1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyen Du Truyen Kieu

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 19,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cái chết một cách bất ngờ không phải chỉ đối với những người lao động trong cuộc đời làm ăn gian lao của họ mà đến với cả những người thuộc tầng lớp trên, đến với tất cả mọi người.. Thôn[r]

Trang 1

TỔ 3

Lê Thu Trang

Đặng Thu Trang

Trần Thị Thu Linh

Trịnh Quỳnh Châm

Phạm Thị Giang

Nguyễn Thanh Xuân

Nguyễn Thu Huệ

Nguyễn Thị Bảo Minh

Nguyễn Mỹ Hậu

Nghiêm Thị Anh Thư

Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Nguyễn Du

Trang 2

Nguyễn Du – đại thi hào lớn của dân tộc, là một niềm tự hào của những con người Việt Nam đối với bạn bè thế giới Khi nhắc đến những nhà thơ Trung đại lớn của thời đại phong kiến Việt Nam, sáng tác của Nguyễn

Du không thật đồ sộ về khối lượng nhưng nó lại có một vị trí đặc biệt quan trọng trong di sản văn học và văn hóa dân tộc Từ những bài thơ chữ Hán cho đến những kiệt tác bằng chữ Nôm, những tác phẩm của ông đều hướng đến con người mang đậm tính triết lí, thấm đẫm cảm xúc, tố cáo bản chất tàn bạo của xã hội phong kiến Việt Nam Đây là một trong những yếu tố quan trong khiến cho những áng thơ tuyệt trần của ông đi sâu vào lòng người và

có giá trị với muôn đời

Vậy thì phong cách nghệ thuật là gì? Đó chính là cái nhìn nhận, đánh giá hiện thực, xây dựng hình tượng nghê thuật theo cách riêng của từng nhà văn, nhà thơ Hay ngắn gọn hơn ta hiểu phong cách nghệ thuật là nét tiêng của mỗi nhà văn nhà thơ trong việc sáng tác Và đặc biệt là nếu thi nhân nào thức sự có tài năng, thực sự sáng tạo và có được những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao thì người đó có phong cách nghệ thuật của riêng mình

Nguyễn Du sinh ra ở Thăng Long, là một vùng đất hội tụ tinh hoa của dân tộc Quê cha ông ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đây là vùng đất sản sinh nhân tài Quê mẹ ông ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cái nôi của dân ca quan họ Bắc Ninh, nền văn hóa Kinh Bắc đậm đà Còn quê vợ ông ở Thái Bình với nền văn hóa lúa nước, nặng nề những hủ tục lạc hậu chính vì vậy Nguyễn Du được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa bằng nhau, đem lại những văn hóa nghệ thuật dân gian cho ông Bên cạnh

đó, ông được sinh trưởng trong một gia đình quan lại quý tộc lâu đời, tạo tiền đề cho sự đa dạng, phong phú về tri thức trong sáng tác Thời đại ông sống là một thời đại phong kiến Việt Nam đầy bão táp Xã hội phong kiến cuổi thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XIX khủng hoảng trầm trọng, chiến tranh, loạn lạc liên miên Khởi nghĩa Tây Sơn nổi lên diệt Trịnh- Nguyễn, Xiêm- Thanh nhưng cũng đi vào suy tàn Nhà Nguyễn lên ngôi xây dựng chế độ phong kiến hà khắc, phản động đời sống nhân dân cực khổ, lầm than Trào lưu nhân văn thời kì này phát triển mạnh mẽ hướng về con người Tất cả những

