1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

boi duong tx

49 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 388,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức những hoạt động như hội chợ vào dịp lễ, tết, hội thảo về phương pháp học tập, các buổi văn nghệ, trò chơi… để học sinh tự tham gia nhằm rèn luyện kỹ năng mềm để ứng dụng vào cuộc[r]

Trang 1

Tháng 8 năm 2015

Module TH 7:

Xây dựng môi trường học tập thân thiện.

1 Xây dựng môi trường thân thiện trong nhà trường về vật chất (phòng học,cảnh quan trường lớp, tạo khu vui chơi…)

1.2 Xây dựng môi trường thân thiện trong nhà trường về vật chất:

a Thế nào là xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất ?

Môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất là môi trường phải đảm bảo cơ

sở vật chất đáp ứng không chỉ yêu cầu của sự nghiệp giáo dục mà còn cho cuộc sống

an toàn, văn minh, phù hợp với tâm lí của HS : trường lớp sạch sẽ, có cây xanh, thoángmát; lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp lứa tuổi HS ; có sân chơi, bãi tập, …

b Ý nghĩa của việc xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất

- Tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn, tránh được những bấttrắc, nguy hiểm đe doạ HS, tạo hứng thú học tập cho HS

- Tạo sân chơi bổ ích cho các em, tạo điều kiện cho các em “Mỗi ngày đến trường

c Một số biện pháp xây dựng môi trường trường học thân thiện về mặt vật chất

- Tổ chức tốt công tác tuyên truyền tới GV, HS, phụ huynh và các tổ chức xã hội

- Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp là một trong những tiêu chí cần xây dựng,trước hết phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện:

+ Giữ vệ sinh khuôn viên trường;

+ Vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; có đủ nhà vệ sinh và giữ gìn vệ sinhsạch sẽ, không ảnh hưởng xấu đến lớp học và cảnh quan môi trường;

+ Có nhiều cây xanh bóng mát trong sân trường Tổ chức học sinh trồng cây dịpđầu xuân và chăm sóc cây thường xuyên;

+ Vệ sinh phòng học: đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng quy cách, đủ chỗngồi

- Tổ chức cho học sinh giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, tích cực tham gia bảo vệcảnh quan ngôi trường

- Tổ chức cho HS tham gia trang trí lớp học thân thiện, tạo cảnh quan lớp họcsạch,

đẹp, gây hứng thú học tập cho HS

Trang 2

- Cần phát huy tính tự quản tự giác của học sinh trong việc xây dựng môi trườngsạch đẹp của nhà trường, kết hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường: đoànthể, Liên đội….

- Khai thác và sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị, đồ dùng dạy học ở từngkhối lớp Phát động Hội thi tự làm ĐDDH Thường xuyên dự giờ rút kinh nghiệm vềviệc sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học, nhất là những giờ dạy có ứng dụng công nghệthông tin

- Tạo sân chơi lành mạnh cho các em: tổ chức các hội thi, các phong trào thiđua, các hoạt động ngoại khoá,

2 Xây dựng môi trường thân thiện trong nhà trường về tinh thần (quan hệ giáo viên-giáo viên, giáo viên-học sinh, học sinh-học sinh, nhà trường- phụ huynh…)

“Thân thiện” là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau Bản thân

khái niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc,cưu mang đầy tình người về đạo lý “Trường học thân thiện” đương nhiên phải “thânthiện” giữa tập thể sư phạm với học sinh, thân thiện với địa phương (địa bàn hoạt độngcủa nhà trường); phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau;

2.1 Trước hết, trường học phải thân thiện với địa bàn hoạt động, mà nội dung

chủ yếu của sự thân thiện là:

- Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục ở địa phương.Phải gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địaphương Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhàtrường, xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên

- Một nội dung trọng tâm về trường học thân thiện với địa phương: mỗi trườnghọc nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử ở địa phương, và tích cực chăm lo xâydựng các công trình công cộng, trồng cây, chăm sóc cho đường phố, ngõ xóm sạch sẽ

2.2 Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau Điều này rất quan trọng, vì nó là

“cái lõi” để thân thiện với mọi đối tượng khác Ở đây, vai trò của hiệu trưởng, của lãnhđạo tổ chức Đảng và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng Muốn vậy, trong quan hệ quản

lý, phải thực thi dân chủ, phải thực hiện bằng được quy chế dân chủ ở cơ sở Trongquan hệ tài chính, phải trong sáng, công khai, minh bạch đối với mọi thành viên trongnhà trường Về mặt tâm lý, phải thực sự tôn trọng lẫn nhau Không thể có thân thiện,nếu trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, nếu thiếu tôn trọng lẫn nhau, hiệu trưởnghống hách, quát nạt nhân viên dưới quyền Cũng không thể có thân thiện, nếu mọi

khoản thu chi trong nhà trường cứ “mờ mờ ảo ảo”

2.3 Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học sinh.

Thầy cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo phương châm:

“Tất cả vì học sinh thân yêu” Từ đó, trò sẽ quý mến, kính trọng thầy cô giáo Sự thân

thiện của các thầy, cô với các em là “khâu then chốt”, và được thể hiện ở các mặt sau:

- Tận tâm trong giảng dạy và giáo dục các em Muốn vậy, hãy mạnh dạn chuyểnlối dạy cũ thụ động “thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang lối dạy “thầy tổchức, trò hoạt động”, “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” Có vậy mới phát huy đượctính tự giác, tích cực học tập của các em, mới thực hiện được việc quan tâm đến từng

em học sinh, nhất là đối với các em có hoàn cảnh khó khăn, các em học sinh “cá biệt”

- Công tâm trong quan hệ ứng xử Thầy, cô giáo phải công tâm trong quan hệ

Trang 3

ứng xử, công tâm trong việc đánh giá, cho điểm (nghĩa là phải công bằng, khách quanvới lương tâm và thiên chức nhà giáo).

