1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

De cuong on tap NV 11 HK II

12 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 21,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dạng đề thi: Phân tích một bài thơ cụ thể; một đoạn thơ, khổ thơ; một khía cạnh của bài thơ v.v… HS có thể tham khảo một số dạng đề dưới đây Đề 1: Một quan niệm mới về tình yêu cuộc [r]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 11 - HỌC KÌ II

I CÂU HỎI LÝ THUYẾT

Câu 1: Nhận xét về cái “ ngông” của Tản Đà qua bài Hầu Trời?

Trả lời:

“ Ngông” trong nghiên cứu văn học thường được dùng để chỉ một kiêu ứng xử xã hội và nghệ thuật khác với thói thường của những nhà văn, nhà thơ có cá tính Tản Đà không phải là người duy nhất có cá tính “ ngông” Trước ông, những người như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều “ ngông”.Trong bài Hầu Trời, cái “ ngông” của Tản Đà đã được bộc lộ qua các chi tiết:

- Nhà thơ tự cho mình văn hay đến mức trời phải tán dương: “ Trời lại phê cho: “ Văn thật tuyệt” – Văn trần được thế chắc có ít” Qua lời khen của trời ta thấy được thái độ tự đắc của thi sĩ Tản Đà cho rằng không ai đáng là kẻ tri âm với mình ngoài trời và các chư tiên, kẻ mắt trần chưa chắc đã nhận ra được cái đặc sắc trong thơ văn ông

- Tản Đà tự xưng tên tuổi và thân thế bằng lời kể khách quan và hóm hỉnh: “ Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa - Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn – Quê ở Á châu về Địa

cầu – Sông Đà núi Tản nước Nam Việt” Điều đó chứng tỏ Tản Đà rất ý thức về tài năng thơ và táo bạo dám đường hoàng bộc lô bản ngã “ cái tôi” của một Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

- Tản Đà tự xem mình bị trời đày xuống hạ giới vì tội ngông và cũng là để làm một

sứ mệnh hết sức trọng đại: “ Trời định sai con một việc này – Là việc “ thiên lương “ của nhân loại,” Đièu đó chứng tỏ Tản Đà là người lãng mạn nhưng vẫn ý thức về trách nhiệm với cuộc đời Đây cũng là một cách tự khẳng định tài năng và cả nhân cách của mình

- Giọng kể chuyện của tác giả rất đa dạng, hóm hỉnh và có phần ngông nghênh, tự đắc

Câu 2: Trình bày những yếu tố tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ cho bài thơ Lưu biệt

khi xuất dương.

Trả lời:

Những yếu tố tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ Lưu biệt khi xuất dương:

 Khát vọng hào hùng, mãnh liệt của người chí sĩ yêu nước

 Tư thế kì vĩ của người chiến sĩ sánh ngang tầm vũ trụ

 Lòng yêu nước cháy bỏng và ý thức về lẽ nhục – vinh gắn liền với sự tồn vong của

tổ quốc

 Tư tưởng đổi mới táo bạo, đi tiên phong

 Khí phách ngang tàng, đối đầu với mọi thử thách

 Giọng thơ tâm huyết sâu lắng mà sôi sục, hào hùng

Câu 3: Trình bày những nét mới về nội dung và những nét truyền thống về đặc điểm nghệ thuật của các bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, Hầu trời của Tản Đà?

Trả lời:

 Những nét mới về nội dung của hai bài thơ:

Trang 2

+ Lưu biệt khi xuất dương: Là vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng,tự tin kiêu hãnh và khát

vọng cháy bỏng nơi tâm hồn nhà cách mạng Phan Bội Châu trong buổi ra đi tìm đường cứu nước qua một giọng thơ trữ tình – chính trị đầy tâm huyết sôi sục, đầ sức lôi cuối,

+ Hầu trời: Là vẻ đẹp mới mẻ của cái tôi cá nhân mà thi sĩ muốn thể hiện, một cái tôi

ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng thơ, về giá trị đích thực của mình và khao khát khẳng định mình giữa cuộc đời

 Nét truyền thống về hình thức nghệ thuật của hai bài thơ

+ Lưu biệt khi xuất dương: Là thể thơ Đường luật thát ngôn bát cú và lại được viết

bằng chữ Hán ; hình ảnh bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc đẹp kì vĩ nhưng vẫn mang phảng phất nét ước lệ cổ xưa

+ Hầu trời: Nhìn chung dù đã có dấu hiệu đổi mới nhưng hình thức thơ Tản Đà nói

chung, bài thơ Hầu trời nói riêng chưa mới ở thể thơ thất ngôn trường thiên, ở ngôn từ, và

ở hệ thống hình ảnh nghệ thuật…

Câu 4: Phân tích ý nghĩa tư tưởng - nghệ thuật của biểu tượng “cái bao”; từ đó khái quát chủ đề tư tưởng truyện ngắn “Người trong bao” của nhà văn Sê-khôp?

Đáp án: Hình ảnh cái bao là một trong những sáng tạo độc đáo của tác giả Nó có thể gợi

ra cho người đọc những ý nghĩa sau:

* Ý nghĩa tư tưởng - nghệ thuật của biểu tượng cái bao (1đ)

- Nghĩa hẹp (nghĩa gốc): Vật dùng để bao, gói, đựng đồ vật, hàng hóa,… hình túi hoặc hình hộp,…

- Nghĩa rộng (chuyển): Lối sống và tính cách của Bê-li-cốp

- Nghĩa biểu trưng: Kiểu người trong bao, lối sống trong bao - một kiểu người, một lối sống không chỉ đã và đang tồn tại ở nước Nga cuối thể kỉ XIX đầu thế kỉ XX mà còn có ý nghĩa phổ quát sâu rộng hơn nhiều Cả xã hội Nga, cả nước Nga thời điểm đó, phải chăng

cũng là một “cái bao” khổng lồ trói buộc, tù hãm, vây bủa, ngăn chặn sự tự do của con

người?

* Chủ đề tư tưởng của truyện (1đ)

- Lên án, phê phán mạnh mẽ kiểu người trong bao, lối sống trong bao và tác hại của

nó đối với hiện tại và tương lai của nước Nga

- Bức thiết cảnh báo và kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cuộc sống, cách sống, không thể sống tầm thường, hèn nhát, ích kỉ và hủ lậu mãi như thế!

Câu 5: Bức thông điệp mà Victo Huy-go muốn gửi tới bạn đọc qua đoạn trích

“Người cầm quyền khôi phục uy quyền” là gì?

Đáp án: Qua câu chuyện đầy kịch tính với những hình tượng tương phản, Victo Huy-go

muốn gửi đến bạn đọc thông điệp:

- Lòng nhân ái rất cần thiết trong cuộc sống, nhất là khi con người rơi vào những tình thế khó khăn Trong bất công và tuyệt vọng, con người chân chính vẫn có thể bằng ánh sáng và tình thương đẩy lùi bóng tối của cường quyền và nhen nhóm niềm tin vào tương lai (1.5đ)

- Giải quyết những bất công, bạo lực và ngang trái, cứu vớt con người khỏi bàn tay của

loài “quỷ dữ”, “ác thú” bằng pháp tình thương có thể chỉ là giấc mơ trong thế giới lí

tưởng của Vic-to Huy-go, song điều này đã bồi đắp cho con người một tình cảm và lí tưởng đẹp đẽ, cao thượng, không thể thiếu Trong cuộc sống hiện nay, giải pháp tình

Trang 3

thương rất cần thiết, không thể thiếu song người ta không thể thay đổi xã hội duy chỉ bằng trái tim.(0.5đ)

Câu 6: Bài thơ “Tôi yêu em” gợi cho anh (chị) cảm nghĩ gì về tâm hồn Puskin và về tình yêu?