Trang 3

điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách sáng tác của ông: cảm hứng nhân đạo xuyên suốt trong các tác phẩm, hướng về những con người nhỏ bé, cơ

cực thuộc tầng đáy của xã hội, những con người “tài hoa bạc mệnh” và căm

ghét xã hội phong kiến thối nát, mục rỗng Không những vậy, sống trong cái thời đại phong kiến đó, cuộc đời của ông cũng bị cuốn theo dòng chảy của lịch sử Thời niên thiếu thì phải chịu nhiều đau thương, mất mát, thiếu thốn tình cảm, mang phận một đứa con vô lễ Khi trưởng thành, cuộc đời cũng chẳng mấy yên ả Ông đỗ Tam trường năm 1783 sau đó ra làm quan Đây là

là một điều kiện giúp ông hiểu sâu sắc hơn về giai cấp, quý tộc phong kiến Nhưng với những tháng ngày sau này đó ông phải sống chật vật như một người nông dân chất phác, đôi bàn tay vốn quen cầm bút giấy rồi cũng phải cầm cái cuốc, cái xẻng để mưu sinh Nhưng chính các thời kì đó đã đem lại cho ông vốn sống trải nghiệm thực tế rất quý giá Nó giúp ông hiểu về một khía cạnh khác của xã hội nơi nhiều con người thấp cổ bé họng, bất hạnh Ngoài ra còn còn trau dồi thêm vốn ngôn ngữ dân gian Đến năm 1802, ông

ép buộc phải ra làm quan cho nhà Nguyễn và được cử đi sứ hai lần, giúp ông

có một cái nhìn thực tế với nền văn học đã được nhắc đến nhiều trong sách

vở Trung đại Tất cả những thăng tràm đó đã hình thành cho ông những suy nghĩ, tình cảm, thế giới quan rất riêng

Nói chung, trong văn học phong kiến, các nhà thơ, nhà văn thường viết về cuộc đời của những con người thuộc tầng lớp trên và ít khi chú ý đến cuộc đời của những con người thuộc tầng lớp dưới hay họ thường nói về chí khí của người quân tử trong xã hội cũ Ngay nói về nỗi khổ, thì họ cũng thường chú ý đến nỗi khổ có tính chất tinh thần, có tính chất tình cảm của những người thuộc tầng lớp quý tộc, thượng lưu chứ không mấy khi nói đến cái khổ gay gắt, dai dẳng và hết sức vật chất của những người thuộc tầng lớp dưới Nhưng đối với Nguyễn Du, văn chương ông không nói đến chí khí của

người quân tử, ông chỉ tập trung nói về cái "tình" Ông luôn hướng đến con

người trong xã hội đó là những con người nhỏ bé, bất hạnh, đáng thương: người ăn mày, người mù hát rong hay người rồi thậm chí ông còn thương tiếc thay cho những bóng ma cô hồn, những con người sống khổ

chết cũng không hết khổ Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã nhỏ nước mắt

Trang 4

lên cuộc đời Thúy Kiều và qua Thúy Kiều Nguyễn Du cũng nhỏ nước mắt lên cuộc đời bóng ma Đạm Tiên Tất cả những người con gái ấy đều là nạn nhân của cuộc sống ăn chơi trong xã hội cũ, một xã hội phong kiến chạy theo đồng tiền, đầy rẫy nhà chứa Rồi hay trong văn thơ chữ Hán của ông

Đặc biệt có hai bài tiêu biểu về phương diện này là bài “Thái Bình mại ca giả” và bài “Sở kiến hành” Cả hai bài này đều sáng tác khi ông đi sứ Trung

Quốc

Bài thứ nhất kể chuyện một ông già mắt mù đi hát rong ở châu Thái Bình thuộc tỉnh Quảng Tây Lúc bây giờ, Nguyễn Du đi thuyền có thuyền bên cạnh gọi ông già xuống hát Ông già vừa múa, vừa hát, Nguyễn Du không hiểu tiếng nhưng nghe cũng thấy hay Với mọi người xung quanh, im lặng nghe Nguyễn Du theo dõi từng cử chỉ của ông già:

“ Tay vuốt dây đàn, miệng cất tiếng Vừa múa vừa hát, luôn không nghỉ”

Trong xã hội phong kiến thối rữa, sẵn thấy vô chủ bên sông đến xác vô chủ còn nhan nhản lúc nào cũng sẵn, huống chi ăn mày thì biết cỏ mạn nào, Nguyễn Du đã lấy một nét quá phổ biến, nảy ra, đưa vào thơ làm cho nổi bật cái bi thảm, mà do đó cũng thấy tấm lòng Nguyễn Du, nhìn người ăn mày thử một vạn cũng như nhìn người ăn mày thứ nhất, không bao giò tê liệt lòng cảm thương:

“ Hơn chục người xem, im thin thít lắng nghe Chỉ thấy gió sông ù ù và trăng sông vằng vặc Ông già miệng sùi bọt mép, tay mỏi vời Ngồi yên, đặt đàn, ngỏ lời đã đàn hát hết”.