- Phải coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để các học sinh nam, nữ biết quýtrọng nhau, sống hòa đồng với nhau Phải rèn kỹ năng sống cho học sinh thích ứng với

xã hội, bởi cuộc sống nhà trường là cuộc sống thực, ngay ngày hôm nay, bây giờ, chứkhông chỉ chuẩn bị cho tương lai Đừng để trò phải “ngơ ngác” trước cuộc sống xã hộiđang từng ngày thay đổi

2.4 Nhà trường thân thiện phải đảm bảo cơ sở vật chất đáp ứng không chỉ yêu

cầu của sự nghiệp giáo dục, mà còn cho cuộc sống an toàn, văn minh, phù hợp với tâm

lý của đối tượng thụ hưởng Trường học thân thiện thì không thể thiếu sân chơi, bãi tậpđối với lứa tuổi “học mà chơi, chơi mà học”; ánh sáng như đom đóm, bàn ghế khôngđúng quy cách, nhà vệ sinh buộc trẻ phải bịt mũi, bặm môi mà vào Ngược lại, trườnghọc phải được xây dựng khang trang, xanh, sạch, đẹp, đúng yêu cầu sư phạm

*Tất cả những nội dung trên, trước mắt được gói gọn vào 3 điểm trọng tâm :

a Học tốt

b Đẩy mạnh việc “chơi mà học”

c Mỗi trường học là một địa chỉ nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử

* Tóm lại, trường học thân thiện phải là nơi mà mọi thành viên đều là bạn, là

đồng chí, là anh em; giáo viên nêu cao tinh thần “càng yêu người bao nhiêu, càng yêu

nghề bấy nhiêu”; mọi hoạt động giáo dục trở nên nhẹ nhàng, vui tươi, hấp dẫn mọi người, nhất là người học; trường học gắn bó mật thiết với địa phương, và có chất

lượng giáo dục toàn diện với hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao

*Cụ thể: Xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” không phải là

điều quá mới mẻ Nói như vậy là bởi vì, khoảng vài năm trở lại đây, cùng với việc đẩymạnh đổi mới phương pháp dạy học, Bộ GD-ĐT đã nhấn mạnh đến việc yêu cầu họcsinh phát huy tính chủ động, tham gia trong các hoạt động giảng dạy của giáo viên Vì

thế, phong trào “trường học thân thiện, học sinh tích cực” thực ra là sự phát triển

một hoạt động đã triển khai từ trước đó ở mỗi trường học

Trên quan điểm như vậy:

- Phải tăng cường kiểm tra, phát vấn, giao việc cho các em, qua đó góp phần giúpcác em có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói một cách có hệ thống, tự tin khi trìnhbày trước tập thể

- Phát động trong học sinh tham gia dự thi làm ĐDDH sau các tiết học Đây làcách để kiểm tra mức độ vận dụng của học sinh đồng thời cũng là cơ hội để các emtham gia cải tiến giờ dạy có chất lượng cao hơn

- Thầy, cô giáo phải có phương pháp giảng dạy tích cực để cho HS tích cực Bởi

vì trong một lớp học, số “HS tích cực” rất là ít, thường là những em có học lực và hạnhkiểm khá - giỏi, còn đa số là thụ động

- Đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho có thể lôi cuốn tất cả học sinh thamgia

- Tổ chức một số hoạt động sáng tạo, phát huy trí tuệ và năng lực hoạt động củahọc sinh như thuyết trình, lập báo cáo, làm mô hình kỹ thuật, viết phần mềm tin học,sáng tác thơ văn…

- Các tổ bộ môn cũng sẽ giao một số đề tài nghiên cứu nhỏ cho học sinh thực hiệnnhư: sưu tầm tranh ảnh, tài liệu theo chủ đề…

Trang 4

- Để tạo thêm sân chơi cho học sinh, tuỳ vào sở trường của mình, các em có thểtham gia các CLB như CLB Tin học, CLB Thơ văn,

- Trong những buổi ngoại khoá, chào cờ đầu tuần… nhà trường tổ chức lồng ghép

kể chuyện về tấm gương các danh nhân, anh hùng liệt sĩ tiêu biểu của quê hương; giớithiệu các hình thức diễn xướng đặc trưng của quê hương…

- Hoàn thiện nhân cách cho học sinh bằng cách phát động các phong trào “Khôngnói tục chửi thề”, “Gọi bạn xưng tên”, “Kính trên nhường dưới, lễ phép với thầy côgiáo, người lớn tuổi”…

- Tạo điều kiện học sinh được tham gia các hoạt động trong nhà trường một cáchchủ động, được bộc lộ quan điểm, rèn luyện các kỹ năng và hình thành quan hệ tốttrong giao tiếp với thầy cô và bạn bè Tổ chức những hoạt động như hội chợ (vào dịp

lễ, tết), hội thảo về phương pháp học tập, các buổi văn nghệ, trò chơi… để học sinh tựtham gia nhằm rèn luyện kỹ năng mềm để ứng dụng vào cuộc sống như thuyết trình,xây dựng hình ảnh bản thân, phương pháp làm việc nhóm…

Từ phong trào xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực”, xây dựng mộtmôi trường sư phạm thực sự lành mạnh, trong đó, học sinh biết bảo vệ danh dự của nhàtrường, của tập thể lớp và của chính bản thân mình; biết bảo vệ cái đúng, phê phán cáisai… Và để làm được điều này, cần phải có sự chung tay của cả gia đình và cộng đồng

………

Tháng 09 năm 2015

VÈ TÌM X

Nghe vẻ nghe veNghe vè tìm xThành phần chưa biết

Ta phải làm sao?

Tìm số hạng nàyTổng đem trừ nhé

Số bị trừ đấyHiệu cộng số trừTìm tiếp số trừ

Bị trừ trừ hiệu

Đi tìm thừa sốLấy tích đem chiaMuốn tìm số chia

Bị chia chia nốt

Số bị chia đấyThương lại đem nhânTìm x đã xong

Bạn ơi dễ lắm

Dễ lắm ấy mà dễ lắm…

Trang 5

DIỆN TÍCH CÁC HÌNH

Muốn tính diện tích hình thangĐáy lớn, đáy bé ta mang cộng vàoRồi đem nhân với đường caoChia đôi kết quả thế nào cũng ra

Muốn tìm diện tích hình vuông,Cạnh nhân với cạnh ta thường chẳng sai

Chu vi ta đã học bài,Cạnh nhân với bốn có sai bao giờ

Muốn tìm diện tích hình tròn,

Pi nhân "bán kính bình phương" sẽ thành

Chu vi tứ giác bảo rằng:

“Bốn cạnh cộng lại là bằng tôi thôi”

Diện tích được thơ hóa rồiMời bạn hát nhé để tôi đệm đàn

“Muốn tìm diện tích hình thangĐáy lớn đáy nhỏ ta mang cộng vàoThế rồi nhân với chiều caoChia đôi lấy nửa thế nào cũng ra”

Hình vuông mỗi cạnh bằng aDiện tích - bằng tích a nhân a rồiMuốn tìm diện tích hình thoiTích hai đường chéo chia đôi ngon lànhDiện tích của hình bình hànhChiều cao nhân đáy là thành ngay thôi

Diện tích chữ nhật bạn ơiLấy dài nhân rộng chẳng đời nào quên….

