Ví dụ các vùng Địa Trung Hải, Trung Á, Nội Á tuy nằm trên cùng vĩ độ nhưng Địa Trung Hải nhờ có các dãy núi chắn ở phía Bắc và ảnh hưởng của biển nên mùa đông ấm, trong khi hai vùng sau [r]
Trang 2+Ở phần này đường bờ biển tuy bị chia cắt mạnh, có nhiều vịnh biển, nhiều bán đảo lớnsong do diện tích lục địa rất rộng nên sự chia cắt lãnh thổ theo chiều ngang như vậy xem
đảo Chukostki thuộc Nga ở kinh tuyến169°40' Đ
Thổ Nhĩ Kỳ nằm trên kinh tuyến 26°10'Đông,
Malắcca, ở vào 1°16’ B
- Nếu tính cả các đảo :Là điểm cực nam củađảo Rôti nằm phía nam quần đảo Inđônêxiaxuống tới 11° N
-Nếu tính cả các đảo hoặc quần đảo :thìđiểm cực Bắc của châu Á lên tới tận 81°13'trên đảo Komsomolets thuộc Liên bangNga
Trang 3- Tiếp giáp
Đông Thái Bình Dương Tính chất phức tạp của bờ Tây Thái Bình
Dương có liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyểndịch, xô húc của các mảng Thái Bình Dương vớiÁ-Âmảng Âu-Á và các mảng khác
Tây Phần phía Đông Địa
Trung Hải thuộc ĐạiTây Dương
Đây là con đường biển quốc tế nối liền ĐạiTây Dương với Ấn Độ Dương nên có ýnghĩa hết sức quan trọng về mặt kinh tế vàchính trị
Nam Ấn Độ Dương Bờ biển ở đây bị chia cắt mạnh, tạo thành 3
bán đảo lớn là Trung Ấn, Indostan (Ấn Độ)
và Ả Rập Nằm giữa các bán đảo đó là cácbiển và vịnh biển lớn như biển Andaman,biển Ả Rập, vịnh Bengal, vịnh Ba Tư
Bắc Bắc Băng Dương Bắc Băng Dương nằm trên các vĩ độ cực và
cận cực nên thời tiết quanh năm giá buốt,mặt biển bị bao phủ bởi một lớp băng rấtdày, tựa như một sân trượt băng khổng lồ.Điều kiện đó ảnh hưởng rất lớn đến sự hìnhthành khí hậu, cảnh quan tự nhiên cũng nhưđời sống và hoạt động kinh tế của con người
ở phần phía Bắc châu lục
1.2 Giới hạn các khu vực ( Bắc Á, Trung Á và Nội Á, Đông Á, Tây Á, Nam Á) ( bản
đồ minh họa
Trang 4Sự phân chia các khu vực của châu Á.
Phillips Illustrated Atlas of the World 1988 định nghĩa Bắc Á là khu vực thuộc phần lớn
lãnh thổ của Liên bang Xô Viết cũ, những phần thuộc phía đông dãy núi Ural
1.2.2 Trung Á
Trang 5Là bộ phận nằm ở phần phía Tây Châu Á, nhưng lại ở vào vị trí trung tâm của lục địa Á
Âu Một vùng của châu Á không tiếp giáp với đại dương
Có nhiều định nghĩa về Trung Á, nhưng không có định nghĩa nào được chấp nhận rộngrãi Các tính chất chung của vùng đất này có thể kể ra như: vùng này trong lịch sử có Conđường Tơ lụa và có những người dân du mục, từng là điểm trung chuyển hàng hóa giữa
Đông Á, Nam Á, Trung Đông và châu Âu Đôi khi người ta còn gọi nó là vùng Nội Á 1.2.3 Đông Á, hay Đông Bắc Á
Là bộ Phận nằm dọc theo bờ đông của lục địa kéo dài từ phía bắc bán đảo Camsátca chođến ranh giới phía nam Trung Quốc
Là một khu vực của châu Á có thể được định nghĩa theo các thuật ngữ địa lý hay văn hóa
Về mặt địa lý, nó chiếm khoảng 11.640.000 km², hay 15% diện tích của châu Á Về mặtvăn hóa, nó bao gồm các cộng đồng là một phần của ảnh hưởng của nền văn minh TrungHoa, thể hiện rõ nét trong các ảnh hưởng lịch sử từ Hán văn, Khổng giáo và Tân Khổnggiáo, Phật giáo Đại thừa, Lão giáo Tổ hợp này của ngôn ngữ, quan niệm chính trị và tôngiáo bao trùm lên trên sự phân chia địa lý của Đông Á
1.2.4 Đông Nam Á
Là khu vực nằm phía đông nam của châu Á
Về mặt địa lí tự nhiên, Đông Nam Á là một đơn vị thống nhất gồm hai bộ phận:bán đảoTrung Ấn và quần đảo Mã Lai, rộng 4.494.047 km² , song phạm vi lãnh thổ Đông Nam Álại là khu vực bao gồm cả biển và đất liền trải ra trên một không gian rất rộng
Bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia,Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam cũng có chỗ ở Papua NewGuinea
1.2.5 Nam Á hay còn gọi là tiểu lục địa Ấn Độ,
Là bộ phận nằm ở rìa phía nam của lục địa, bao gồm miền núi Himalaya, đồng bằng ẤnHằng và bán đảo Inđôxtan
Bao gồm các quốc gia Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bhutan và Bangladesh, Sri Lanka vàMaldives
1.2.6 Tây Nam Á (hay Tây Á)
Trang 6Tây Á bao gồm: bán đảo Aráp, đồng bằng Lưỡng Hà, các sơn nguyên Tiểu Á, Ácmeni vàIran.