Người ăn mày hát dao đã trổ hết tâm lực gần một hồi trống canh, đàn hát mệt nhọc như thế mà đổi lại chỉ có 5 hay 6 đồng tiền Nhà thơ ái ngại, cảm thương thay cho ông Hình dáng ông già trong lời thơ khi đứng đây ra về mới cảm động làm sao:

“ Đứa bé dãn ông ra khỏi thuyền Ông còn quay lại ngỏ lời chúc tụng”

Trang 5

Bài “Sở kiến hành” dựng lên một cảnh không kém phần ảm đạm Đó là cảnh

mấy mẹ con vì đói phải lưu lạc tha hương, làm thuê không đủ sống, đi xin cũng không đủ sống, sớm muộn ắt sẽ đến bỏ thây nơi ngòi rãnh:

“ Mẹ chết đã đành rồi, Trông con thêm đứt ruột Nỗi lòng đau đớn lạ thường Mặt trời cũng vì người mà vàng úa”.

Hình ảnh những con người: ông bố hát rong, bà mẹ,… đói khổ đã cảm thấy

xót xa rồi Hình ảnh những người em bé lao động nghèo khổ, số phận của trẻ con trong xã hội phong kiến còn đáng thương gấp vạn lần Nếu như đứa con

của ông già mù hát rong trong bài “Thái Bình mại ca giả” chưa trở thành

một hình tượng nghệ thuật gây ấn tượng mạnh bên hình tượng ông bố, thì

trong bài “Sở kiến hành” những đứa con với người mẹ gắn bó với nhau như

một nhóm tượng đài, ở đấy cái vẻ hồn nhiên của những đứa con đã làm cho

tính chất bi kịch trong hoàn cảnh của người mẹ thêm chua xót Và với “Văn chiêu hồn”, hoàn cảnh của những em bé bất hạnh thực sự trở thành bi kịch:

“ Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé Lỗi giờ sinh lìa mẹ, lìa cha Lấy ai bồng bế vào ra

U ơ tiếng khóc thiết tha não lòng”.

Trong lịch sử văn học dân tộc, có lẽ Nguyễn Du là nhà thơ đã viết những câu thơ về trẻ em sớm nhất và thống thiết nhất Về những người thuộc tầng lớp

dưới, trong ‘Văn chiêu hồn” có thể thấy rõ họ không phải là anh hàn sĩ, chú

tiểu đồng hay cô nữ tỳ nào cơ, mà họ thực sự là những người lao động Họ đông hơn tất cả và số phận cũng bi đát hơn tất cả Họ làm đủ ngành nghề trong xã hội từ những người làm nghề biển, nghề rừng, những người buôn

gánh bán bưng, đến những người ăn xin, người bị “mắc oan tù rạc”,… Đời

sống của họ bấp bênh, điêu đứng Kẻ thì tất bật vào sông ra bể, kẻ thì suốt

ngày kĩu kịt “đòn gánh tre chín rạn hai vai”, kẻ thì ăn xin “rằm cầu gối đất”,… và các chất “bất đắc kỳ tử” đối với họ cũng không cách nào thống

kê hết được

“ Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

Trang 6

Cũng có người sảy cối sa cây

Có người leo giếng đứt dây Người trôi nước lũ, người lây lửa thành Người thì mắc sơn tinh thủy quái

Người thì sa nanh khái ngà voi

Có người có đẻ không nuôi

Có người sa sẩy, có người khốn thương”

Trong “ Văn chiều hồn”, có thể nói chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du