………

Tháng 10 năm 2015

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TỐT CÁC BÀI

TOÁN LIÊN QUAN

1/Phương pháp chung để giải các bài toán:

Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phươngpháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó Cho nên, chúng ta cầnhướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau:

* Bước 1: Đọc kĩ đề toán.

Trang 6

* Bước 2: Tóm tắt đề toán.

* Bước 3: Phân tích bài toán.

* Bước 4: Viết bài giải.

* Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải.

Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau:

a/ Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần mục đích để giúp các em nắm được ba

yếu tố cơ bản Những “ dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩnsố” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữkiện với ẩn số

Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên cácyếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cầnthiết liên qua đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, pháthiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ rànghơn Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay

b/ Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm

cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải tìm hiện rõhơn Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tắt ấy mà nhắclại được đề toán

Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiềucách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt cáccách sau tới học sinh:

c/ Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài

để tìm ra cách giải bài toán Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương phápphân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạngcác câu hỏi thông thường:

- Bài toán cho biết gì?

- Bài toán hỏi gì?

- Muốn tìm cái đó ta cần biết gì?

- Cái này biết chưa?

- Còn cái này thì sao?

- Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?

Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắmbài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán

d/ Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ dễ dàng

viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình

Trang 7

bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, khôngviết tắt, chữ và số phải đẹp.

e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:

Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinhthường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời Khi giáoviên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là đúng không?” thì nhiều em lúng túng Vì vậy việckiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán va phải trở thành thói quenđối với học sinh Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông quacác bước:

- Đọc lại lời giải

- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễnđạt trong lời giải đúng chưa

- Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên

- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa

Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải,tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện pháttriển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh

2/ Phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng phép tính chia ,nhân ( kiểu bài 1):

Để học sinh nắm chắc phương pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến hành dạyngay ở trên lớp theo phương pháp và hình thức sau:

a/ Kiểm tra bài cũ: Để nhắc lại kiến thức cũ và chuẩn bị cho kiến thức mới cần

truyền đạt, tôi ra đề như sau:

“Mỗi can chứa được 5 lít mật ong Hỏi 7 can như vậy chứa được bao nhiêu lít mậtong?”

Với bài này, học sinh dễ dàng giải được như sau:

* Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, giáo viên vừa củng cố, vừa giới

thiệu bài ngày hôm nay các em được học

* Hướng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đểu vào 7 can Hỏi mỗi can

có mấy lít mật ong?

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đầu bài( 3 em)

- Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán ( sử dụng phương pháp hỏi đáp):

+ Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can)

+ Bài toán hỏi gì? ( 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong)

+ Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng:

7 can: 35 l

1 can:? l

- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán để tìm phương pháp giải bài toán

Trang 8

- Giáo viên yêu cầu học sinh làm vào bảng con.

- Giáo viên đưa bài giải đối chiếu

- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài ( 3 lần)

- Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán – Giáo viên ghi bảng( Phương pháp hỏi đáp)

7 can : 35 lít

2 can : ? lít

- Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: ( Phương pháp hỏi đáp)

+ Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? ( 1 canchứa được bao nhiêu lít mật ong)

+Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? ( Lấy số lít mậtong trong 7 can chia cho 7)

+ Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: ? l

+ Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can

(Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2)

- Một học sinh nêu lần lượt bài giải Giáo viên ghi bảng

- Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán – kiểu bài 1:

Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước:

+Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị ( giá trị một phần trong các phần bằng nhau)

Thực hiện phép chia

+ Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại( giá trị của nhiều phần bằng

nhau) Thực hiện phép nhân

Trang 9

+ Học sinh nhẩm thuộc, nêu lại các bước.

- Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng

- Giáo viên nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải thíchcách làm như

3 túi : 45 kg hoặc : 4 thùng : 20 gói

Bài 1: - Hướng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh tóm tắt và

giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở

- Củng cố bước rút về đơn vị

- Củng cố các bước giải bài toán này

Bài 2: - Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi.

- Yêu cầu 1 cặp học sinh trình bày bảng – Giáo viên kiểm tra các kết quảcủa cả lớp

- Yêu cầu học sinh nêu bước rút về đơn vị

- Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán

Bài 3: Hướng dẫn học sinh chơi trò chơi ghép hình.

d/ Củng cố dặn dò:

- Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút vềđơn vị ( kiểu bài 1)

- Giao thêm bài về nhà dạng tương tự để hôm sau kiểm tra

- Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài 1 là: +Bài giải được thực hiện qua 2 bước:

Bước 1: ( Bước rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị ( Giá trị 1 phần) ( phép

chia)

Bước 2: Tìm nhiều đơn vị ( từ 2 trở lên) ( phép nhân).

+ Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị( nhiều phần)

- Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải được kiểu bài 2

3/ Phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị giải bằng 2 phép tính chia: ( Kiểu bài 2)

Khi dạy kiểu bài 2 này, tôi cũng dạy các bước tương tự Song để học sinh dễnhận dạng, so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài, khi kiểm tra bài cũ, tôi đưa đề bài lậplại của kiểu bài 1: “ Có 35 lít mật ong rót đều vào 7 can Hỏi 2 can đó có bao nhiêu lítmật ong” Mục đích là vừa kiểm tra, củng cố phương pháp giải ở kiểu bài 1, cũng là đểtôi dựa vào đó hướng các em tới phương pháp giải ở kiểu bài 2( giới thiệu bài)

Bài toán ở kiểu bài 2 có dạng sau: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can Nếu có

10 lít mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế?

- Cách tổ chức, hướng dẫn học sinh cũng như ở kiểu bài 1

- Khi củng cố, học sinh nêu được ở bước 1 là bước rút về đơn vị và các bước thựchiện bài giải chung của kiểu bài 2 này

Trang 10

+ Bước 1:: Tìm giá trị 1 đơn vị ( giá trị 1 phần) ( đây là bước rút về đơn vị)

( phép chia)

+ Bước 2: Tìm số phần (số đơn vị) ( phép chia).

Sau mỗi bài tập, chúng ta lại củng cố lại một lần, các em sẽ nắm chắc phươngpháp hơn Đặc biệt khi học xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với cách giải ở kiểubài 1 Cho nên, chúng ta phải hướng dẫn học sinh cách kiểm tra, đánh giá kết quả bàigiải ( thử lại theo yêu cầu của bài)

Ví dụ: Các em đặt kết quả tìm được vào phần tóm tắt của bài các em sẽ thấy được cái

vô lí khi thực hiện sai phép tính của bài giải như:

35 l : 7 can 35 l : 7 can

10 l : 2 can ( đúng) 10 l : 50can ( vô lí)

Từ đó các em nắm chắc phương pháp giải kiểu bài 2 tốt hơn, có kĩ năng , kĩ xảotốt khi giải toán

……….