Đáp án:

- “Tôi yêu em” thấm đượm nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đơn phương

chân thành, mãnh liệt, nhân hậu, vị tha và cao thượng (1đ)

- Với Puskin tình yêu phải là sự tự nguyện từ hai phía; phải xuất phát từ những tình cảm chân thành, say đắm, mãnh liệt và vị tha; trong tình yêu phải có sự tôn trọng lẫn nhau; ghen tuông chỉ dẫn con người đến mù quáng, thấp hèn.(1đ)

II NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Đề 1: Bệnh thành tích gây tác hại không nhỏ cho xã hội ta hiện nay Ý kiến của anh,

chị về vấn đề này

Gợi ý :

Mở bài:

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận và tác hại của bệnh thành tích

Thân bài:

- Thế nào là bệnh thành tích? Theo nghĩa Từ điển tiếng Việt, bệnh thành tích là những

biểu hiện chạy theo thành tích bằng bất cứ giá nào, nhằm hướng tới mục đích: được cấp trên khen thưởng, được đề bạt vào chức vị cao hơn, …

- Biều hiện của bệnh thành tích

- Hậu quả nặng nề do căn bệnh này gây ra:

+ Tạo nên sự giả tạo về kiến thức, sự giả tạo nói chung đã đáng lên án, giả tạo về kiến thức tác hại với xã hội càng khôn lường, những người đầy đủ bằng cấp nhưng không đủ năng lực chuyên môn vẫn được cử giữ nhiều địa vị cao trong xã hội, tác hại họ gây ra vô cùng nghiêm trọng, …

+ Gây mất niềm tin, xói mòn niềm tin trong nhân dân, …

+ Làm cho con người dễ dàng tự mãn, kiêu ngạo, hợm hĩnh, khoe khang

nhưng thực chất là một bộ não rỗng tuếch, …

- Biện pháp khắc phục: Kiên quyết chống lại những hành động gian lận, tiêu cực để đạt những thành tích ảo, bản thân gương mẫu, tuyền truyền, giúp đỡ, cương quyết với cả người thân, bạn bè tránh xa căn bệnh nguy hiểm này, …

Kết bài:

Khẳng định lại vấn đề

Rút ra bài học cho bản thân: học thật chiếm lĩnh tri thức thật lập thân, lập nghiệp, giúp đời, …

Đề 2: Viết bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh, chị về hiện tượng đối phó, quay cóp bài trong giờ kiểm tra ở học sinh trung học phổ thông hiện nay

Gợi ý

Mở bài:

Nêu vấn đề cần nghị luận

Thân bài:

Trang 4

- Biểu hiện: Những hiện tượng của đối phó, quay cóp bài: mở sách, viết sẵn công thức lên mặt bàn, chuẩn bị “phao” là các bài giải sẵn, xem bài của bạn, chia bài học và trao đổi bằng hình thức đọc bài cho nhau (theo những câu đã được phân công trong nhóm), …

- Tác hại: Kiến thức ảo, chỉ được những con điểm ảo (nếu không bị thầy cô phát hiện), còn nếu bị phát hiện sẽ chịu ky luật  Mất niềm tin, mất uy tín và danh dự, …

- Biện pháp khắc phục: Kiên quyết chống lại những hành vi tiêu cực, dù đó là bạn bè thân của mình, bởi cái quan trọng là giúp bạn có kiến thức thật để vững tin chứ không phải đối phó lại bằng những con điểm vô giá trị

Kết bài:

Khẳng định lại vấn đề và rút ra bài học cho bản thân: Điều chỉnh thái độ và hành vi học tập của bản thân: chăm chú nghe giảng, chăm làm bài tập thực hành, học bài, tham khảo tài liệu, …

Đề 3: Trình bày quan điểm bản thân về tính trung thực trong phẩm chất của con người Việt Nam.