được giới thiệu vô cùng sâu sắc Hiếm có một bức ảnh xã hội nào trong văn học dựng lên được nhiều loại người, nhiều cuộc đời, nhiều cảnh sống và nhất là nhiều cách chết như ở đây Cái chết một cách bất ngờ không phải chỉ đối với những người lao động trong cuộc đời làm ăn gian lao của họ mà đến với cả những người thuộc tầng lớp trên, đến với tất cả mọi người Người con

gái " màn loan trướng huệ" vẫn có thể chết xương phơi ngoài đồng Người làm quan vẫn có thể chết trong cảnh cô đơn, người tướng lĩnh có thể như "nắm xương vẽ chỉ", Thông thường mà nói nhà văn bao giờ cũng chú ý nói đến

cuộc sống hơn là cái chết Chưa cần đến một thời kì thịnh vượng mà trong một thời buổi bình thường, con người vẫn có thể sống yên ổn Phải là một thời loạn lạc, một thời đại suy tàn thì con người mới có nhiều cái chết não

nùng như thế Bức tranh về cảnh tượng chết trong "Văn chiều hồn" không

phản ánh một cái gì khác mà chính là phản ánh thời đại nhà thơ đang sống

và cả hình ảnh về cái cõi âm ở đây cũng vậy Thực ra cái cõi âm mà Nguyễn

Du dựng lên có vẻ rùng rợn, ma quái trong "Văn chiêu hồn" Nó cũng là sự

khúc xạ qua một lăng kính duy tâm hay nói đúng hơn là cái bóng Hình ảnh lên ngược của cõi dương, của cuộc đời mà thôi

Gắn bó với con người, vói cuộc sống và nhìn sâu vào lịch sử Nguyễn

Du còn đặc biệt xót thương cho những con người tài hoa bạc mệnh Ấy là những nhà văn nhà thơ nổi tiếng mà cuộc đời trải muôn vạn bất hạnh, là những bậc anh hùng hào kiệt thất thế , họ là những người có sắc đẹp

"nghiêng nước nghiêng thành" phải chịu số phận buồn thảm Những con người

ấy, dù thân phận họ là danh nhân, là đào hát, là "tướng giặc", là gì đi chăng

Trang 7

nữa nhưng họ đã sống khác với mọi người, chết trong bần cùng hoặc bất đắc

kì tử thì đều là đối tượng của tấm lòng ưu ái của Nguyễn Du

Đặt chân lên Trung Hoa, Nguyễn Du như đi ngược thời gian, sống lại với nền văn hóa đã đào tạo nên con người mình, tiếp xúc với những nhân vật lừng danh mà mình hằng gần gũi, thân thuộc qua sách vở Ông thương Liễu

Tông Nguyên, một trong "bát đại gia" đời Đường Tống, vì theo "tấn phái" mà

"thấm thân bị đầy ải sáu nghìn dặm", văn chương lừng lẫy vẫn cứ phải đau xót tự rủa mình: "Khe trong lây đẹp cũng mang tiếng ngu, biết làm thế nào".

Ông kính phục tâm hồn thanh cao của bậc vĩ nhân Khuất Nguyên Con

người đeo hoa lan, hoa chỉ đi khuất đã hai nghìn năm, mà "đến nay hoa lan hoa chỉ vẫn còn nức hương", con người để lại một danh tác như Sở Từ "nghìn đời sau vẫn là áng văn chương hay nhất" Ông quý trọng Đỗ Phủ "văn chương lưu truyền nghìn đời", cũng là bậc thầy của nghìn đời, là một người thông

minh, cần cù nhẫn nại nhưng con đường công danh thì lận đận, cuối đời thì sống trong đói rét, bệnh tật và chạy loạn Nguyễn Du thương tiếc cho nhân vật kì tài bao giờ cũng kín đáo, ẩn dụ thương cho chính mình, vì như nhà thơ

vẫn nói ông đã tự xem mình là người có chung một mối "phong vận kì oan" với các bậc "giai nhân tài tử" Để rồi từ đấy ông rút ra một quy luật rằng: "Tài mệnh tương đố" Người càng tài giỏi thì cuộc đời càng éo le, bạc bẽo Đối với

Nguyễn Du những cái tàn phá những cái hay cái đẹp của xã hội được tổng quát thành số mệnh làm cho cơ nghiệp Tây Sơn sụp đổ, khắc nghiệp , đối với Hạng Vũ:

" Có sức mạnh đá núi nhắc vạc, nhưng trời không giúp thì làm thế nào Mối hận nghìn đời giủ dưới lớp cát mỏng".

