1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề cương ôn tập QLNN về giáo dục

77 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 271,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG MÔN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA Y TẾ GIÁO DỤC NỘI DUNG GIÁO DỤC Câu 1: Giáo dục đào tạo có tác dụng như thế nào đối với sự phát triển? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục việt nam hiện nay. Phân tích và liên hệ thực tiễn. 2 Câu 2: Hệ thống giáo dục việt nam gồm những cấp học và trình độ đào tạo nào 5 Câu 3:. Thực trạng QLNN đối với GD phổ thông hiện nay như thế nào, bất cập gì và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay? 7

Trang 1

MỤC LỤC

Câu 1: Giáo dục đào tạo có tác dụng như thế nào đối với sự phát triển? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến

sự phát triển giáo dục việt nam hiện nay Phân tích và liên hệ thực tiễn 2 Câu 2: Hệ thống giáo dục việt nam gồm những cấp học và trình độ đào tạo nào 5 Câu 3: Thực trạng QLNN đối với GD phổ thông hiện nay như thế nào, bất cập gì và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay? 7 Câu 4: GDĐH có vai trò gì? Phân tích thực trạng phát triển GDĐH VN và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐH? 19 Câu 5 Cơ hội và thách thức đối với GDĐH VN trong bối cảnh CMCN 4.0? Nhà nước cần có giải pháp gì

để phát triển GDĐH đáp ứng yêu cầu bối cảnh đó? 34 Câu 6 XHHGD là gì? XHHGD nhằm mục đích gì? Phân tích và liên hệ thực tiễn về thực trạng thực hiện XHHGD ở VN Đề xuất các giải pháp tăng cường XHHGD 43 Câu 7 đổi mới căn bản toàn diện giáo dục – đào tạo ở việt nam là đổi mới những gì? Tại sao phải đổi mới căn bản giáo dục đào tao ở việt nam? 45 Câu 8: Phân tích các quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện GD ĐT việt nam? Liên hệ thực tiễn 55 Câu 9: Phân tích các nội dung QLNN về Giáo dục Nhà nước cần phải có những giải pháp gì để huy động

và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực giáo viên, giảng viên hiện nay ở việt nam 71

Trang 2

Đề cương ôn tập QLNN về giáo dục

Câu 1: Giáo dục đào tạo có tác dụng như thế nào đối với sự phát triển? Những yếu

tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục việt nam hiện nay Phân tích và liên hệthực tiễn

 Tác dụng của GDĐT với sự phát triển:

- Giáo dục là công cụ để phát triển chất lượng nguồn nhân lực( trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức….)

Việc thực hiện những mục tiêu cải cách giáo dục đã thực sự đem lại những chuyển biến về trình độc học vấn trong cộng đồng người dân, đây là một yếu tố thuận lợi mang tính nội sinh trong việc đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nghề cũng như giải quyết việc làm cho người dân

Giáo dục đào tạo lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, có

ý thức vươn lên về khoa học, công nghệ, xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà kinh doanh quản lý nhằm phát huy mọi tiềm năng của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước

*Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển xã hội, muốn phát triển xã hội phải chăm lo nhân tố con người về thể chất và tinh thần, nhất là về học

Trang 3

vấn, nhận thức về thế giới xung quanh để họ có thể góp phần xây dựng và cải tạo

xã hội Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” bởi không có tri thức, hiểu biết về xã hội, tự nhiên và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực trước những thế lực và sức mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình

- Nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nguồn nhân tàiChúng ta thấy khi người dân đạt được một trình độ học vấn nhất định họ sẽ có khả năng tiếp thu thông tin cũng như khả năng phát huy chuyên môn của mình một cách tốt nhất Vì vậy, những người có trình độ học vấn càng cao thì cơ hội họ tìm được một công việc tốt và thích hợp sẽ dễ dàng hơn so với những người khác.Giáo dục góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc Ngày nay, giáo dục vàđào tạo còn góp phần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tri thức là sản phẩm của giáo dục và đào tạo, đồng thời là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội Sở hữu tri thức trở thành sở hữu quan trọng nhất được các nước thừa nhận và bảo hộ Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc từ tài nguyên, sức lao động cơ bắp là chính chuyển sang nguồn lực con người có tri thức là cơ bản nhất

- Nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn lực của quốc gia

Giáo dục nâng cao năng suất lao động của cá nhân thông qua tích lũy kiến thức, kỹnăng, thái độ lao động

Người dân là nhân tố sang tạo ra kỹ thuật công nghệ và trực tiếp sử dụng chúng vào quá trình phát triển kinh tế Do đó ta có thể nhận thấy việc nâng cao trình độ học vấn và trang bị kiến thức chuyên môn cho người dân sẽ làm tăng năng suất và hiệu quả cao

Giáo dục và đào tạo góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc bởigiáo dục - đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao làm giàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hội nhập quốc

tế và toàn cầu

- Định hướng và tổ chức dẫn dắt quá trình hình thành, phát triển nhân cách của mỗi cá nhân

Trang 4

Giáo dục gắn liền với học hành, những điều học sinh học trong nhà trường sẽ gắn với nghề nghiệp và cuộc sống trong tương lai của họ

Giáo dục - đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Việt Nam đang tiến hành phổ cập giáo dục trung học

cơ sở, trình độ lao động phổ thông còn thấp, ít được đào tạo nghề, vẫn còn khoảng gần 60% lao động nông nghiệp, nên hiện mới bước đầu xây dựng kinh

tế tri thức Giáo dục - đào tạo nhằm phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu”rút ngắn thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam khẳng định giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, làđiều kiện phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp tổ chức UNESCO cũng đã khuyến khích các nước phải chi tiêu ít nhất 6% GDP cho giáo dục

Nhận thức rõ vai trò của giáo dục - đào tạo đối với sự phát triển, Đảng và Nhà nước ta khẳng đinh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Việc đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay đang là mối quan tâm của các cấp, ngành, các nhà khoa học và toàn xã hội Chọn khoa học và giáo dục làm khâu đột phá cho phát triển Chọn giáo dục làm tiền đề, làm xương sống của phát triển bền vững là xácđịnh đúng đắn và khoa học

 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đào tạo hiện nay

* Môi trường kinh tế - xã hội: Đó là nền kinh tế, chính trị - xã hội, lao động việc làm, văn hóa, tâm lý xã hội và phong tục tập quán Bởi người học

thường chú ý tới cuộc sống xã hội để điều chỉnh cách học của mình như khả năng tìm được việc làm tốt, dễ dàng, nhu cầu học tập hay văn hóa cộng đồng

ra sao

* Chính sách và công cụ hỗ trợ giáo dục: Trong đó, ngân sách và chính sách

là những yếu tố quan trọng trong giáo dục

* Tài chính và cơ sở vật chất – thiết bị cho giáo dục: Chất lượng giáo dục được quyết định quan trọng bởi những yếu tố này Trong đó, mặt tài chính rất quan trọng để giúp giáo dục phát triển

* Giáo viên và người học: Người dạy, người hướng dẫn phải giỏi mới có sinh viên tốt Có thể nói, giáo dục đạt được kết quả tốt khi có sự tham gia

Trang 5

của người dạy – người học một cách tích cực Họ là những nhân tố đóng vai trò động lực bên trong giúp giáo dục phát triển.

 Liên hệ thực tiễn

Câu 2: Hệ thống giáo dục việt nam gồm những cấp học và trình độ đào tạo nào

Theo Quyết định số 1981/QĐ-TTg phê duyệt "Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân", "Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân" gồm giáo dục chính quy vàgiáo dục thường xuyên

Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Giáo dục mầm non gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo;

Giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông;

Giáo dục nghề nghiệp đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng;

Giáo dục đại học đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ

Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân là cơ sở để thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo

Quyết định nêu rõ tiêu chuẩn đầu vào, thời gian học tập và cơ hội học tập tiếp theo của các cấp học và trình độ đào tạo

Giáo dục mầm non: Gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo Giáo dục nhà trẻ được thực hiện đối với trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi; giáo dục mẫu giáo được thực hiện đối với trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi

Giáo dục phổ thông: Gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (giai đoạn giáo dục cơ bản) và giáo dục trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp)

Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến hết lớp 5 Học sinhsau khi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học sẽ học tiếp lên trung học cơ sở Giáo dục trung học cơ sở tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học

Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến hết lớp 9 Học sinh sau khi hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở có thể học tiếp

Trang 6

lên trung học phổ thông hoặc theo học các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và trung cấp.