Gợi ý

Mở bài: Nêu vấn đề cần nghị luận

Thân bài

a Giải thích

- Thế nào là tính trung thực? Những biểu hiện của nó trong đời sống hàng ngày

- Bên cạnh đức tính trung thực là sự gian ngoa, xảo trá, lọc lừa, …

b Bình luận

- Tốt, xấu, trung thực, giả dối là hai mặt của hiện thực đời sống cùng song song tồn tại,

- Trung thực là đức tính tốt góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của người Việt

- Ngày nay, tính trung thực nhiều lúc bị “lung lay” bởi nền kinh tế thị trường với những biểu hiện tiêu cực trong kinh doanh, trong các văn hóa, thậm chí cả trong giáo dục, …

Kết bài: Cần phải trau dồi, giữ vững niềm tin, hình thành đức tính trung thực đặc biệt là

lứa tuổi HS Kiên quyết lên án sự gian lận, giả trá diễn ra dưới nhiều hình thức, làm cho

xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ hơn, …

Đề 4: Anh chị hãy trình bày những suy nghĩ của mình về hiện tượng nghiện Internet của HS hiện nay

Gợi ý

Mở bài: Nêu vấn đề cần nghị luận

Thân bài

- Giải thích thế nào là nghiện Internet

- Phân tích những mặt tích cực và hạn chế của việc sử dụng Internet

+ Tích cực: Đây là phát minh vĩ đại, khẳng định nền văn minh của loài người

Cung cấp thông tin nhanh chóng, đa dạng, bổ ích, nếu biết sử dụng đúng mức nó là loại hình giải trí lành mạnh, phục vụ có hiểu quả cho đời sống tinh thần của con người

+ Hạn chế: Lẫn vào trong những cái hay, cái tốt Internet cũng chứa đựng những hiểm họa: sản phẩm văn hóa đồi trụy, bạo lực, thậm chí phản động, phản văn hóa, đánh vào dục vọng và bản năng thấp hèn của con người, …, kích thích sự tò mò của tuổi mới lớn,

Trang 5

- Thực trạng

+ Chơi game / - Chat/ - Xem ảnh nóng, văn hóa phẩm khiêu dâm, …

+ Tung lên mạng những clip không lành mạnh

- Nguyên nhân

+ Cha mẹ chỉ lo làm kinh tế, không quan tâm nhiều đến con cái, đặc biệt ở lứa tuổi nhạy cảm trước nhiều vấn đề mà các em muốn “khám phá”, cha mẹ chỉ cho tiền con cái chứ quan tâm đến chi tiêu của các em, …

+ Gia đình chưa phối hợp tốt với gia đình để giáo dục con em, nhiều phụ huynh quan niệm: giao con cho nhà trường!

+ Nhà nước chưa có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn các cơ sở cho thuê những dịch vụ Internet không lành mạnh

+ Bản thân HS thiếu ý thức trong học tập, lập trường không vững vàng dễ bị kẻ xấu và cái thấp hèn lôi kéo, quyến rũ

- Hậu quả

+ Có hại cho sức khỏe

+ Học tập sa sút

+ Tốn kém tiền của của cha mẹ

+ Hành động sai trái, phạm pháp, trộm cắp, cướp giật, thậm chí gây ra nhiều tác hại đau lòng: ám ảnh từ các game bạo lực, clip đồi trụy, …

- Giải pháp

- Về phía các cơ quan chức năng, quản lý văn hóa, truyền thông

- Gia đình

- Nhà trường

- Bản thân HS nên làm gì? Hành động như thế nào? (chú ý tránh viết khuôn sáo)

Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nêu ra bài học

Đề 5: Giải pháp của bạn để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp

Gợi ý

Mở bài: Nêu vấn đề cần nghị luận

Thân bài:

- Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay ở nước ta ngày càng nghiêm trọng (môi

trường nước, không khí, đất, …) Nêu dẫn chứng cụ thể làm rõ tình trạng ô nhiễm đó

- Nguyên nhân:

- Những giải pháp làm cho môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp (trọng tâm)