Là tên gọi chỉ bộ phận lục địa rộng lớn bao gồm vùng núi Caucasus, bán đảo Ả-rập vàcác sơn nguyên Tiểu Á, Armenia, Iran Lãnh thổ Tây Nam Á nằm giữa hai lục địa rộnglớn là lục địa Á-Âu và lục địa Phi, trên các vĩ độ nhiệt đới, quanh năm chịu ảnh hưởngcủa gió mậu dịch và khối khí nhiệt độ lục địa Khí hậu nói chung là khô, nóng gay gắt Ởđây, vai trò của các biển xung quanh như Biển Đen, Địa Trung Hải, Biển Đỏ và vịnhPersian hầu như không đáng kể vì đây chỉ là những biển không lớn và nằm sâu trong lụcđịa Tây Nam Á đại bộ phận cũng là cảnh quan khô hạn như Trung Á và Nội Á
1.3 Vị trí địa lí và hình dạng lãnh thổ có ảnh hưởng như thế nào tới khí hậu Châu Á?
1.3.1 Ảnh hưởng của vị trí địa lý
Châu Á kéo dài từ Bắc Cực cho đến xích đạo nên lượng bức xạ Mặt Trời phân bốkhông đều, giảm dần từ Nam lên Bắc Ở các vĩ độ phía Nam, tổng lượng bức xạhằng năm cao, thay đổi từ 120-180 kcal/cm², trong đó vùng Tây Nam Á đạt caonhất, từ 180-220 kcal/cm² Ở các vĩ độ trung bình từ 100-120 kcal/cm², còn cácvùng từ vòng cực trở lên phía Bắc thì không quá 80 kcal/cm² Lượng bức xạ phân
bố không đồng đều là nguyên nhân chủ yếu làm cho điều kiện nhiệt nói riêng vàkhí hậu nói chung thay đổi từ Nam lên Bắc
Các biển và đại dương bao quanh châu Á không những làm ranh giới tự nhiên chochâu lục mà còn có ảnh hưởng rất lớn đối với điều kiện tự nhiên cũng như sự pháttriển kinh tế-xã hội của các quốc gia hải đảo và ven bờ Đặc biệt, sự có mặt củaThái Bình Dương và Ấn Độ Dương rộng lớn bên cạnh châu Á khổng lồ đã tạo nên
sự tương phản mạnh mẽ giữa biển và đất liền, là một trong những nguyên nhânlàm cho hoàn lưu gió mùa phát triển và phân bố rộng trên châu Á hơn bất kỳ một
châu lục nào khác trên thế giới.
1.3.2 Ảnh hưởng của hình dạng và kích thước
Châu Á rộng, với dạng hình khối vĩ đại đã làm cho các vùng nội địa quanh nămchịu ảnh hưởng của khối khí lục địa khô, dễ bị sưởi nóng và hóa lạnh theo mùa Đó làđiều kiện hình thành các trung tâm khí áp Mặt khác, điều kiện nhiệt và khí áp đó lạitương phản với các đại dương xung quanh theo mùa, làm cho gió mùa phát triển rộngkhắp châu lục Có thể nói châu Á là châu lục duy nhất trên thế giới có đầy đủ các kiểukhí hậu gió mùa: gió mùa xích đạo, gió mùa nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới
Trang 72 Đặc điểm địa hình
2.1 Đặc điểm chính
Địa hình của châu Á rất phứctạp và đa dạng, ¾ diện tích bề mặt châu lục là các núi, sơnnguyên và cao nguyên cao, chỉ có ¼ diện tích là các đồng bằng thấp và bằng phẳng Nhìnchung,các miền đồng bằng, các sơn nguyên rộng và bằng phẳng được hình thành trên cácvùng nền hoặc các nền bị lún xuống, được bao phủ trầm tích và có chế độ kiến tạo tươngđối yên tĩnh Các vùng núi được hình thành trong các đới uốn nếp và được nâng lên mạnhnhất là vào giai đoạn cuối Tân sinh
Về cấu tạo bề mặt, địa hình của châu Á có mấy đặc điềm chính sau đây:
2.1.1 Địa hình bị chia cắt thẳng đứng rất nặng
Hình :Địa hình châu Á
Trên lãnh thổ châu Á có đầy đủ các dạng địa hình khác nhau: các núi và sơn nguyên cao,các cao nguyên và đồng bằng rộng lớn với nhiều nguồn gốc, kiểu loại khác nhau, cácthung lũng rộng và bồn địa kín,… Tất cả các dạng địa hình đó nằm xen kẽ với nhau làmcho bề mặt địa hình châu lục bị chia cắt rất mạnh Tính chất chia cắt đó thể hiện ở chỗ:
- Bên cạnh các đồng bằng thấp,rộng lớn và bằng phẳng có các hệ thống núi rất cao và đồ
sộ như:
+ Các dãy Côpiết Đắc, Pamia, Thiên Sơn nằm cạnh đồng bằng Trung Á
+ Các dãy Mêcran, Xulâyman, Himalaya và sơn nguyên Đêcan nằm cạnh đồng bằng Hằng
Trang 8Ấn-+ Các dãy Aracan-Iôma, cao nguyên San – dãy Tênátxêrim và Trường Sơn kẹp lấy cácđồng bằng Iarauađi, Mê Nam, Cọ Rạt và Mê Công.
