự đảm bảo cho chương trình an sinh xã hội bền vững nói riêng và phát triển kinh tế

xã hội bền vững nói chung VD đến hết năm 2009 Việt Nam đã chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập bình quân đầu người 1.000 USD trên năm và trở thành nước có thu nhập bình quân mức trung bình Đây là thành tựu đáng ghi nhận của Việt Nam sau hơn

20 năm đổi mới và áp dụng chương trình xóa đói giảm nghèo như một chương trình tiêuquốc gia

⇒ đánh giá: câu này hỏi như đánh giá nên hãy làm theo xu hướng của đánh giá vai trò nhé

12 Vai trò của chính quyền các cơ sở trong việc nâng cao nhận thức XH

chưa biết T.T

13 Quan điểm về trợ giúp XH? Các loại trợ giúp XH?

Khái niệm trợ giúp xã hội

– Trợ giúp xã hội được hiểu là những sự giúp đỡ, trợ giúp của cộng đồng, của Nhà nướcđến với các đối tượng yếu thế trong xã hội thông qua hình thức hỗ trợ về điều kiện sinh sống, về vật chất để các đối tượng trong diện được trợ giúp có thể phát huy khả năng tự bản thân lo liệu được cuộc sống, vượt qua được những khó khăn, và có thể dần tái hòa nhập vào cộng đồng

– Chủ thể của trợ giúp xã hội ở đây đó là cộng đồng và Nhà nước Tuy nhiên thì ở đây pháp luật về an sinh xã hội chỉ điều chỉnh những quan hệ trợ giúp xã hội đối với chủ thể nhà nước, nguồn kinh phí đến từ nguồn trợ giúp từ ngân sách nhà nước cho đối tượng được xác định là được trợ giúp xã hội

– Đối tượng được trợ giúp xã hội là những người được gọi là “yếu thế”, có khó khăn trong đời sống kinh tế, về sức khỏe, hay những người không nơi nương tựa, người cô

Trang 29

đơn, trẻ mồ côi, có những thiệt thòi trong cuộc sống Được xác định là những đối tượng

mà thực sự cần đến sự giúp đỡ để ổn định cuộc sống

– Đối với chế độ trợ giúp xã hội thì các yếu tố về điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, tình trạng tài sản cũng như những nhu cầu thực tế của đối tượng tại các thời điểm phát sinh nhu cầu trợ cấp được xem là yếu tố cơ bản để quy định về những chế độ hưởng trợ cấp

về hình thức cứu trợ xã hội mà không cần thiết phải gắn với bất kì khoản đóng góp về yếu tố vật chất, hay yếu tố tinh thần nào

- Quan điểm về cứu trợ xã hội: đối tượng của cứu trợ xã hội là tất cả mọi thành viên của xã hội không chuẩn bị thế thành phần xã hội của họ những đối tượng này chỉ được trợ giúp khi và chỉ khi họ gặp phải những rủi ro bất hạnh trong cuộc sống nếu không có sự cứu trợ xã hội cuộc sống thường ngày hoặc lâu dài của họ sẽ bị đe dọa Bạn nên quan điểm có thể được trả lời dựa trên cơ sở những quan điểm sau

+ Thứ nhất thứ trợ xã hội phải xuất phát từ quyền con người mỗi cá nhân trong cộng đồng trong xã hội đều có quyền sống quyền làm việc và quyền hưởng thụ Những thành quả của xã hội nhưng tất cả những thành viên khác như vậy mỗi cá nhân phải tự vươn lên để có được quyền này mặt khác xã hội và tôn trọng những quyền đó còn mỗi người tất nhiên cứu trợ xã hội chỉ thực hiện và biểu hiện một mặt nào đó của quyền con người

mà thôi như vậy chú trợ xã hội không phải là một sự Ban ơn không chỉ đơn thuần là việclàm việc từ thiện mà còn là bản chất là thuộc tính xã hội văn minh cũng bị bệnh từ thiện

xã hội là trách nhiệm không chỉ của riêng ai mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội bao gồm Nhà nước xã hội cộng đồng và của từng cá nhân đối với thành viên của mình khi họ gặp phải những khó khăn hiểm nghèo hoặc rủi ro bất hạnh trong cuộc sống+ ảnh thứ hai ai tới chợ xã hội thể hiện bản chất của con người là hành vi hướng tới những điều kiện những điều cao đẹp trong cuộc sống trong mỗi con người đều có mầm mống giải pháp và kiến nghị Tuy nhiên xét về tổng thể các cá thể trong cộng đồng giá trị luôn luôn thắng cái ác những con người bình thường những người may mắn hơn đồng loại của mình thường có những biểu hiện làm việc thiện để giúp đỡ những người ítmay mắn những người rủi ro bất hạnh trong cuộc sống ảnh em chịu ảnh hưởng bởi