Giáo dục trung học phổ thông tiếp nhận học sinh đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở Trong thời gian học trung học phổ thông, học sinh có thể chuyển sang học chương trình đào tạo trình độ trung cấp nếu có nguyện vọng và đáp ứng được yêu cầu của chương trình

Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đến hết lớp 12 Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể học lên đại học hoặc theo học các chương trình giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp: Gồm các chương trình đào tạo trình độ trung cấp tiếp nhận người tốt nghiệp tối thiểu trung học cơ sở; các chương trình đào tạo trình độ cao đẳng tiếp nhận người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tốt nghiệp trình độ trungcấp; cùng với đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng, đào tạo trình độ sơ cấp nhằm giúp người học có kỹ năng thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề

Giáo dục đại học: Giáo dục trình độ đại học và giáo dục trình độ thạc sĩ có 2 định hướng: nghiên cứu và ứng dụng; giáo dục trình độ tiến sĩ theo định hướng nghiên cứu

Các chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu có mục tiêu và nội dung theo hướng chuyên sâu về nguyên lý, lý thuyết cơ bản trong các lĩnh vực khoa học, pháttriển các công nghệ nguồn làm nền tảng để phát triển các lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ

Các chương trình đào tạo định hướng ứng dụng có mục tiêu và nội dung theo hướng phát triển kết quả nghiên cứu cơ bản, ứng dụng các công nghệ nguồn thành các giải pháp công nghệ, quy trình quản lý, thiết kế các công cụ hoàn chỉnh phục

vụ nhu cầu đa dạng của con người

Các chương trình đào tạo phải bảo đảm khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp theo quy định của Bộ Giáo dục

và Đào tạo

Các chương trình đào tạo trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục

Trang 7

và Đào tạo (chương trình đào tạo đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung); người đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng.

Các chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ tiếp nhận người tốt nghiệp trình độ đại học Thời gian đào tạo trình độ thạc sĩ tương đương 1 đến 2 năm học tập trung tùy theo yêu cầu của ngành đào tạo

Người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ có thể học tiếp lên tiến sĩ trong hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện của chương trình đào tạo

Các chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ tiếp nhận người tốt nghiệp trình độ thạc sĩhoặc người tốt nghiệp trình độ đại học nếu đáp ứng được các yêu cầu của chương trình đào tạo

Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ tương đương 3 đến 4 năm học tập trung tùy theo yêu cầu của ngành đào tạo và trình độ đầu vào của người học

Hình thức giáo dục thường xuyên nhằm tạo điều kiện cho mọi người, ở các lứa tuổi

và trình độ khác nhau có thể học tập, nâng cao kiến thức, phát triển năng lực

chuyên môn, tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi ngành, nghề phù hợp với hoàn cảnh

cụ thể của từng người, góp phần nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, xây dựng xã hội học tập

Người học có thể chuyển đổi từ giáo dục thường xuyên sang các phương thức khácnếu có nhu cầu, có đủ năng lực và đáp ứng yêu cầu của chương trình

Câu 3: Thực trạng QLNN đối với GD phổ thông hiện nay như thế nào, bất cập gì

và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông hiện nay?

Trả lời

a Thực trạng:

Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách và ưu tiên đầu tư cho giáo dục Bên cạnh đầu tư ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục luôn ở mức xấp xỉ 20%/tổng chi NSNN, tương đương 5% của GDP, Nhà nước còn có nhiều chính sách hỗ trợ khác cho giáo dục, đào tạo Vì vậy, trong hơn 70 năm qua, đặc biệt là sau hơn 30 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã có nhiều thay đổi, đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước Đó là:

Thứ nhất, quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông phát triển Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; hoàn thành phổ cập

Trang 8

giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I vào năm 2014; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 Năm 2017, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Trẻ mầm non 5 tuổi ở vùng có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn được miễn học phí từ năm 2018

Thứ hai, chất lượng giáo dục, đào tạo được nâng lên và có bước phát triển mới Một trong những minh chứng cho điều này là việc ghi dấu ấn của học sinh Việt Nam trên sân chơi trí tuệ thế giới như các kỳ thi Olympic các môn ở khu vực và quốc tế, Chương trình Đánh giá Sinh viên Quốc tế (PISA)