- Trong các vùng núi, sơn nguyên và cao nguyên cao lại có các sơn nguyên bồn địa thấpnằm xen vào giữa làm cho tính chất chia cắt càng rõ nét hơn.Như:
+ Sơn nguyên Anatôli cao trung bình 600-800m nằm giữa các dãy Pôngtích
+ Tôruýt cao trung bình 2000-3000m, sơn nguyên Iran cao 800-1000m nằm giữa các dãyEnbuốc, Hinđu Cúc, Dagrốt, Xulâyman cao 2500m trở lên
- Ở vùng trung tâm lục địa, giữa các dãy núi cao có xen nhiều bồn địa thấp và hẹp, tạothành kiểu địa hình “cấu trúc tổ ong” rất độc đáo.Như:
+ Bồn địa Tarim cao trung bình 800m nằm ở giữa Côn Luân và Thiên Sơn cao 7000m
5000-+ Bồn địa Dungari cao 400-600m nằm ở giữa các dãy Thiên Sơn và Antai cao 5000m
3000-+ Bồn địa Tuốc Phan là bồn địa hẹp và sâu nhất châu Á, có đáy thấp hơn mực nước biển154m nằm kẹp giữa các nhánh núi phía đông của dãy Thiên Sơn
2.1.2 Hướng của hệ thống núi
Các dãy núi của châu Á chạy theo nhiều hướng khác nhau trong đó hai hướng chính làĐông-Tây và Bắc-Nam
Hướng Đông-Tây (hoặc gần Đông-Tây) bao gồm các dãy núi chạy dài từ bán đảoTiểu Á, sơn nguyên Iran đến Himalaya, các hệ thống núi của vùng Trung Á và NộiÁ
Hướng Bắc-Nam (hoặc gần Bắc-Nam) gồm các dãy núi dọc theo miền Đông Á,Đông Nam Á, Nam Á như Đông Gaths, Tây Gaths của Ấn Độ, Ural và Kamchatkacủa Nga, Trường Sơn của Việt Nam
2.1.3 Sự phân bố địa hình
- Sự phân bố các dạng địa hình trên bề mặt châu lục không đồng đều Các hệ thống núi vàsơn nguyên cao nhất đều tập trung ở vùng trung tâm châu lục, tạo thành một vùng núicao, đồ sộ và hiểm trở nhất thế giới Từ khối núi Pamir tỏa ra 3 cánh núi chính:
Trang 9+ Cánh Đông Bắc gồm các hệ thống núi nối tiếp nhau: Thiên Sơn, Altai, Sayan cho đếnđông bắc Siberi;
+ Cánh phía Tây gồm dãy Hindu Kush và hệ thống các núi thuộc sơn nguyên Iran chođến Tiểu Á và Nam Âu;
+ Cánh Đông Nam bao gồm các núi thuộc khối Tây Tạng, Himalaya và Đông Nam Á
- Ba cánh núi này chia bề mặt châu Á thành ba phần khác nhau:
+ Phần Bắc và Tây Bắc với địa hình chủ yếu là đồng bằng, sơn nguyên thấp, rộng vàtương đối bằng phẳng như Turan (Trung Á), Tây Siberi và cao nguyên Trung Siberi Đây
là bộ phận được hình thành trên các nền Tiền Cambri và Cổ Sinh, có địa hình thấp dần và
mở rộng về phía Bắc
+ Phần Đông gồm các núi và sơn nguyên cao, các cao nguyên, núi trung bình, núi thấpxen với các đồng bằng nhỏ ven bờ Đây là bộ phận được hình thành trên vùng nền TrungHoa, các đới uốn nếp Cổ Sinh, Trung Sinh Tất cả được nâng lên mạnh mẽ vào cuối đạiTân Sinh Đặc biệt, địa hình của phần phía Đông này có cấu tạo dạng bậc, thấp dần từ nộiđịa ra phía biển
+ Phần Nam và Tây Nam gồm các hệ thống núi uốn nếp trẻ, các sơn nguyên và các đồngbằng xen kẽ với nhau Địa hình ở đây bị chia cắt mạnh nhất so với hai bộ phận trên
- Cấu tạo sơn văn của châu Á như vậy có tác dụng phân chia ảnh hưởng của các đạidương đối với lục địa: phần Bắc chịu ảnh hưởng của Bắc Băng Dương, phần Đông chịuảnh hưởng của Thái Bình Dương, phần Nam và Tây Nam chịu ảnh hưởng của Ấn ĐộDương và Địa Trung Hải Tác động của các đại dương có ảnh hưởng quan trọng đến sựhình thành khí hậu, cảnh quan tự nhiên và các hoạt động kinh tế-xã hội của con người
2.2 Nêu tên các dãy núi, đồng bằng lớn của Châu Á (minh hoạ bản đồ)
Trang 10Lược đồ địa hình, khoáng sản và sông hồ châu Á
3.1.2 Hình dạng và kích thước
Châu Á rộng, với dạng hình khối vĩ đại đã làm cho các vùng nội địa quanh năm chịu ảnhhưởng của khối khí lục địa khô, dễ bị sưởi nóng và hóa lạnh theo mùa Đó là điều kiệnhình thành các trung tâm khí áp Mặt khác, điều kiện nhiệt và khí áp đó lại tương phảnvới các đại dương xung quanh theo mùa, làm cho gió mùa phát triển rộng khắp châu lục
Trang 11Có thể nói châu Á là châu lục duy nhất trên thế giới có đầy đủ các kiểu khí hậu gió mùa:gió mùa xích đạo, gió mùa nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới.