Tháng 11 năm 2015

Module TH 15: Một số phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học.

1 Mục tiêu:

- Hiểu được bản chất của phương pháp dạy học tích cực.

- Nắm được vai trò và nội dung cơ bản của một số phương pháp dạy học tích cực.

- Thực hiện được phương pháp dạy học tích cực trong một số bài giảng.

- Khẳng định sự cần thiết và có ý thức tự giác, sáng tạo áp dụng phương pháp tích cực.

2 Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường Tiểu học.

a Phương pháp vấn đáp

* Vấn đáp: Là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời,

hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

* Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã

biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.

* Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó,

giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe - nhìn

* Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để

hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể

cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định

b Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt

ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương

Trang 11

pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:

* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức - Tạo tình huống có vấn đề;

- Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;

- Phát hiện vấn đề cần giải quyết

* Giải quyết vấn đề đặt ra - Đề xuất cách giải quyết;

- Lập kế hoạch giải quyết;

- Thực hiện kế hoạch giải quyết.

* Kết luận: - Thảo luận kết quả và đánh giá;

- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;

- Phát biểu kết luận;

- Đề xuất vấn đề mới.

* Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách

giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề .

Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện

và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc

cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

c Phương pháp hoạt động nhóm: Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến

6 người Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp

* Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

Làm việc chung cả lớp: - Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ

- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.

Làm việc theo nhóm: - Phân công trong nhóm.

- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm

- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm

Tổng kết trước lớp: - Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.

- Thảo luận chung

- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.

Trang 12

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu

ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên Thành công của bài học phụ thuộc vào

sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia

d Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng xử nào

đó trong một tình huống giả định

Phương pháp đóng vai có những ưu điểm sau:

- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực.

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

Cách tiến hành có thể như sau:

- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai.

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.

- Các nhóm lên đóng vai.

- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai.

- Vì sao em lại ứng xử như vậy?

- Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử?

- Lớp thảo luận, nhận xét : Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?

- Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống

Những điều cần lưu ý khi sử dụng:

- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai

- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai

- Nên khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia.

- Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.

- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to.

- Phân loại ý kiến.

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.

III Đối với Module TH35: GV nhiệm trong các hoạt động ở trường tiểu học.

1 Giáo viên chủ nhiệm với công tác quản lý và giáo dục học sinh trong các giờ học chính khóa:

Trang 13

Như chúng ta đã biết, bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho học sinh Như vậy, để giáo dục học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp cần tổ chức tốt các hoạt động và thu hút các em tham gia một cách tích cực nhất Trong trường tiểu học cần tổ chức tốt các hoạt động sau đây:

Học tập là hoạt động quan trọng nhất của học sinh, để giúp cho lớp học tập tốt, giáo viên chủ nhiệm lớp phải chú ý:

Rèn cho học sinh thói quen đi học đầy đủ, đùng giờ, bằng các biện pháp cụ thể sau:

- Giáo viên chủ nhiệm có mặt thường xuyên tại lớp 10 phút trước giờ học mỗi ngày, đặc biệt là những ngày đầu tuần.

- Tổ chức 10 phút “ Ôn bài” đầu giờ học mỗi ngày Ôn bài là biện pháp giúp nhau ôn tập nhanh, chuẩn bị sẵn sàng cho ngày học mới Truy bài đầu giờ còn là biện pháp khắc phục tình trạng đi học muộn, cho nên cần được tổ chức tốt và duy trì lâu dài.

- Thành lập đội “Sao đỏ” của lớp để theo dõi thi đua giữa các tổ và tham gia trực tuần với các lớp trong trường.

Rèn cho học sinh thói quen tích cực tham gia học tập bằng các biện pháp sau:

- Tổ chức thi đua giữa các tổ trong lớp, ghi lại số lần tham gia phát biểu ý kiến trong các giờ học.

- Tổ chức cho học sinh chuẩn bị trước các bài học trong ngày.

- Tổ chức cho học sinh trao đổi về phương pháp đọc sách, ghi chép và sử dụng tài liệu và thảo luận trên lớp.

- Nêu gương những học sinh có phương pháp học tập tốt, đặc biệt những học sinh nghèo học giỏi.

- Tổ chức cho học sinh học nhóm, đôi bạn cùng học để hỗ trợ nhau học tập.

2 Giáo viên chủ nhiệm với các hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tiết cháo cờ, hoạt động của sao nhi đồng và Đội TNTPHCM

2.1 Với Tiết chào cờ đầu tuần:

Sau tiết sinh hoạt dưới cờ (tiết đầu tuần), các giáo viên chủ nhiệm (GVCN) nắm danh sách các học sinh (HS) vắng có phép, không phép, đi trễ, hoặc vi phạm nội quy như mang dép lê, áo không có phù hiệu, tóc tai xịt keo hay nhuộm màu… để GVCN làm việc với các

em, quán triệt nội quy hoath động của lớp… Bởi vì trong giờ này, ngoài những vấn đề

“thời sự” liên quan đến nhà trường và học sinh, thầy cô còn cung cấp cho học sinh những bài học đạo đức Khi trong lớp có học sinh nào gặp hoàn cảnh khó khăn là thầy cô gợi ý cho lớp thể hiện tinh thần tương thân tương ái, giúp một bạn vượt khó, với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, chuyện kỷ luật trong lớp, việc thi đua nội bộ lớp, việc đánh giá học sinh cũng được giáo viên hướng dẫn thực hiện một cách nhẹ nhàng và chân tình.

2.2 Với hoạt động của sao nhi đồng và Đội TNTPHCM:

Phối hợp với Tổng phụ trách trong hoạt động Đội – Sao: - Mỗi tiết học hiệu quả hơn nếu nề nếp lớp học tốt Bởi vậy, cần phối hợp với ban thi đua yêu cầu chấm điểm về nề nếp lớp học và trao đổi các hoạt động ngoài giờ lên lớp phù hợp.

- Trong sinh hoạt 10 phút, GVCN định hướng cho các em phụ trách sao đến giao lưu chi đội các lớp bằng một số hoạt động giao tiếp hàng ngày đơn giản; hay kiểm tra bảng cửu chương, kỹ năng tính toán, thi vẽ tranh Vậy là chỉ 10 phút sinh hoạt Sao đầu buổi học các em được rèn rất nhiều kỹ năng nhờ vào anh chị phụ trách Sao.