Số mệnh cũng đã vùi dập cuộc đời của người con gái tài sắc như Tiểu Thanh Từ một cô gái thông minh, thông tuệ nhưng phúc bạc phải đi làm lẽ cho một công tử quyền quý nhưng ngốc nghếch Vợ cả lại là một người độc

ác, hay ghen, nhốt riêng nàng trên núi Cô Sơn đến nỗi khiến Tiểu Thanh cô đơn, đau buồn lâm bệnh mà chết Văn chương của nàng bị đem đốt hết, chỉ còn lại phần dư:

" Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn

Trang 8

Son phấn có thần chôn vẫn hận Văn chương không mệnh đốt còn vương".

Nhưng trên hết, một ví dụ điển hình và tiêu biểu gần gũi vói người Việt chúng ta, đó chính là cô Kiều Ai nói Kiều không đẹp? Ai nói Kiều không tài? Kiều còn hơn cả như vậy Sắc đẹp của Kiều vượt xa cả tạo hóa muôn

loài khiến cho "hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh" rồi "một hai nghiêng nước nghiêng thành" Đã đành vậy Kiều lại còn:

" Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm Cung thương lầu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương"

Thúy Kiều quả là tài sắc vẹn toàn Nhưng:

" Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau".

Thúy Kiều vẹn toàn như vậy nhưng kết cục lại phải trải qua một cuộc đời nhơ nhuốc, tủi cực đến nỗi phải:

" Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần"

Rồi đến khi tìm được tình yêu đích thực với Từ Hải nhưng cuối cùng chính Kiều đã gián tiếp đẩy Từ Hải vào chỗ chết Bên cạnh hình ảnh cô Kiều là hình ảnh bóng ma Đạm Tiên Lúc sống Đạm Tiên cũng là một người tài hoa vậy mà cuộc đời gói gọn trong hai câu thơ:

" Sống thì làm vợ khắp người ta Đến khi thác xuống làm ma không chồng".

Tại sao những người tài hoa lại không được hưởng hạnh phúc, tại sao tài năng của họ không được biết đến và trọng dụng Điều này đến Nguyễn Du cũng không thể lí giải được Chỉ có thể thốt lên cay đắng:

" Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi Cái án phong lưu khách tự mang".

Bên cạnh sự xót thương đồng cảm với những số phận con người bất hạnh, những con người tài hoa mà bạc mệnh Trong những tác phẩm của Nguyễn Du còn ánh lên thái độ căm tức, bất bình đối với xã hội phong kiến

Trở lại với bài thơ "Sở kiến hành", sau khi vẽ lên hình ảnh mấy mẹ con đói

Trang 9

khát phải lưu lạc tha hương, ông nhìn lại cảnh yên tiệc linh đình mà chính mình được hưởng theo lệ thường của người đi sứ của ngon vật lạ bày la liệt:

" Các quan lớn không chọc đũa Người tùy tùng cũng chỉ nếm qua loa

Bỏ mừa nào có tiếc gì Thuyền bên cạnh cũng cao lương chê chán…"

Các sĩ điện của phong kiến tàn khốc như thế! Càng quan to, càng tỏ ra mình lớn lao sang trọng, tất phải ăn cho chê chán ở nhà, chứ còn giữa bữa tiệc công khai ê hề thì không thèm chọc đũa Bọn hầu hạ lau nhau cũng tỏ ra mình quan trọng, vờ rằng cao lương mĩ vị chẳng xứng với mình! Mặt khác, chúng nó thường xuyên cứ luôn luôn phải ăn ngon, đến nỗi sợ cả thịt Và cái

xã hội có giai cấp ác nghiệp như là những bức tường thủy tinh dày không thể xuyên qua: người thừa cứ đổ xuống sông Người chết đói mò ăn không điều

kiện! Hay ta còn nhớ lại bài "Phản chiêu hồn", trái với thói thường, Nguyễn

Du gọi hồn Khuất Nguyên và bảo hồn đừng có trở về cõi đời này nữa vì cõi đời này Nguyễn Du thấy nó cực kỳ ghê tởm