3.1.3 Địa hình
Cấu tạo bề mặt lục địa bị chia cắt mạnh có ảnh hưởng đến sự phân bố nhiệt, lượng mưa
và sự phân hóa khí hậu rất phức tạp
- Trước hết, các mạch núi hướng Tây-Đông có tác dụng ngăn các khối khí lạnh từ phíaBắc xuống và các khối khí nóng ẩm từ phía Nam lên, do đó các vùng ở phía Nam mạchnúi bao giờ cũng ấm hơn các vùng ở phía Bắc mạch núi trên cùng vĩ độ Ví dụ các vùngĐịa Trung Hải, Trung Á, Nội Á tuy nằm trên cùng vĩ độ nhưng Địa Trung Hải nhờ có cácdãy núi chắn ở phía Bắc và ảnh hưởng của biển nên mùa đông ấm, trong khi hai vùng saukhông có núi chắn nên nhiệt độ trung bình thấp hơn rất nhiều Tương tự, các vùng Bắc
Ấn Độ nằm trên cùng vĩ độ với Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam nhưng ở Bắc Ấn Độnhờ dãy Himalaya chắn nên nhiệt độ trung bình về mùa đông bao giờ cũng cao hơn haivùng nói trên
Ảnh hưởng của địa hình lên một số điểm Địa điểm Nhiệt độ trung bình tháng1 Nhiệt độ trung bình tháng 7
- Cuối cùng, địa hình còn làm lượng mưa trên châu Á phân bố không đồng đều Cácmạch núi hướng Đông-Tây hoặc Bắc-Nam có tác dụng chắn gió từ đại dương vào sâutrong lục địa Kết quả là các sườn đón gió mưa nhiều, còn các sườn khuất gió mưa ít
Ví dụ, các vùng thuộc sườn Nam dãy Himalaya có lượng mưa trung bình năm từ 3000–
4000 mm trong khi Tây Tạng nằm ở phía Bắc dãy núi thì mưa ít, không quá 300 mm mộtnăm
Trang 123.1.4 Các dòng biển
Các dòng biển cũng có ảnh hưởng quan trọng đến khí hậu các vùng tiếp cận Trong sốcác dòng chảy gần bờ, quan trọng nhất là dòng lạnh Kuril-Kamchatka chảy từ phía Bắcxuống làm cho miền duyên hải Đông Bắc Á về mùa đông rất lạnh, mùa hè hơi lạnh, thờitiết âm u và thường có mưa cùng dòng nóng Kuroshio từ phía Nam dọc theo bờ ĐôngBắc Philippines và Đông Nam Nhật Bản
3.1.5 Hoàn lưu khí quyển và sự thay đổi thời tiết theo mùa
3.1.5.1 Mùa đông:
Không khí vùng trung tâm, nhất là vùng Đông Bắc Siberi bị hóa lạnh mạnh Nhiệt độtrung bình tháng 1 các vùng Trung Á và Nội Á thay đổi từ -10 °C đến -40 °C, còn ở vùngĐông Siberi xuống tới từ -40 °C đến -50 °C Do sự hóa lạnh đó, trên lục địa hình thànhmột áp cao được gọi là áp cao Siberi Áp cao này có trị số trung bình nhiều năm đạt tới
1040 mb (hoặc 780 mm/Hg) Áp cao Siberi là một xoáy nghịch lớn nhất thế giới, khôngkhí trong vùng áp cao lạnh và rất khô, tạo nên thời tiết trong sáng và yên tĩnh Vào giữamùa đông, áp cao Siberi gần như bao phủ toàn bộ châu Á, còn ở phía Tây thu hẹp thànhmột dải chạy dọc vĩ tuyến 60° Bắc và nối liền với áp cao Axo Ở phía Bắc lục địa có gióTây Nam thổi từ nội địa lên phía Bắc, gây nên thời tiết rất khô và lạnh Ở phía Đông, ápthấp Aleut cũng phát triển mạnh, bao phủ gần như toàn bộ Bắc Thái Bình Dương làm choĐông Á về mùa này cũng có gió thổi từ lục địa ra biển theo hướng Tây hoặc Tây Bắc-Đông Nam Đây là gió mùa mùa đông khô và rất lạnh, nhiệt độ thấp nhưng lượng tuyếtrơi không đáng kể
Phần phía Nam lục địa, trị số khí áp giảm dần từ Bắc xuống Nam và sau đó chuyển sangđới áp thấp xích đạo Tuy nhiên trên các sơn nguyên Tây Tạng và Quý Châu vẫn tồn tạicác áp cao địa phương, còn trên Thái Bình Dương có áp cao Hawaii thường tác động đếnĐông Nam Trung Quốc và bán đảo Trung Ấn
Do sự tương phản khí áp như vậy, toàn bộ phần Nam lục địa kể cả Tây Nam Á về mùađông có gió Đông Bắc từ lục địa thổi xuống Tuy nhiên do ảnh hưởng của các dãy núi caotheo hướng Đông-Tây, gió Đông Bắc từ áp cao Siberi không thể xâm nhập tới bán đảophía Nam được Bởi vậy, gió Đông Bắc ở khu vực này thực chất là gió mậu dịch ĐôngBắc từ các áp cao cận nhiệt đới thổi về xích đạo Gió mậu dịch mang theo khối khí nhiệtđới lục địa nên không có mưa, thời tiết ổn định, trong sáng và tương đối nóng Riêng khuvực Nam Trung Hoa và Đông Bắc bán đảo Trung Ấn, gió Đông Bắc xuất phát từ vùngNội Á thổi xuống, còn phần Bắc bán đảo Indostan lại có gió Tây Bắc từ Trung Á thổixuống nên thời tiết nói chung khô và hơi lạnh