+ Bảo vệ rừng, trồng cây gây rừng đẻ cân bằng sinh thái, điều hoà khí hậu, …

+ Mỗi người cần có ý thức bảo vệ môi trường sống: không xả rác bừa bãi, không vứt xác động vật chết, rác thải vứt xuống sông, suối … làm ô nhiễm nguồn nước, …

+ Nhà nước cần xử lý nghiêm trọng hợp các khu công nghiệp thải nguồn nước ô nhiễm ra sông (như nhà máy Vedan làm ô nhiễm nghiêm trọng sông Thị Vãi), hồ, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, …

Trang 6

+ Là học sinh, nên có ý thức giữ gìn vệ sinh nơi trường học: tham gia trồng cây xanh; tuyên truyền cho mọi người thấy tầm quan trọng của việc làm cho môi trường sống của chúng ta ngày càng trong lành

Kết bài: Khẳng định việc làm cho môi trường sống ngày càng xanh, sạch, đẹp là góp

phần đem lại lợi ích chung cho cuộc sống của con người

III: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC (5 điểm)

1 Vội vàng (Xuân Diệu)

2 Tràng Giang (Huy Cận)

3 Chiều tối - Mộ (Hồ Chí Minh)

4 Từ ấy (TốHữu)

VỘI VÀNG (XUÂN DIỆU)

1 Các dạng đề thi : Phân tích một bài thơ cụ thể; một đoạn thơ, khổ thơ; một khía cạnh

của bài thơ v.v… (HS có thể tham khảo một số dạng đề dưới đây)

Đề 1: Một quan niệm mới về tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu trong đoạn thơ sau:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân…”(13 câu đầu)

Đề 2 : Phân tích hình ảnh thiên nhiên và cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau :

“ Tôi muốn tắt nắng đi

.

Tôi không chờ nứng hạ mới hoài xuân“.

Đề 3: Phân tích đoạn thơ cuối bài “Vội vàng” để thấy được triết lí sống táo bạo của

nhà thơ Xuân Diệu.

Đề 4: Phân tích đoạn thơ cuối của bài “Vội vàng” để thấy được quan niệm sống vội vàng

của nhà thơ Xuân Diệu

Đề

5 : Phân tích đoạn thơ:

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”

Đề 6: Tâm trạng nhân vật trữ tình được thể hiện qua bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Đề 7: Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu thể hiện qua bài thơ Vội vàng.

2 Những gợi ý phân tích:

Đề 1: Một quan niệm mới về tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu trong đoạn thơ sau:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân…”

I Yêu cầu về kĩ năng

- Nắm vững kĩ năng nghị luận một đoạn thơ, kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không

mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp…

Trang 7

II Yêu cầu về kiến thức: Hs có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm

bảo những ý chính sau:

1 MB

- Giới thiệu khái quát tác giả Xuân Diệu, hồn thơ Xuân Diệu trước cách mang tháng Tám và bài thơ Vội vàng

- Dẫn dắt yêu cầu của đề, trích đoạn thơ:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân…”

2 TB

Tình yêu cuộc sống thể hiện qua khát vọng phi lí:

- Xuân Diệu muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để vĩnh cửu hóa những hiện tượng mong manh “cho màu đừng nhạt mất”, “cho hương đừng bay đi”.

- Ngọn nguồn của những mơ ước phi thường ấy xuất phát chính từ tình yêu cuộc sống tha thiết, cháy bỏng của nhà thơ

- Nghệ thuật: Câu thơ ngũ ngôn, điệp từ, điệp cấu trúc, sử dụng động từ, tính từ

Tình yêu cuộc sống thể hiện qua bức tranh rực rỡ sắc màu:

- Xuân Diệu đã phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường trên mặt đất với bao

nguồn hạnh phúc kì thú: (đó là một thế giới rực rỡ sắc màu, rộn rã âm thanh của “tuần

tháng mật”, của “đồng nội xanh rì”, của “cành tơ phơ phất”, của “yến anh này đây khúc tình si”,…