Trang 30

nhiều truyền thống và phong tục tập quán của mỗi dân tộc bởi cách ứng xử mỗi giai đoạn lịch sử người ta còn phụ thuộc vào bản chất chế độ và phương thức sản xuất của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử

+ thứ ba tới chợ xã hội là trách nhiệm của cả nhà nước tổ chức cộng đồng và bản thân vừa được hỗ trợ thực tế cho thấy cứu trợ xã hội nảy sinh ngay tại cộng đồng sức mạnh cộng đồng là rất to lớn như vậy Nó phải được xã hội hóa 2 tại cộng đồng Dựa vào cộng đồng để làm cho công tác cứu trợ được thực hiện nhanh chóng trực tiếp và cách có hiệu quả ăn những người được cứu trợ xã hội phải tự vươn lên để khắc phục khó khăn và đếnlượt mình phải có trách nhiệm cứu trợ cho người khác trong quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ xã hội Vai trò của các tổ chức trong xã hội là rất lớn bởi vì ngoài sức mạnh

và tiềm lực kinh tế học còn đặt ra những quyết sách nhanh chóng hợp lý và rất chủ độngtrong mọi lúc mọi nơi

+ thứ tư chú trợ xã hội là một chính sách xã hội song song lại có ý nghĩa kinh tế chính trị sâu sắc trong điều kiện kinh tế thị trường quá trình phân tầng xã hội văn hóa giàu nghèo diễn ra nhanh chóng và sâu sắc của mọi lúc mọi nơi sẽ góp phần đảm bảo an toàn xã hội ổn định

- Những loại trợ giúp xã hội:

+ cứu trợ xã hội thường xuyên tên là sự giúp đỡ các điều kiện sinh sống một cách thường xuyên của xã hội cho các thành viên của mình khi họ gặp phải rủi ro bất hạnh rơivào tình cảnh rất khó khăn cuộc sống thường nhật luôn bị đe dọa tới chợ xã hội thường xuyên mang tính chất kinh tế cứu giúp nhiều hơn là trợ giúp Đối tượng chung của cứu trợ xã hội thường xuyên là những người vì những nguyên nhân khác nhau không thể tự đảm bảo cuộc sống của bản thân cụ thể như: như người ta không có nơi nương tựa màkhông có nguồn thu nhập nào khác ngoài sự cứu trợ thường xuyên của xã hội; trẻ em mồcôi Lang thang không có người nuôi dưỡng sống chủ yếu bằng sự hảo tâm và bố thí của

mn or trẻ em có gia đình và gia đình đó quá ưu tú thiếu Bố Mẹ không nuôi sống được các thành viên trong gia đình; những người tàn tật do nhiều nguyên nhân khác nhau không thể tự lao động được để tạo thu nhập hoặc không có người sinh sống nào khác; ngũ gia bì mình những người đó thường xuyên do sống ở những nơi không thuận lợi hoặc không có điều kiện lao động Tạo ra thu nhập không đảm bảo nuôi sống các thành viên gia đình ở mức tối thiểu…

Ngày đăng: 30/09/2021, 21:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- bảo hiểm thương mại có một số loại hình được pháp luật quy định thực hiện bắt buộc mang tính cộng đồng Cao xét theo khía cạnh an sinh xã hội quy định này có ý  nghĩa to lớn xã hội hình bảo hiểm thương mại bắt buộc thường bao gồm bảo hiểm trách  nhiệm dâ - Đề cương ôn tập môn an sinh xã hội
b ảo hiểm thương mại có một số loại hình được pháp luật quy định thực hiện bắt buộc mang tính cộng đồng Cao xét theo khía cạnh an sinh xã hội quy định này có ý nghĩa to lớn xã hội hình bảo hiểm thương mại bắt buộc thường bao gồm bảo hiểm trách nhiệm dâ (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w