3 Giáo viên chủ nhiệm với công tác quản lý và giáo dục học sinh 2 buổi/ ngày

Dạy học cả ngày, giáo viên chủ nhiệm (GVCN) có cơ hội tốt nhất để thực hiện việc dạy phân hoá HS, có thời gian bù đắp lỗ hổng kiến thức cho HS yếu, có điều kiện tốt nhất

Trang 14

để phát triển năng lực tư duy cho HS khá giỏi Ngoài ra, dạy học cả ngày, GV có thể tạo những sân chơi thật bổ ích cho việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh Lâu nay, trong dạy học GV đã thực sự đổi mới từ việc chọn nội dung, hình thức, thời lượng, đồ dùng dạy học, cách đánh giá,… cho phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục (GD)

Trong giai đoạn hiện nay, công tác chủ nhiệm lớp ngày càng đòi hỏi sự dày công của người giáo viên hơn nữa; bởi trong một xã hội đang phát triển, mặt trái của kinh tế thị trường có tác động đến việc hình thành nhân cách của học sinh, bên cạnh đó để mưu sinh nên không ít phụ huynh đã giao phó việc giáo dục con cái cho nhà trường Vì vậy, thầy cô giáo chủ nhiệm giống như người cha, người mẹ thứ hai của các em Chính vì thế mà công tác chủ nhiệm đòi hỏi ở các thầy, cô phải có nhiều kinh nghiệm và sự hy sinh cao cả.

* Công tác chủ nhiệm lớp là hệ thống những kế hoạch, những biện pháp mà người giáo viên đã đưa ra nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện tốt những nhiệm vụ của mình do nhà trường, Đoàn, Đội đưa ra Bao gồm:

- Khảo sát đối tượng học sinh để đưa ra những phương pháp giáo dục phù hợp.

+ Học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn.

+ Học sinh khuyết tật.

+ Học sinh cá biệt về đạo đức.

+ Học sinh yếu.

+ Học sinh có những năng lực đặc biệt.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp giỏi quản lý, tổ chức, kiểm tra.

- Phối kết hợp thường xuyên với phụ huynh.

- Đầu tư, tổ chức các phong trào trong nhà trường.

- Nêu gương và khen thưởng.

4 Vấn đề phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với Ban đại diện cha mẹ học sinh

- Giáo viên chủ nhiệm là người nắm rõ mọi chủ trương, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, do đó trở thành “nhịp cầu” trung gian trao đổi thông tin giữa nhà trường với Ban đại diện cha mẹ học sinh Mặt khác, thu nhận thông tin, ý kiến, nguyện vọng của cha mẹ học sinh để báo lại với lãnh đạo nhà trường Từ đó gắn kết được trách nhiệm giữa nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh Sự phối hợp giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh với giáo viên chủ nhiệm được thực hiện có tổ chức theo kế hoạch chung của nhà trường bằng những cuộc họp định kỳ Thông qua những cuộc họp này, giáo viên chủ nhiệm ngoài việc truyền đạt chủ trương, thông báo của nhà trường, còn trực tiếp báo cáo với cha mẹ học sinh về thực trạng của lớp, tình hình học tập, tư cách đạo đức của từng học sinh Muốn vậy, giáo viên chủ nhiệm cần phải bám sát, gần gũi, có trách nhiệm và tình thương để có những nhận xét, đánh giá phân minh nhất đối với từng đối tượng - điều này

sẽ giúp phụ huynh học sinh tin tưởng đối với việc giáo dục của nhà trường và kịp thời chấn chỉnh việc học và tác phong đạo đức học sinh.

- Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm còn chủ động liên hệ mời phụ huynh đến trường hoặc giáo viên chủ nhiệm đến nhà trao đổi riêng, bàn bạc giải pháp giáo dục và khắc phục những sai phạm của học sinh.

- Mỗi lớp đều có ban chấp hành chi hội, giáo viên chủ nhiệm tham vấn với ban chấp hành chi hội nhằm có những hành động thiết thực để động viên, quan tâm đúng mức với mọi hoạt động của lớp, của trường Mặt khác, để nắm bắt những hành động sát thực của học sinh ở trường, lớp, giáo viên chủ nhiệm mời đại diện chi hội cùng tham gia sinh hoạt lớp, tiếng nói động viên, căn dặn của phụ huynh học sinh cũng có tác dụng tích cực trong

Trang 15

việc giáo dục đạo đức học sinh, đây cũng là cơ hội gặp gỡ để phụ huynh học sinh trao đổi những suy nghĩ, mong muốn của gia đình trong việc giáo dục Sự phối hợp chặt chẽ đó sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm hiểu cặn kẽ hơn từng đối tượng học sinh và có phương pháp phù hợp cho từng đối tượng (đặc biệt là những học sinh cá biệt, có hành vi, lối sống lệch chuẩn).

- Gia đình là nơi đầu tiên và có trách nhiệm cao hơn cả trong việc hình thành nhân cách học sinh Song có những gia đình thiếu kiến thức sư phạm nên đi ngược lại với mục tiêu giáo dục của nhà trường Do đó, giáo viên chủ nhiệm có liên hệ, trao đổi với phụ huynh học sinh thì mới thống nhất được phương pháp giáo dục hiệu quả.

5 Giáo viên chủ nhiệm với công tác giáo dục học sinh cá biệt:

* Thưc trạng vấn đề: Từ thực tiễn của nhà trường, hiện nay học sinh cá biệt, chưa ngoan không phải là phổ biến nhưng ở trường nào cũng chịu ảnh hưởng bởi đối tượng học sinh này đối với phong trào chung của lớp, chúng gây ảnh hưởng thường xuyên đến kết quả thi đua của bạn bè toàn lớp Nhìn chung những biểu hiện của các em là chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội Bên cạnh còn có nhiều nguyên nhân khác gây ra:

*Nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt:

- Các em đi học do gia đình ép buộc.

- Do tác động của xã hội, bị bè bạn không tốt lôi kéo.

- Sự kích động của phim ảnh, các trò trơi bạo lực từ game.

- Chưa có sự quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái.

- Do gia đình khá giả, chỉ biết cung cấp tiền cho con mà không quan tâm đến kết quả học tập của con mình, dẫn đến tính ỷ lại.

- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải làm thêm giúp gia đình nên thường xuyên bỏ học, học lực sa sút.

- Do cho mẹ ly hôn, dẫn đến buồn chán.

- Do lớp học có quá nhiều học sinh yếu, kém…

Bên cạnh cũng có thể một số nguyên nhân xuất phát từ giáo viên như:

* Đối với giáo viên bộ môn:

- Do học yếu kém nên giáo viên bộ môn phân biệt trong cư xử.

- Thường xuyên gọi trả bài.

- Cho nhiều điểm kém.

- So sánh giữa học sinh này với học sinh khác.