Hình ảnh thiên nhiên và sự sống gợi lên vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ đầy tình

tứ qua cặp mắt “xanh non biếc rờn” của Xuân Diệu) ; và qua đó thể hiện một quan niệm

mới: trong thế giới này đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu Trong thế giới đầy xuân sắc và tình tứ của Xuân Diệu, chuẩn mực của cái đẹp không còn

là thiên nhiên thường thấy trong thơ ca truyền thống mà là con người giữa tuổi trẻ và tình yêu Con người là thước đo thầm mỹ của vũ trụ, vẻ đẹp con người trần thế là tác phầm kì

diệu nhất của tạo hóa Nên vẻ non tơ trong ngần của tháng giêng đã được ví như một

“cặp môi gần” quyến rũ, đầy mê đắm

- Biện pháp nghệ thuật lặp cấu trúc, điệp từ “này đây”, liệt kê, ẩn dụ, so sánh, câu thơ độc đáo “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”

Tình yêu cuộc sống còn được thể hiện ở chỗ Xuân Diệu luôn muốn níu giữ những phút giây của hiện tại Trong cảm quan của XD, mùa xuân cũng như tuổi trẻ con

người Đó là thời kì rực rỡ, xuân sắc và tràn đầy sức sống, mùa của hạnh phúc và tình yêu Thế nhưng mùa xuân của đất trời và tuổi xuân của con người đều ngắn ngủi,chóng vánh Vì vậy mỗi khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn Nên bên cạnh tiếng reo vui

đầu đoạn thơ là tiếng thở dài tiếc nuối đầy khắc khoải “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng

một nửa:

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Niềm ngất ngây trước cảnh sắc trần gian, rõ ràng XD mở lòng ra để yêu đời, yêu cuộc sống nhưng lại không khỏi băn khoăn trước cuộc đời, đó là cơ sở lí luận cho quan niêm sống vội vàng mà nhà thơ muốn bộc bạch với mọi người và cuộc đời

3 KB

Trang 8

Với sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí; qua cách nhìn, cách cảm mới

và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ, ngôn từ, nhịp điệu …đoạn thơ thể hiện một quan niệm mới mẻ của nhà thơ XD về tình yêu cuộc sống

Đề 2 : Phân tích hình ảnh thiên nhiên và cái tôi trữ tình trong đoạn thơ sau :

« Tôi muốn tắt nắng đi

Tôi không chờ nứng hạ mới hoài xuân »

1 Vài nét về tác giả, tác phẩm :

- Xuân Diệu là nhà thơ « mới nhất trong các nhà thơ mới », đã đem đến cho thơ ca đương thời một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật táo bạo

- Vội vàng là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước 1945 Bài thơ thể hiện tập trung sở trường của Xuân Diệu trong việc bộc lộ cái tôi và cách cảm nhận thiên nhiên, sự sống

2 Phân tích :

a.Hình ảnh thiên nhiên :

- Vẻ đẹp thiên nhiên :

+ Gần gũi, thân quen (nắng gió, hoa lá, ánh sáng, thanh âm )

+ Tươi đẹp, tràn dầy sức sống, niềm vui (đồng nội xanh rì,cành tơ phơ phất, thần Vui

gõ cửa )

+ Tình tứ, quyến rũ (ong bướm, tuần tháng mật, ngon như cặp môi gần )

- Thiên nhiên được diễn tả bằng những hình ảnh mới lạ ; ngôn từ gợi cảm, tinh tế với nhiều biện pháp tu từ đặc sắc (nhân hóa, so sánh ) ; cú pháp tân kì

b Cái tôi trữ tình

- Cái tôi trữ tình Xuân Diệu là cái tôi có ý thức cá nhân mạnh mẽ, đầy lòng ham sống : + Cách nhìn đời trẻ trung qua lăng kính của tình yêu Vẻ đẹp của con người được nhà thơ lấy làm chuẩn mực cho cái đẹp của tự nhiên