Như vậy về mùa đông, trên toàn bộ châu Á đều có gió thổi từ lục địa ra biển Thời tiếtkhắp nơi khô và lạnh Nhiệt độ giảm dần từ Nam lên Bắc và phần lớn lãnh thổ dưới 0 °C,
Trang 13chỉ có phần Hoa Nam, các bán đảo Trung Ấn, Ấn Độ, Arabia và Tiểu Á có nhiệt độ trên
0 °C Các phần nội địa, nhất là Đông Siberi là nơi có nhiệt độ trung bình thấp nhất, từ-30 °C trở xuống
3.1.5.2 Mùa hạ
Không khí trong lục địa nóng dần lên, áp cao Siberi suy yếu dần rồi biến mất, còn ở phíaNam, trên sơn nguyên Iran hình thành một áp thấp, được gọi là áp thấp Iran (áp thấp NamÁ) Áp thấp Iran có trị số trung bình nhiều năm ở vùng trung tâm là 994 mb (hoặc 745,5mm/Hg) Vào giữa mùa hạ, áp thấp này cùng với áp thấp Bắc Phi và áp thấp Xích đạophối hợp với nhau thành một đai áp thấp bao phủ phần lớn châu Á và gần như toàn bộBắc Phi
Cũng trong thời gian này, ở phía Đông áp thấp Aleut biến mất và áp cao Hawaii pháttriển, chiếm toàn bộ phần Bắc Thái Bình Dương và lan sang phần bờ Đông Á Ở bán cầuNam, các khu áp cao Nam Phi, Nam Ấn Độ Dương và Úc cũng phát triển thành một đới
áp cao liên tục Sự phân bố khí áp như vậy làm cho hoàn lưu không khí trên lục địa vềmùa hạ khá phức tạp Ở vùng Bắc Á và Nội Á có gió Bắc hoặc Đông Bắc Sự thống trịcủa gió thành phần Bắc ở khu vực nói trên dẫn tới kết quả là không khí cực và ôn đới khixuống phía Nam bị nóng dần lên, độ ẩm giảm xuống nên mưa rất ít Về mùa hạ, các vùngBắc Á có thời tiết ẩm và mát, còn ở Trung Á và Nội Á thì trái lại, rất khô và nóng
Đường đi của cơn bão nhiệt đới Xangsane năm 2006 Đầu tiên, nó hình thành tại phíaTây Thái Bình Dương, vượt qua Philippines rồi đổ bộ vào Việt Nam, gây thiệt hại lớncho các tỉnh miền Trung
Ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á về mùa này có gió Tây Nam và Đông Nam thổi từbiển vào được gọi là gió mùa mùa hạ Ở Nam Á, Đông Nam Á có gió mùa mùa hạ mangtheo khối khí xích đạo nóng ẩm từ Ấn Độ Dương tới, gây mưa lớn, nhất tại các sườn đóngió như Gaths Tây ở Ấn Độ, Nam Himalaya, Tây Myanma, Tây Nam Campuchia Khốikhí xích đạo có thể xâm nhập xa về phía Bắc cho tới dãy Tần Lĩnh và frong nhiệt đớicũng tiến theo cho đến tận chân núi Himalaya sau đó vòng lên phía Bắc cho tới thunglũng sông Trường Giang Do ảnh hưởng của không khí xích đạo, tất cả khu vực nằm ởphía Nam frong nhiệt đới đều có thời tiết nóng, ẩm ướt và có mưa nhiều Ở Đông Á, nơi
có gió mùa Đông Nam cũng mang theo khối khí nhiệt đới và ôn đới hải dương từ TháiBình Dương vào, cũng có mưa nhiều Tuy nhiên, do các dãy núi theo hướng Bắc-Namnên gió mùa chỉ hạn chế trong một dải không rộng, dọc theo phía Đông lục địa Ngoài ra,
ở các vùng duyên hải Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á về mùa hạ thường chịu ảnhhưởng của áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới Các áp thấp nhiệt đới và bão này thườngđược hình thành trong vịnh Bengal, vùng biển phía Đông Việt Nam hoặc phía ĐôngPhilippines, sau đó di chuyển sang phía Tây, đổ bộ vào Đông Nam Ấn Độ, Bangladesh,
Trang 14một số vượt sang biển Ả Rập, đổ bộ sang bờ Tây Ấn Độ và có thể sang tận bán đảoArabia Ở Đông Á, áp thấp nhiệt đới và bão thường đi qua Philippines đến bờ Đông ViệtNam, Đông Trung Quốc và có thể tới cả bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản Chúng làm chothời tiết nhiễu loạn mạnh, có gió to, mưa lớn Nhiều cơn bão gây tác hại lớn cho sản xuấtnông nghiệp, các công trình xây dựng và đời sống nhân dân vùng biển.