- Hâm dọa sẽ ở lại lớp… làm cho HS mất đi niềm tin dẫn đến bi oan, chán chường, không muốn học những môn đó…

* Đối với giáo viên chủ nhiệm:

-Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt còn sử dụng tùy tiện các phương pháp không phù hợp và chưa khoa học.

- Xử lý học sinh trong lớp không công bằng

- Không xây dựng được quy định riêng cho lớp.

- Xử lý không đến nơi, đến chốn.

- Chỉ nhắc nhỡ mà không có biện pháp cưỡng chế.

- Học sinh vi phạm lỗi nhẹ cũng mời phụ huynh.

- Chưa kết hợp với phụ huynh, chưa thông báo kịp thời với phụ huynh.

- Có thái độ kỳ thị đối với học sinh yếu, kém (cá biệt).

- Không thường xuyên theo dõi lớp mà chỉ giao cho lớp trưởng quản lý.

- Bầu Ban cán sự lớp không đủ năng lực.

- Phạt học sinh vi phạm quá nặng.

Trang 16

- Chỉ nói mà không thực hiện…

* Đối với học sinh cá biệt thường có các biểu hiện sau:

- Bỏ học, cúp tiết, thường đi học trễ.

- Không đồng phục, phù hiệu.

- Đầu tóc, tác phong.

- Mất trật tự trong giờ học.

- Không chú ý nghe thầy cô giảng dạy.

- Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề).

- Đùa giỡn, chọc gẹo người khác quá mức.

- Sách vỡ không đầy đủ, thường xuyên không chép bài.

- Mê chơi game, lôi kéo, rủ rê bè bạn.

- Đia học về nhà không đúng giờ.

- Thường nói dối.

- Không giữ vệ sinh trường lớp …

IV Đối với Module TH 13: Kĩ năng lập KH bài học theo hướng dạy học tích cực:

1 Phân loại bài học ở Tiểu học; yêu cầu chung của mỗi loại bài học (bài hình thành kiến thức mới, bài thực hành, bài ôn tập, kiểm tra)

1.1 Phân loại bài học ở tiểu học

Ở tiểu học có các loại bài học sau:

- Loại bài hình thành kiến thức mới

- Loại bài thực hành

- Loại bài ôn tập, kiểm tra

1.2 Yêu cầu chung của mỗi loại bài học

a Loại bài hình thành kiến thức mới:

Các bài tập hình thành kiến thức mới cần ngắn gọn, tường minh, dễ hiểu, thu hút được trí tò mò, khám phá của HS.

b Loại bài thực hành:

- Bài tập thực hành cần bám sát phần lí thuyết, đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng.

c Loại bài ôn tập, kiểm tra:

- Nội dung bài ôn tập cần hệ thống được toàn bộ các kiến thức đã học.

- Nội dung bài kiểm tra cần bám sát mục tiêu giáo dục, phù hợp với nội dung dạy học cụ thể, với đặc điểm lứa tuổi HS và với cơ sở vật chất của nhà trường.

2 Cách triển khai mỗi loại bài học theo hướng dạy học phát huy tính tích cực của người học:

2.1 Loại bài hình thành kiến thức mới:

- GV thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.

- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái

độ tự tin trong học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.

- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học, đặc

Trang 17

điểm và trình độ HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.

2.3 Loại bài ôn tập, kiểm tra:

- Thiết kế, tổ chức bài ôn tập, kiểm tra với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn với HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.

- Nội dung bài kiểm tra phù hợp với đặc điểm, trình độ HS; thời gian, thời lượng kiểm tra cần bám sát với nội dung, chương trình, quy định của Bộ GD & ĐT.

3 Các bước, yêu cầu thiết kế kế hoạch bài học theo hướng dạy học phát huy tính tích cực của người học:

3.1 Tìm hiểu tiêu chí của một “giờ dạy tích cực”

“Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)”, “tích cực hóa” hoạt động của học sinh, “dạy học tích cực”… là những cụm từ đã quá quen thuộc với tất cả các giáo viên Ở nhà trường tiểu học, việc đổi mới PPDH đã được triển khai thực hiện từ khá lâu và hầu hết giáo viên tiểu học đều có ý thức phải đổi mới PPDH, nhưng trong quá trình thực hiện, do thiếu thông tin, thiếu những tư liệu hướng dẫn, nhiều GV hiện còn ngộ nhận về tính tích cực của một tiết dạy và vẫn dạy học theo lối truyền thụ thụ động, chưa thật sự tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy của mình Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu, bởi nhận thức được vấn đề là một chuyện song thực hiện nó một cách hiệu quả lại là chuyện khác, khó khăn hơn nhiều

Thực tế cho thấy, nhiều GV khi được yêu cầu tự nhận xét về sự thành công, tính tích cực của tiết dạy mà mình vừa thực hiện đã không tránh khỏi sự lúng túng và đa số là nhận xét chung chung, không có nhiều nhận xét Điều đó cho thấy họ chưa thật sự thấu hiểu về tính tích cực của một tiết dạy.

Hệ quả của việc không hiểu rõ các tiêu chí để đánh giá một tiết dạy tích cực chính là những giáo án không chứa đựng yếu tố “tích cực” đúng nghĩa Bởi nếu không biết và hiểu

rõ thế nào là một “giờ dạy tích cực”, GV khó có thể thiết kế được các hoạt động phù hợp nhằm tích cực hóa hoạt động của HS, mà cụ thể là khó khăn trong việc lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học tối ưu.

Theo tôi, một giờ dạy được gọi là “tích cực” khi mà các tiêu chí sau được thỏa mãn:

* Tiêu chí 1: Mọi HS đều được hoạt động

Dạy học sao cho tất cả HS đều được hoạt động, đều được làm việc (hay dạy học bằng cách tổ chức làm việc) là một trong những định hướng quan trọng của việc đổi mới PPDH ở Tiểu học Đây là một cách dạy học tiên tiến, nó bám sát nguyên tắc: “Dạy học

thông qua các hoạt động bằng tay của bản thân từng trẻ em” (Phạm Đình Thực, 2008).

Dưới đây là một ví dụ: Giả sử GV muốn yêu cầu HS xác định yêu cầu của một bài toán nào đó Ta so sánh hai cách dạy:

Cách 1: Đàm thoại:

Trang 18

GV hỏi cả lớp: “Em hãy cho thầy (cô) biết bài toán này hỏi gì? Ai biết giơ tay?” Thế thì không có gì bảo đảm là cả lớp đều suy nghĩ để xác định câu hỏi của bài toán Bởi vì thường thường chỉ có bốn, năm em; thậm chí một, hai em giơ tay xin trả lời Do đó, ta chỉ

có thể khẳng định chắc chắn là trong lớp chỉ có bốn, năm em (hoặc một, hai em) có suy nghĩ Nhưng trên thực tế chỉ có một em được GV chỉ định trả lời, do đó chỉ có một em được thực sự làm việc.