+ Tình cảm vừa thiết tha, rạo rực, đắm say (bộc lộ ham muốn khác thường ; cách giới thiệu say sưa, vồ vập ; cảm nhận thế giới chung quanh bằng mọi giác quan) vừa vội vàng, quyến luyến do cảm nhận được bước đi nhanh chóng của thời gian

- Cái tôi trữ tình được thể hiện bằng giọng điệu say mê ; nhịp điệu gấp gáp ; chuyển đổi thể thơ linh hoạt ; từ ngữ táo bạo

3 Đánh giá chung

- Thiên nhiên tràn đầy sức sống và xuân tình ; lối thể hiện rất hiện đại

- Cái tôi thiết tha gắn bó với trần thế và khát khao thụ hưởng những hương sắc trần gian ; biểu hiện của một quan niệm sống tích cực

Đề 4: phân tích đoạn thơ:

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngã chiều hôm”

Ta muốn ôm

- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”

1 MB

- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu và lòng yêu đời tha thiết…

Trang 9

- “Vội vàng”, mà đặc biệt là những câu cuối bài thể hiện rõ quan niệm sống vội vàng của

nhà thơ:

“Ta muốn ôm

- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”

2 TB

- Đang chìm đắm trong đau buồn, tuyệt vọng nhà thơ chợt nhận ra thời gian của tuổi

xuân vẫn còn nên lên tiếng giục giã: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngã chiều hôm”

- Tác giả vội vàng, gấp gáp muốn tận hưởng tất cả cuộc sống, tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc

+ Hình ảnh phong phú tượng trưng cho thanh sắc của thời gian: sự sống mơn mỡn, mây

đưa gió lượn, cánh bướm tình yêu, mùi thơm ánh sáng…

+ Tình yêu nống nàn, khoẻ khoắn cao độ được biểu hiện bằng sự thay đổi cách xưng

hô :

từ « tôi » chuyển thành « ta » ; động từ tăng tiến liên tiếp: ôm, riết, say, thâu, cắn ; nhiều tính từ: chuếch choáng, no nê, đã đầy…; nhịp thơ dồn dập, ngắt nhịp linh hoạt, từ ngữ,

hình ảnh táo bạo…

+ Nhà thơ cảm nhận niềm hạnh phúc bằng tất cả các giác quan, trạng thái say mê, ngây ngất

=>Càng ý thức được sự phai tàn, XD càng cuống quýt, vội vàng, gấp gáp, để tận hiến, tận hưởng tất cả cuộc sống, tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc Nó bộc lộ niềm ham sống, khát sống, tận hưởng đến vô biên, tuyệt đích của thi nhân

Quan niệm sống của nhà thơ : vội vàng là chạy đua với thời gian, sống mạnh mẽ, đủ đầy

với từng phút giây của sự sống – “Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn; Sống toàn thân và

thức nhọn giác quan” và thể hiện sự mãnh liệt của cái tôi đầy ham muốn

Nhận thức về bi kịch của sự sống đã dẫn đến một ứng xử rất tích cực trước cuộc đời Đây cũng là lời đáp trọn vẹn cho câu hỏi: Vội vàng là gi? Và đề xuất một lối sống mới

mẻ, tích cực; bộc lộ quan niệm nhân sinh mới chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống.

- Liên hệ quan niệm sống của con người hiện nay, đặc biệt là tuổi trẻ; rút ra quan niệm sống đúng đắn cho mình

3 KB

- Khẳng định đoạn thơ thể hiện quan niệm sống vội vàng tích cực của tâm hồn yêu đời,

ham sống đến cuồng nhiệt của Xuân Diệu.

TRÀNG GIANG – HUY CẬN

Đề 1 : Thơ Huy cận luôn thấm đẫm một nỗi buồn Hãy phân tích thi phẩm “Tràng

giang” để thấy rõ điều đó

I MB

- Huy Cận là nhà thơ lớn, một trong những đại biểu xuất sắc của phong trào Thơ mới với

hồn thơ ảo não.

- Tràng giang được xếp vào hàng tuyệt tác của Huy Cận, một giọng điệu thơ đặc sắc đã

chạm tới cõi vô cùng “cái mạch sầu vạn kỷ”.