Tóm lại, về mùa hạ, phần lớn lục địa chịu ảnh hưởng của gió từ biển thổi vào, có mưaphổ biến ở nhiều nơi Mặt khác về mùa này lục địa được sưởi nóng đến nhiệt độ cao.Đường đẳng nhiệt 0 °C vào tháng 7 chạy rất xa về phía Bắc của các đảo và quần đảothuộc Bắc Băng Dương Đường đẳng nhiệt 4 °C chạy men theo rìa phía Bắc lục địa, đidần xuống phía Nam thì nhiệt độ cũng tăng dần lên
3.2 Các đới khí hậu
Đới khí hậu Phân bố Đặc điểm
Đới khí hậu cực Thuộc phạm viđới này có các
đảo, quần đảo
và một dải hẹp
- Do vị trí nằm trên những vĩ độ cao nên quanhnăm thống trị khối khí cực khô và lạnh nên vềmùa đông, ở đây có đêm địa cực kéo dài (từ 75°Bắc trở lên, đêm cực kéo dài hơn 98 ngày),
Trang 15dọc theo duyênhải phía Bắclục địa Giớihạn phía Namgần trùng vớiđường vĩ tuyến71° Bắc.
nhiệt độ rất thấp
- Nhiệt độ trung bình tháng 1 xuống tới -34 °Ctrên bán đảo Taymyr Về mùa đông thường cógió mạnh và bão tuyết, thời tiết rất giá buốt Vềmùa hạ trái lại có ngày liên tục kéo dài (từ 75°Bắc trở lên, ngày liên tục có 102 ngày) song docường độ bức xạ yếu nên nhiệt độ mùa hạ ở đâyvẫn thấp - - Nhiệt độ trung bình tháng ấm nhấtvẫn không thể vượt quá 5 °C
- Mùa hạ thường có gió Bắc, thời tiết lạnh, hay
có sương mù hoặc mưa tuyết Lượng mưa trungbình năm 100–200 mm
Đới khí hậu cận
cực Đới khí hậucận cực tạo
thành một dảihẹp nằm ởphía Nam đớikhí hậu cực
Giới hạn củađới này gầntrùng với vòngcực Bắc
- Trong đới này có sự thay đổi khối khí theomùa: mùa đông là khối khí cực lục địa, còn mùa
hạ là khối khí ôn đới ấm và ẩm hơn Thời tiếtgiữa hai mùa phân biệt khá rõ rệt Mùa đông rấtlạnh, nhất là các vùng nằm sâu trong lục địa do
sự biến tính của gió thổi từ Đại Tây Dương.Nhiệt độ trung bình tháng thay đổi từ -40 °Cđến -50 °C ở vùng Trung và Đông Siberi Mùa
hè tương đối ấm, nhiệt độ trung bình tháng cóthể vào khoảng 8-10 °C
- Đới khí hậu cận cực có thể chia thành 3 kiểukhác nhau:
+ Khí hậu cận cực hải dương : ở phía Tây có
mùa đông tương đối dịu, mùa hạ mát và ẩmướt;
+ Khí hậu cận cực lục địa : có mùa đông rất
lạnh và biên độ nhiệt giữa hai mùa lớn nhất trênTrái Đất
+ Khí hậu cận cực hải dương : phía Đông
tương tự như ở phía Tây nhưng có mùa đônglạnh hơn và thường có gió Bắc hoặc Đông Bắc,còn mùa hạ có gió Đông Nam
Đới khí ôn đới Đới khí hậu ôn
đới chiếm mộtdải rộng nhất
Đường ranhgiới phía Namcủa đới thay
+ Kiểu khí hậu ôn đới lục địa: hình thành trong
vùng trung tâm lục địa bao gồm khu vực dãyUral và Đại Hưng An Trong khu vực này,
Trang 16từ 15 °C ở phía Bắc đến 28 °C ở phía Nam.Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ nhưng lượng giảmdần theo hướng từ Bắc xuống Nam Một dảirộng nằm ở phía Nam khu vực này kéo dài từTrung Á đến Mông Cổ là vùng khô hạn nhất,lượng mưa hằng năm không quá 250 mm.
+ Kiểu khí hậu ôn đới gió mùa: hình thành
trong miền duyên hải phía Đông, gồm lưu vựcsông Amur và đảo Sakhalin Về mùa đông, cógió Tây Bắc thổi từ lục địa ra khô và rất lạnh,còn về mùa hạ có gió Đông Nam từ biển thổivào ấm và ẩm ướt Mưa rơi chủ yếu vào mùa
hạ, chiếm 60-70% lượng mưa cả năm Ngoài ra,
về mùa hạ thỉnh thoảng còn có bão từ phíaĐông Nam xâm nhập lên làm cho thời tiếtnhiễu loạn mạnh Nhiệt độ trung bình tháng 1
từ -25 °C ở phía Bắc đến -15 °C ở phía Nam.Nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 15-20 °C Lượngmưa trung bình năm từ 500–700 mm
+ Kiểu khí hậu ôn đới hải dương : chiếm phần
Đông Bắc biển Okhotsk, bán đảo Kamchatka vàquần đảo Kuril Kiểu khí hậu này chịu ảnhhưởng mạnh từ biển, Hải lưu Kuril-Kamchatkalạnh và đặc biệt là hoạt động của khí xoáy trênbiển Okhotsk và biển Bering Về mùa đông ởđây chủ yếu có gió Bắc và Tây Bắc, còn mùa hạ
có gió Nam và Đông Nam Điều kiện khí hậu ởđây có sự thay đổi từ Bắc xuống Nam Về mùa
hạ mát và ẩm, nhiệt độ trung bình tháng 7
10-18 °C, mùa đông từ -10 °C đến -20 °C Lượngmưa trung bình năm từ 700–900 mm, lớp tuyếtphủ về mùa đông dày hơn 100 cm