" Thành Quách vẫn như cũ, nhân dân thì khác rồi

Cát lầm bụi đọng nhơ nhớp cả áo người

Họ làm ra ngoài ngựa ngựa xe xe, họ ngồi nhà vênh vênh váo váo

Họ đứng ngồi bàn tán như ông cao, ông Quỳ

Họ không để lộ vuốt nanh và nọc độc"

Nhưng họ nhai xé thịt người ngọt xớt như đường Rõ ràng là một cái nhìn vật bị đát Và đầy phẫn uất đối với cuộc đời thời bất giờ, chắc chắn không phải chỉ riêng cuộc đời ở Trung Quốc mà ở khắp mọi nơi Cuối bài Nguyễn Du có nói:

" Người đời sau, cú nấy đều dòng dõi Thương Quan

Trên chỗ nào cũng đều là sông Minh La"

Dòng dõi Thương Quan ở đây là muốn nói đến Thương Quan Ngận

Thương-kẻ đã dèm pha để làm hại Khuất Nguyên Còn sông Minh La là sông khuất Nguyên trẫm mình chính do tấm lòng yêu thương người vô hạn mà Nguyễn

Du hết sức căm giận cái bọn bất nhân, ngang nhiên chà đạp lên quyền sống người ta Không chỉ được giới thiệu trong bài thơ chữ Hán mà ở trong truyện

Trang 10

Kiều, cái hiện thực xã hội cũng được phản ánh một cách rõ mồn một Cái điều bất kì ai cũng có thể nhận thấy ngay sau khi nghe qua câu chuyện nàng Kiều là những nhà chứa Thật là đầy rẫy Thúy Kiều vừa rời khỏi vòng tay bao bọc của cha mẹ là rơi ngay vào nhà chứa của Tú Bà, Mã Giám Sinh, vừa

ra khỏi nhà Thúc Sinh là rơi vào nhà chứa của Bạc Bà, Bạc Hạnh Cứ rời khỏi nhà là rơi vào nhà chứa Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, cái xã hội ghê tởm đó sống nhơ nhuốc dưới ngòi bút Nguyễn Du Nguyễn Du đã dựng nó lên với những nét thật là sắc Hình ảnh Tú bà- một

mụ trùm của nhà chứa với dáng vẻ thô kệch của mụ:

" Thoắt trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao".

Với những cử chỉ của mụ:

" Lễ xong hương hỏa gia đường

Tú Bà vắt tóc lên giường ngồi ngay".

Với cái khẩu khí tục tằn, trắng trợn của mụ:

" Con kia đã bán cho ta Nhập gia phải cứ phép nhà tao đây".

Rồi hình ảnh của Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Bạc Bà,… tất cả đều là điển hình cho cái nhơ nhuốc, bỉ ổi của xã hội đầy rẫy nhà chứa Ngoài nhà chứa

ra, xã hội trong truyện Kiều còn có những ông quan Những ông quan trong

"Truyện Kiều" thật kì lạ Trước hết là các ông quan đối xử vụ án Vương Viên

Ngoại Một cái án hết sức vu vơ, tang chứng khoogn có, người bị cáo chưa

hề được hỏi thế mà bao nhiêu của cải nhà họ Vương bị cướp sạch Cha con

bị tra tấn, hành hạ, rồi rốt cuộc đến khi có vàng ba trăm lạng thì mọi việc lại xong xuôi Thật là vô lý! Nói đến cái bọn tay sai, nó là đại biểu trực tiếp của chính quyền phong kiến đối với dân chúng:

" Người rách thước người dao tay Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi".

Hơn nữa, Nguyễn Du còn cho ta biết đây không phải là một trường hợp riêng lẻ mà chính là một thói rất thường:

" Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền".

Ngày đăng: 27/09/2021, 17:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w