II TB

Nhan đề và lời đề từ của bài thơ mang ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc:

Trang 10

+ Tràng giang là từ Hán Việt, nghĩa là sông dài Với hai âm Hán và cách điệp vầ ang,

tràng giang gợi sắc thái trang trọng cổ kính, góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm hùng

và âm hưởng mênh mang về hình ảnh một con sông vừa rất xa, rất dài, vừa rất rộng Dòng sông được mở rộng đến khôn cùng gợi liên tưởng sâu xa Không còn là một con sông Hồng cụ thể nữa mà một con sông chảy về tử lịch sử, dòng sông chảy trong không gian, dòng sông của tâm trạng

+ Lời đề từ: “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” thể hiện cảm quan vũ trụ của người

nghệ sĩ Thâu tóm cái thần bài thơ về một nỗi niềm càm nhận sâu xa của cái tôi cô đơn trước cái vô cùng trời đất Mở đầu cho cảm giác không gian, cảm giác nổi trội thường trực trong thơ Huy Cận Cảm giác rợn ngợp ấy là nguồn gốc của nỗi cô đơn Tác phẩm là một khối trời buồn, gửi gắm những tâm sự sâu kín của con người Huy Cận

+ Hình ảnh mang đậm màu sắc cổ điển: con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh trôi dạt trên dòng

sông lớn, mênh mông gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa

+ Hình ảnh đời thường mang nét hiện đại: một cành củi khô trôi nổi gợi cảm nhận về thân

phận của những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời

=> Mượn hình ảnh ấn dụ để gửi gắm nỗi cô đơn, thể hiện cái tôi bơ vơ, lạc lõng, kiếp người trôi nổi, vô định.Cảnh không thấy hòa hợp gắn bó mà chia lìa, cách xa.

+ Bức tranh thiên nhiên tràng giang được hoàn chỉnh thêm với những chi tiết mới: cồn

nhỏ, gió đìu hiu, cây cối lơ thơ, chợ chiều đã vãn, làng xa, trời sâu chót vót, bến cô liêu,

…tất cả dựng lên một không gian ba chiều vừa cao vừa rộng vừa sâu thẳm Trước cái vô biên, vô cùng, con người càng trở nên bé nhỏ, rợn ngợp, cô đơn

+ Cảnh vật được đẩy ra xa hơn nhưng vẫn không sống động hơn, mà càng chìm sâu vào tĩnh lặng, cô đơn, hiu quạnh Cảnh vật thưa thớt, quạnh hiu, hoang tàn gợi cảm giác hụt hẫng, mất mát

=> Nhịp thơ dàn trải kết hợp hình ảnh ẩn dụ, khổ thơ là bức tranh đẹp nhưng buồn Nỗi buồn thấm sâu, lan tỏa rộng trong không gian.

+ Khổ thơ tiếp tục hoàn thiện bức tranh tràng giang với hình ảnh những lớp bèo nối

nhau trôi dạt trên sông và những bờ xanh tiếp bãi vàng lặng lẽ Cảnh mênh mông buồn

vắng càng được nhấn mạnh hơn bằng hai lần phủ định không một chuyến đò, không cầu

Cảnh có thêm màu sắc nhưng chỉ càng buồn hơn, chia lìa hơn

+ Khổ thơ là niềm cô đơn, lạc lõng của con người trước đất trời bao la, qua đó nói lên khát vọng được giao hoà với sự sống, con người

=> Tìm về cuộc sống con người nhưng cũng thất vọng Nỗi buồn không còn là nỗi buồn mênh mông trước trời rộng sông dài mà là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời

+ Hai câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh kì vĩ, nên thơ Cảnh gợi lên bởi bút pháp nghệ

thuật cổ điển với hình ảnh mây trắng, cánh chim chiều, đồng thời mang dấu ấn tâm trạng

của tác giả

Ngày đăng: 14/09/2021, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w