Trang 17Đới khí cận nhiệt
đới Đới khí hậucận nhiệt đới
chiếm một dảikhá rộng, từ bờĐịa Trung Hảiđến bờ TháiBình Dương
Có thể chia thành 4 kiểu chính như sau:
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải : hình
thành trong khu vực bán đảo Tiểu Á, sơnnguyên Armenia, các vùng thuộc Syria, Iraq Điểm nổi bật của kiểu khí hậu này là mùa hạkhô và nóng, thời tiết ổn định và trong sáng,còn mùa đông trái lại do ảnh hưởng của gió Tây
và hoạt động của khí xoáy nên thời tiết hay thayđổi, mát dịu và mưa nhiều Nhiệt độ trung bìnhtháng 1 4-12 °C, tháng 7 25-28 °C Lượng mưatrung bình năm từ 500–700 mm
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa : hình thành
trong các miền nội địa, bao gồm phần Nam cácđồng bằng Trung Á, Nội Á và các vùng thuộcsơn nguyên Iran Ở đây về mùa hạ chịu ảnhhưởng của khối khí nhiệt đới lục địa khô vànóng, nhiệt độ trung bình tháng 7 lên tới 30 °C,
độ ẩm tương đối thấp và mưa rất hiếm Về mùađông do hoạt động của khí xoáy trên frong ônđới nên có mưa, nhiệt độ thấp Ở Tehran cónăm nhiệt độ xuống thấp tới -20 °C, còn ởTrung Á tới -30 °C Nhiệt độ trung bình tháng 1
ở các khu vực này thường từ -1 đến 0 °C.Lượng mưa hằng năm không đáng kể, 100–
300 mm
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt núi cao : là một biến
dạng đặc biệt của kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa,hình thành trên các sơn nguyên và núi cao3500–4000 m trở lên, chủ yếu ở Pamir và TâyTạng Khí hậu vẫn mang tính chất lục địa khá
rõ rệt: mùa đông rất lạnh và khô, mùa hạ mát.Biên độ nhiệt giữa các mùa lớn, thời tiết trongngày luôn luôn thay đổi, nhất là ở Tây Tạng.Lượng mưa trung bình hằng năm rất ít, vì thếcác vùng núi và sơn nguyên cao phần lớn làhoang mạc núi cao
+ Kiểu khí hậu cận nhiệt gió mùa : chiếm phần
phía Đông lãnh thổ Trung Quốc, phía Nam bánđảo Triều Tiên và Nam Nhật Bản Đặc điểm
Trang 18của kiểu khí hậu này đối lập với kiểu cận nhiệtĐịa Trung Hải Ở đây, mùa hạ có gió ĐôngNam thổi từ biển vào, thời tiết nóng và mưanhiều Lượng mưa mùa hạ chiếm tới 60-75%lượng mưa cả năm Về mùa đông có gió TâyBắc từ lục địa thổi ra, nói chung khô và lạnh,tuy nhiên còn nhờ hoạt động của khí xoáy nênthỉnh thoảng vẫn có mưa Lượng mưa trungbình năm 1000–15000 mm, đây là miền khí hậu
ẩm ướt nhất của đới khí hậu cận nhiệt
Đới khí nhiệt đới Ở châu Á, đới
khí hậu nhiệtđới không tạothành một dảiliên tục mà chỉchiếm phầnTây Nam châu
Á bao gồm :bán đảo ẢRập, phần namsơn nguyênIran cho tớiTây Bắc ẤnĐộ
- Trong các khu vực này quanh năm thống trịkhối khí nhiệt đới lục địa và gió mậu dịch, vìthế mùa hạ rất khô và nóng còn mùa đông khô
và hơi lạnh - - Lượng mưa hằng năm rất ít,trung bình không có 100 mm ở vùng đồng bằng
và 300–400 mm ở miền núi Do không khí khônên khả năng bốc hơi lớn gấp hàng chục lầnkhả năng mưa, gây nên tình trạng thiếu ẩm gaygắt
- Điều kiện khí hậu ở đây tương tự như Sahara
ở châu Phi Nhiệt độ trung bình tháng 7 thayđổi từ 28 °C đến 30 °C, tháng 1 từ 12 °C ở phíaBắc đến 20 °C ở phía Nam Biên độ nhiệt giữacác mùa, ngày và đêm rất lớn
Lanka), bánđảo Trung Ấn,nam TrungQuốc và quầnđảo
Philippines
Như vậy, so với các châu lục khác thì ở châu Á,đới khí hậu này dịch lên những vĩ độ cao hơn,đồng thời ở phía Bắc, nó chuyển sang đới khíhậu cận nhiệt và mất hẳn đới khí hậu nhiệt đới
- Trong đới khí hậu cận xích đạo về mùa hạ cógió mùa từ biển thổi vào, nóng, ẩm ướt và cómưa nhiều Ngoài ra, thường có bão xâm nhậplàm cho thời tiết nhiễu loạn mạnh và có mưalớn
- Do ảnh hưởng của địa hình nên sự phân bốmưa không đều: trên các sườn đón gió, mưatrung bình từ 2000–4000 mm hoặc hơn, còntrên đồng bằng, từ 1000–200 mm Nói chungđây là nơi mưa nhiều nhất châu lục
- Về mùa đông có gió mùa Đông Bắc từ lục địa
Trang 19thổi ra, thời tiết nhìn chung khô ráo Tuy nhiên,như phần hoàn lưu khí quyển đã nói ở trên, vềmùa này ở Bắc Ấn Độ, phía Bắc bán đảo Trung