Cách 2: Tổ chức làm việc:

GV ra lệnh: Giơ bút chì! (Cả lớp giơ bút chì) Gạch dưới câu hỏi của bài toán! (Cả lớp, nghĩa là mỗi HS, đều phải chú ý đọc đề toán trong SGK để xác định câu hỏi rồi gạch dưới) Trong lúc này, GV đi xuống cạnh các HS để đôn đốc các em làm việc, giúp đỡ các

em kém GV có thể đưa mắt nhìn bao quát cả lớp, hễ thấy HS nào không cầm bút chì gạch

một cái gì đó thì nhắc nhở em ấy làm việc Nhờ có những lệnh làm việc bằng tay này mà

những HS không chịu làm việc sẽ bị lộ ra do đó GV có thể kiểm soát được hoạt động của

cả lớp.

Sau khi quan sát thấy đa số HS đã gạch xong thì GV có thể cho một em đọc xem mình đã gạch dưới câu nào để cả lớp nhận xét Như vậy, trong dạy học tích cực, việc tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp sao cho từng cá nhân trong lớp học đều được tham gia là hết sức quan trọng Công việc này đòi hỏi người GV phải có sự đầu tư đúng mức trong quá trình soạn giáo án lên lớp

* Tiêu chí 2: Tự học sinh sản sinh ra tri thức

Trước đây, trong quá trình dạy học nói chung, dạy học tiểu học nói riêng có sự mất cân đối rõ rệt giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò GV thường chỉ truyền đạt, giảng giải các tri thức có sẵn cho HS, còn HS học tập một cách thụ động: nghe giảng, ghi nhớ và làm theo mẫu

Song trong xu hướng đổi mới hiện nay, GV không còn đóng vai trò truyền thụ như trước đây nữa, mà trở thành người tổ chức, điều khiển quá trình dạy học để HS tích cực, chủ động, sáng tạo và tự chiếm lĩnh tri thức Chính vì vậy, một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự thành công của một giờ dạy, một tiết dạy chính là khả năng tự sản sinh ra tri thức mới của HS

Do vậy, các hoạt động dạy học trong một tiết dạy học ở Tiểu học phải được thiết kế sao cho phải khơi gợi được nơi HS sự tìm tòi khám phá nhằm dẫn dắt các em tiến dần đến tri thức cần chiếm lĩnh

* Tiêu chí 3: Tạo bầu không khí lớp học vui vẻ, thoải mái

Một trong ba tiêu chí quan trọng của một giờ dạy tích cực chính là bầu không khí lớp học Để có thể tự do hoạt động, khám phá tri thức, HS tiểu học cần một môi trường dạy học đầy sự vui vẻ và thoải mái Bởi lẽ, với một bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt thì khó có thể đạt được 2 tiêu chí đã nêu ở trên.

Trong dạy học cho HS tiểu học, GV cần thật sự chú ý đến việc tạo không khí học tập sôi nổi, vui vẻ, làm sao để các em cảm thấy thoải mái nhất khi tham gia các hoạt động Vì vậy việc làm thế nào để lôi cuốn sự chú ý của HS, khiến các HS hào hứng, thoải mái là một trong những việc cần được GV dành nhiều quan tâm trong quá trình chuẩn bị cho tiết dạy

3.2 Các bước thiết kế kế hoạch bài học theo hướng dạy học phát huy tính tích cực của người học:

Trang 19

Xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể thể hiện mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh nhằm giúp học sinh đạt được những mục tiêu của bài học.

Để xây dựng được kế hoạch bài học theo hướng dạy học phát huy tính tích cực của người học, GV cần thực hiện qua 5 bước sau:

- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình.

- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để:

+ Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học.

+ Xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS + Xác định trình tự, lôgic của bài học

- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh:

- Bước 5: Xây dựng kế hoạch bài học: Xác định mục tiêu, thiết kế nội dung, nhiệm

vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy học của GV

và hoạt động học tập của HS

……….

Tháng 12 năm 2016

KHAI THÁC BÀI TOÁN THI OLIMPIC TOÁN TUỔI THƠ

Bài toán 1 Một hộp đựng 100 viên bi, trong đó có 25 viên bi đỏ, 30 viên bi xanh, 35

viên bi vàng, còn lại là bi đen và bi trắng Hỏi phải lấy ra ít nhất bao nhiêu viên bi để chắc chắn có ít nhất 10 viên bi cùng màu ?

Phân tích : Đây là một bài toán hay và lạ, rất ít tài liệu đề cập đến Khi gặp bài toán

này nhiều em học sinh tỏ ra lúng túng không tìm được cách giải

Để giải được bài toán này, các em cần phải thực hiện như sau : Lấy ra số viên bi lớn nhất sao cho vẫn không thoả mãn yêu cầu của đề bài Sau đó chỉ cần thêm 1 viên bi nữa là sẽ có số viên bi ít nhất cần lấy ra để thoả mãn bài toán

Bài giải : Số viên bi đen và bi trắng là :

100 – ( 25 + 30 + 35 ) = 10 (viên bi)

Nếu lấy ra 9 viên bi đỏ, 9 viên bi xanh, 9 viên bi vàng, 10 viên bi đen và bi trắng thì đây là số bi lớn nhất mà vẫn không thoả mãn yêu cầu Do đó để chắc chắn có ít nhất 10viên bi cùng màu thì phải lấy ra ít nhất số viên bi là :

9 + 9 + 9 + 10 + 1 = 38 (viên bi)

• Từ bài toán trên nếu ta thay giả thiết “cùng màu” bởi giả thiết “cùng màu đỏ” thì ta

có bài toán mới sau :

Trang 20

Bài toán 2 Một hộp đựng 100 viên bi, trong đó có 25 viên bi đỏ, 30 viên bi xanh, 35

viên bi vàng, còn lại là bi đen và bi trắng Hỏi phải lấy ra ít nhất bao nhiêu viên bi để chắc chắn có ít nhất 10 viên bi cùng màu đỏ ?

Bài giải : Số viên bi đen và bi trắng là :

100 – ( 25 + 30 + 35 ) = 10 (viên bi)

Nếu lấy ra 30 viên bi xanh, 35 viên bi vàng, 10 viên bi đen và bi trắng, 9 viên bi đỏ thì đây là số bi lớn nhất mà vẫn không thoả mãn yêu cầu Do đó để chắc chắn có ít nhất 10viên bi cùng màu đỏ thì phải lấy ra ít nhất số viên bi là :

30 + 35 + 10 + 9 + 1 = 85 (viên bi)

• Tương tự, ta có thêm hai bài toán mới nữa như sau :

Bài toán 3 Một hộp đựng 100 viên bi, trong đó có 25 viên bi đỏ, 30 viên bi xanh, 35

viên bi vàng, còn lại là bi đen và bi trắng Hỏi phải lấy ra ít nhất bao nhiêu viên bi để chắc chắn có ít nhất 10 viên bi cùng màu xanh ?

Bài toán 4 Một hộp đựng 100 viên bi, trong đó có 25 viên bi đỏ, 30 viên bi xanh, 35

viên bi vàng, còn lại là bi đen và bi trắng Hỏi phải lấy ra ít nhất bao nhiêu viên bi để chắc chắn có ít nhất 10 viên bi cùng màu vàng ?

• Ta nhận thấy rằng trong hộp có 5 loại bi khác nhau (đỏ, xanh, vàng, đen, trắng), khai thác điều này ta có thêm bài toán mới thú vị sau :

Bài toán 5 Một hộp đựng 100 viên bi, trong đó có 25 viên bi đỏ, 30 viên bi xanh, 35

viên bi vàng, 6 viên bi đen và 4 viên bi trắng Hỏi phải lấy ra ít nhất bao nhiêu viên bi

để chắc chắn có ít nhất 5 viên bi khác màu ?

Bài giải : Nếu lấy ra 25 viên bi đỏ, 30 viên bi xanh, 35 viên bi vàng, 6 viên bi đen thì

đây là số bi lớn nhất mà vẫn không thoả mãn yêu cầu Do đó để chắc chắn có ít nhất 5 viên bi khác màu thì phải lấy ra ít nhất số viên bi là :

25 + 30 + 35 + 6 + 1 = 97 (viên bi)

……….

Tháng 01 năm 2016

CÁC THỦ THUẬT HAY TRONG SỬ DỤNG POWER POINT

PowerPoint là chương trình để xây dựng các slideshow trình diễn thông dụng nhất hiện nay Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn bạn một vài thủ thuật hay trong sử dụng PowerPoint.

Với PowerPoint, bạn có thể dễ dàng trình bày ý tưởng của mình thông qua hình ảnh, chữ viết và âm thanh Những thủ thuật dưới đây, hy vọng sẽ giúp ích cho việc trình bày ý tưởng của bạn bằng PowerPoint

Trình diễn PowerPoint thông qua Internet:

Trong PowerPoint, bạn có thể dễ dàng chuyển đổi tài liệu sang file định dạng HTML Điều này có nghĩa là bạn có thể trình diễn PowerPoint thông qua

Trang 21

Internet Để thực hiện được điều này, bạn làm theo các bước sau:

- Đầu tiên, bạn mở file PowerPoint bạn muốn trình diễn trên Internet bằng chương trình Microsoft PowerPoint

- Tiếp theo, bạn kích File trên thanh công cụ, chọn Save as Web Page

- Một hộp thoại nhỏ sẽ hiện ra Tại đây, bạn chọn nơi bạn muốn lưu file lại, với

tên file điền tại khung File name Đồng thời, tại hộp thoại này, bạn nhấn vào nút

Publish để chọn các tùy chọn nâng cao.

Trang 22

- Sau khi nhất nút Publish, một hộp thoại mới sẽ xuất hiện Tại đây, bạn có thể

chọn để đưa toàn bộ các Slide vào file HTML, hoặc chỉ chọn một số Sile nhất định

Để làm việc này, bạn điền số các Slide cần chọn vào khung Sile number …

through … Tiếp theo, cũng tại hộp thoại này, bạn kích vào nút Web Options và

chọn những chi tiết của file HTML sẽ tạo ra

+ Thẻ General dùng để thiết lập cách hiển thị của nội dung Slide trên trang web

+ Thẻ Browser dùng để chọn trình duyệt được sử dụng để xem nội dung file PowerPoint + Thẻ File dùng để thiết lập tên file và nơi chứa file

+ Thẻ Pictures cho phép bạn chọn kích thước màn hình khi trình diễn nội dung Slide + Thẻ Encoding cho phép bạn chọn kiểu mã dùng trên trang web (thông thường đối với

các slide sử dụng tiếng Việt thì bạn chọn encoding Unicode UTF-8

+ Thẻ Font dùng để thay đổi font chữ và cỡ chữ cho văn bản dùng trên slide

- Sau khi đã chỉnh xong cho mình những tùy chọn cần thiết, bạn bấm nút OK để

lưu lại các tùy chọn và để đóng cửa sổ Web Options Cuối cùng, bạn nhấn nút

Publish để đóng cửa sổ Publish as web page

- Bây giờ, bạn trở lại với hộp thoại Save As, bạn chọn vị trí lưu lại file

PowerPoint trên ổ cứng của mình

Công việc cuối cùng của bạn là up file HTML đã được tạo ra lên một web server nào đó, để có thể trình diễn nội dung của các Slide thông qua Internet

Chèn file Flash vào Slide của PowerPoint

Tương tự như PowerPoint, Flash cũng có thể dùng để trình diễn những ý tưởng bạn, thậm chí còn có thể biễu đạt tốt hơn những Slide của PowerPoint Do đó, bạn

có thể chèn những đoạn phim Flash vào PowerPoint để làm cho file trình diễn của mình thêm ấn tượng Thậm chí là những file Flash nhỏ dùng để thư giãn trong quá trình trình diễn bằng PowerPoint

Tuy nhiên, cần lưu y’ là trước khi chèn Flash vào PowerPoint thì máy tính của bạn đã cài đặt chương trình Flash Player để chơi file Flash Nếu chưa, bạn có thể download và cài đặt Flash Player tại đây

Sau đây là cách thức tiến hành để chèn một file Flash vào slide của PowerPoint

Trang 23

- Đầu tiên, bạn mở file PowerPoint muốn chèn Flash bằng chương trình

Microsoft PowerPoint

- Tiếp theo, từ menu, bạn chọn View -> Toolbar -> Control Toolbox

-Tại đây, một hộp thoại mới sẽ xuất hiện với tên gọi Control Toolbox Tại hộp thoại này, bạn click vào biểu tượng More Control (nằm ngoài cùng bên phải) và

một danh sách mới sổ xuống Bạn chọn “Shockwave Flash Object” từ danh

Trang 24

- Hộp thọai Properties sẽ hiển ra với những tùy chọn mới Tại khung hộp thoại

này, bên dưới tab Alphebet, bạn tìm đến tùy chọn Movie và điền vào đó đường dẫn

đầy đủ của file Flash muốn sử dụng vào khung ở bên phải (Ví dụ

D:\Flash\Test.swf)

Ngày đăng: 27/09/2021, 21:57

w