Ấn thời tiết tương đối lạnh và có mưa do ảnhhưởng của khí xoáy, chỉ có phần Nam các bánđảo này tương đối nóng, thời tiết khô và trongsáng
Đới khí hậu xích
đạo Bao gồm :phần nam đảo
Sri Lanka,phần nam bánđảo Mã Lai vàphần lớn quầnđảo Indonesia
- Với vị trí nằm trên các đảo và bán đảo, biên
độ nhiệt giữa các mùa thấp hơn và lượng mưatrung bình hằng năm cao hơn vùng xích đạo ởlục địa Phi Biên độ nhiệt hằng năm ở đây 1-
2 °C, còn lượng mưa trung bình đạt tới 2000–
4000 mm Riêng khu vực từ nửa Đôngđảo Java trở về phía Đông thuộc đới khí hậu giómùa xích đạo của bán cầu Nam nên đặc điểmkhí hậu mang tính chất mùa rõ rệt
4 Sông ngòi và hồ
4.1 Đặc điểm chung về sông ngòi
- Ở châu Á có nhiều hệ thống sông lớn vào bậc nhất thế giới, hằng năm các sông đổ rabiển một khối lượng nước khổng lồ Sự phát triển của các hệ thống sông lớn đó là do lụcđịa có kích thước rộng lớn, đồng thời các núi và sơn nguyên cao lại tập trung ở vùngtrung tâm, có băng hà phát triển, là nơi bắt nguồn của nhiều con sông Các sông chảy quacác sơn nguyên và đồng bằng rộng, có khí hậu ẩm ướt nên thuận lợi cho việc hình thànhcác con sông lớn Tất cả các con sông lớn như Hoàng Hà, Dương Tử, Hắc Long Giang,
Mê Kông, Ấn, Hằng đều hình thành trong các điều kiện như vậy
- Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, sự phân bố mạng lưới sông và chế độ sông trên lụcđịa không đều Ở các vùng có mưa nhiều thì mạng lưới sông ngòi phát triển, các sông cónhiều nước và đầy nước quanh năm Trái lại, ở các vùng khô hạn như Trung Á, Nội Á vàbán đảo Ả Rập thì mang lưới sông rất thưa thớt, thậm chí có những nơi không có dòngchảy Ở châu Á, lưu vực nội lưu chiếm một diện tích rất rộng tới 18 triệu km², bằngkhoảng 41,3% diện tích châu lục
4.2 Phân bố các sông lớn ở Châu Á
Trang 20Lưu vực Tên các con sông
lớn trong lưu vực Thuộc khu vực Giá trị nguồn nước Thái Bình
Dương
Amur (Hắc LongGiang), Hoàng
Giang, Mê Kông,
Mê Nam
Bao gồm tất cảcác sông của miềnĐông Á và cácvùng đảo trong
Thái Bình Dương.
-Tưới tiêu
- Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
- Thủy điện
Ấn Độ
Dương
Euphrates vàTigris Ấn, Hằng,Brahmaputra vàSalween
Lưu vực này gồmcác sông thuộcTây Nam Á, Nam
Á và phần Tâybán đảo TrungẤn
-Tưới tiêu
- Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản
Lưu vực BắcBăng Dương gồmcác sông của miềnTây Siberi chảy
về phía Bắc
Có giá trị về giao thông và có
dự trữ thủy năng lớn Hiện naytrên các sông thuộc lưu vựcnày tập trung nhiều nhà máythủy điện lớn trên thế giới
Nội lưu Syr Darya và Amu
Darya
Gồm các sôngchảy trong miềnTrung Á, Nội Á
và sơn nguyênIran
Có nguồn nước vô cùng quýgiá cho đời sống của cư dân,cho sản xuất nông nghiệp,công nghiệp, giao thông vàthủy điện
4.3 Các hồ
- Kể tên các hồ lớn
Các hồ các quan trọng nhất là Caspi (371.000 km², sâu 995 m, mức nước thấp hơn mựcnước đại dương 28 m), Aral (66.458 km², sâu 68m) Hai hồ có kích thước rất lớn nênngười ta thường gọi là "biển" hay "biển hồ" Hiện nay hồ Aral bị thu hẹp diện tích rấtnhiều do việc xây dựng các kênh đào để lấy nước tưới cho các vùng hoang mạc Trung Á
Sự thu hẹp diện tích các hồ đã gây ra sự khủng hoảng sinh thái lớn, làm cho sản xuất vàđời sống của cư dân các vùng đồng bằng xung quanh hồ bị thiệt hại nặng Một số hồ khácnhư Balkhash (22.000 km², sâu 26,5m), Issyk Kul (6.200 km, sâu 702m), Hồ Chết(1000 km², sâu 747m, thấp hơn mực nước biển 392m) là những hồ mặn Hồ Baikalnằm
Trang 21ở phía Nam vùng Trung Siberi là hồ sâu nhất thế giới (31.500 km², sâu 1620m), đây là hồnước ngọt trong lành, chứa tới 20% tổng lượng nước ngọt trên Trái Đất, có phong cảnhthiên nhiên đẹp, có ý nghĩa cả về kinh tế và bảo vệ tự nhiên.
Biển Caspi :Chụp bởi MODIS từ quĩ đạo của vệ tinh Terra
Biển Aral năm 1989 và 2008
HỒ BAIKAL Tảng đá pháp sư trên đảo Olkhon