Năm 2012, Việt Nam lần đầu tiên tham gia cuộc thi PISA và xếp thứ 17 về Toán, thứ 8 về Khoa học, thứ 19 về Đọc Trong khi đó, Mỹ chỉ xếp 36 về Toán, 28 về Khoa học và 23 về Đọc Trong bảng xếp hạng dựa trên Toán và Khoa học do

OECD công bố hồi tháng 5/2015, Việt Nam giành vị trí thứ 12, cao hơn nhiều so với vị trí 28 của Mỹ

Việt Nam cũng đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh giỏi tham gia các kỳ thi Học sinh giỏi quốc tế, mang về nhiều huy chương cho đất nước Hệ thống trường chuyên từ chỗ chỉ có 6 trường thì đến nay đã có ở tất cả 63 tỉnh, thành

Thứ ba, công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học được chú trọng Tính đến ngày 15/4/2018, đã có 248 cơ sở giáo dục đại học và trường cao đẳng, trung cấp sưphạm hoàn thành báo cáo tự đánh giá Đáng chú ý, bốn trường đại học đã được hội đồng cấp cao đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học của Pháp (HCERES) công nhận đạt chuẩn kiểm định trường đại học Hai trường được đánh giá theo tiêu chuẩn của mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á Năm trường có têntrong danh sách những trường tốp đầu của châu Á, ba trường được gắn 3 sao bởi QS-Stars

Thứ tư, nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn được thực hiện Trước hết là ưu tiên đầu tư cho các địa bàn có nhiều khó khăn, phát hành công trái giáo dục để hỗ trợ cho các tỉnh miền núi, vùng khó khăn xây dựng trường học kiên cố, đạt chuẩn chất lượng

và thực hiện xóa đói giảm nghèo, thông qua đó tạo nhiều cơ hội cho trẻ tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ giáo dục Đồng thời, có những thay đổi trong chính sách đãi ngộ đối với giáo viên giúp tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của bậc phổ thông

Thứ năm, cơ sở hạ tầng cho giáo dục được đầu tư thích đáng Các trường lớp của Việt Nam đã và đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn về hạ tầng cơ sở đảm bảo cho việc dạy và học có chất lượng tương đương với các nước khác trong

Trang 9

khu vực Hiện tại, cả nước đã có gần 500 trường mầm non, gần 3.200 trường tiểu học, trên 400 trường trung học cơ sở và phổ thông trung học đạt trường chuẩn quốcgia

Thứ sáu, công tác xây dựng xã hội học tập đã có nhiều chuyển biến tích cực Mạnglưới cơ sở giáo dục thường xuyên tiếp tục được củng cố, phát triển Các nghiên cứuquốc tế cũng đánh giá cao thành tựu của giáo dục Việt Nam Theo Ngân hàng Thế giới (NHTG) thì Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia tiên phong trong đổi mớigiáo dục và nêu rõ rằng sự phát triển thực sự ấn tượng thuộc về hệ thống giáo dục của Việt Nam và Trung Quốc Nghiên cứu của tác giả Hai-Anh H Dang và Paul W.Glewwe về giáo dục Việt Nam trong 20 năm qua cho thấy rằng mặc dù vẫn đang còn ở mức độ thu nhập trung bình thấp nhưng Việt Nam đã vượt trội so với phần lớn các nước trong các cuộc thi đánh giá, tỷ lệ học sinh đến trường cũng như số lượng năm học được hoàn thành

b Thách thức:

Tuy nhiên, trong những năm qua, giáo dục Việt Nam vẫn chỉ chủ yếu tập trung cải cách bậc phổ thông, thiếu giải pháp đồng bộ Những hạn chế, yếu kém của giáo dục vẫn còn nhiều Cụ thể:

Một là, công tác quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường, lớp học ở một số địa

phương còn chưa phù hợp, chưa quan tâm đến yếu tố đảm bảo chất lượng khi dồn dịch các trường Thiếu trường, lớp ở các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, đặc biệt là các trường mầm non

Hai là, tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải quyết triệt để Năng lực nghề nghiệp của một bộ phận giáo viên còn yếu, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới; năng lực quản trị của một bộ phận cán bộ quản lý trường học còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới

Ba là, cơ sở vật chất, trường lớp học, trang thiết bị dạy học nhiều nơi còn thiếu hoặc bị xuống cấp; công tác xã hội hóa giáo dục chưa thực sự hiệu quả Nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất còn hạn hẹp; công tác xã hội hóa giáo dục chưa thực sự hiệu quả Như tác giả Đinh Thị Nga đã phân tích rằng tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5% GDP, cao hơn với nhiều nước trong khu vực Để giảm bớt áp lực chi tiêu từ ngân sách nhà nước, huy động được các nguồn lực phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, Nhà nước cần đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực giáo dục, đào tạo, đặc biệt trong đào tạo đại học thuộc các ngành kỹ thuật - công nghệ và dạy nghề

Trang 10

Bốn là, trách nhiệm giải trình còn thấp Việc thực hiện tự chủ đại học chưa gắn liềnvới đổi mới quản trị nhà trường, số lượng cơ sở đào tạo được tự chủ toàn diện chưacao; tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm còn nhiều Phương thức dạy nghề trong các trường phổ thông vẫn còn nặng về kiến thức lý thuyết, việc phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa hiệu quả

Năm là, sự lựa chọn về các trường học khá hạn chế, tỷ lệ học sinh đến trường ở cấptrung học cơ sở còn thấp, đào tạo chưa gắn kết với thị trường lao động và sự cần thiết phải cải cách giáo dục một cách hệ thống và bài bản Việc tiếp cận công nghệ,

mô hình giáo dục nước ngoài, các chương trình học bổng nói chung ở các địa phương vùng sâu, vùng xa còn rất ít Các điều kiện đảm bảo chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Sáu là, thiết kế, cấu trúc của chương trình giảng dạy, cách đánh giá cũng như phương pháp dạy và học cần phải đổi mới nhằm đảm bảo chất lượng của sinh viên khi ra trường Cấu trúc và nội dung, thời lượng các môn học cần phải điều chỉnh cho hợp lý, cân đối và hấp dẫn

Tác giả Quách Đình Liên đã chỉ ra các hạn chế là: Chương trình học ở phổ thông quá nặng, mang nhiều tính lý thuyết sách vở, không phù hợp với tâm sinh lý, khả năng tiếp thu của người học đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở cùng với chế độ thi cử nặng nề; bệnh thành tích và cách quản lý theo kiểu cầm tay chỉ việc Do đó giáo dục của chúng ta đang tạo ra những sản phẩm là học sinh với thói quen học vẹt, thụ động, đối phó, vô cảm, thiếu sáng tạo, khả năng xử lý vấn đề và tình huống trong cuộc sống kém Đây chính là nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động kém của người Việt so với khu vực

Bảy là, đổi mới giáo dục phổ thông chưa đảm bảo lộ trình Việc thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục ở một số địa phương còn chưa nghiêm túc; chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi còn thấp so với yêu cầu

Tám là, công tác phát hiện và xử lý vi phạm còn chậm và chưa nghiêm Việc ban hành văn bản còn chậm, chưa đồng bộ; công tác xử lý vi phạm sau thanh tra ở một

số địa phương chưa nghiêm Công tác truyền thông chưa thực sự chủ động, việc xử

lý thông tin có lúc chưa kịp thời

Chín là, số lượng sinh viên du học tăng lên đáng kể trong giai đoạn 2011 - 2016 Thống kê của Bộ Giáo dục và Ðào tạo ghi nhận con số sinh viên du học đạt

Trang 11

130.000 sinh viên vào năm 2016 Đây là một tín hiệu rất rõ về sự không hấp dẫn của giáo dục đại học trong nước.

c Giải pháp: Nghị quyết số 29, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo

Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo làquốc sách hàng đầu Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục

và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường

và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình

Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục

Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên Bảo đảm các trường học có chi bộ; các trường đại học có đảng bộ Cấp ủy trong các cơ sở giáo dục-đào tạo phải thực sự điđầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân

về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường

Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực,

dự báo nhu cầu về số lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiệntượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai mụctiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên

Trang 12

ngành đào tạo Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ

sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo.Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài

Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mớitri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học

Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách

Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn Biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượng học, chú ý đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật

Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học

Trang 13

Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệtiên tiến của thế giới.

- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan

Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêuchí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội

Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giáđúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên

cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vào việc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo

Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng kết hợp sử dụng kếtquả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành đào tạo Đánh giá kết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học

Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn

cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo

Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nước ngoài Xây dựng phương thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng

Trang 14

Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng về bằng cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Coi sự chấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo.

- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tậpsuốt đời và xây dựng xã hội học tập

Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới

Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quyhoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Thống nhất tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học Thực hiện phân tầng

cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng, thực hành Hoàn thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng; củng cố và phát triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới

Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư

Đa dạng hóa các phương thức đào tạo Thực hiện đào tạo theo tín chỉ Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học

- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng

Trang 15

Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương Phân địnhcông tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ

sở giáo dục, đào tạo

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học-công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo

Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp

Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình đào tạo; chú trọng quản lý chất lượng đầu ra Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, đào tạo

Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục, đào tạo Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước

Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước

Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường

và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảođảm dân chủ, công khai, minh bạch

- Thứ 6: Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng

và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có

Trang 16

năng lực sư phạm Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý.

Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một số

trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắc phục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành

sư phạm

Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng

và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp

Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác Có chế độ ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình độ cao; có cơ chế miễn nhiệm,

bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng

Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước

Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, nhất

là các trường đại học với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu

- Thứ 7: Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sáchnhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Từng bước bảo đảm đủ kinh phí

Trang 17

hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập Hoàn thiện chính sách học phí.

Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị

Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm, trường đại học sư phạm Thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình

cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề

và trình độ đào tạo Minh bạch hóa các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công ; bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích luỹ tái đầu tư.Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng Tiếntới bình đẳng về quyền được nhận hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trườngcông lập và trường ngoài công lập Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay để học Khuyến khích hình thành các quỹ học bổng, khuyến học, khuyến tài, giúp học sinh, sinh viên nghèo học giỏi.Tôn vinh, khen thưởng xứng đáng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo Thực hiện định

kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục-đào tạo

Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để cómặt bằng xây dựng trường Từng bước hiện đại h óa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin Bảo đảm đến năm 2020 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học

Trang 18

Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang Giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí.

- Thứ 8: Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý

Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục.Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh Ưu tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn, phòng thí nghiệm trọngđiểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành, trung tâm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm hiện đại trong một số cơ sở giáo dục đại học Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học

Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở đào tạo Hoàn thiện cơ chế đặt hàng và giao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập

Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc

tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầuthế giới

- Thứ 9: Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo

Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo

Trang 19

Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo.

Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam

ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế

Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên ViệtNam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Câu 4: GDĐH có vai trò gì? Phân tích thực trạng phát triển GDĐH VN và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDĐH?

Trả lờiGiáo dục đại học:

Trong một xã hội đầy ắp những khác biệt, với nhiều hệ tư tưởng và ý kiến đa dạng,cụm từ “giáo dục đại học” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Sự đa dạng về quan điểm là khó tránh khỏi, và nhiều người cho rằng đó là điều cần thiết Tuy nhiên, mục đích của chúng ta là thảo luận và tìm hiểu về chất lượng trong giáo dục đại học, nên chúng ta cần tự hỏi: trong từ “đại học” (higher education) thì cái được xem là “đại” (higher) nằm ở chỗ nào? Bạn, với tư cách là một nhà giáo, một trong những bên hữu quan trong giáo dục đại học, sẽ cho rằng từ “đại” ở đây không chỉ đơn thuần có nghĩa là là một cấp học cao hơn trong cấu trúc giáo dục của một quốcgia Ý nghĩa của nó rộng hơn thế Xét về cấp bậc, giáo đục đại học bao gồm việc giảng dạy và học tập ở cao đẳng và đại học nhằm giúp sinh viên đạt được một tấm bằng của bậc đại học Giáo dục đại học truyền cho người học những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – các lĩnh vực chuyên sâu Có thể nói vắn tắt rằng đại học là “sự hiểu biết ngày càng nhiều hơn về một lĩnh vực ngày càng hẹp hơn” Sinh viên được phát triển khả năng tự đặt ra những câu hỏi và tìm kiếm sự

Trang 20

thật; khả năng phân tích và phản biện về những vấn đề đương đại Đại học không chỉ mở rộng năng lực trí tuệ của từng cá nhân trong lĩnh vực chuyên môn của họ,

mà còn giúp họ mở rộng tầm nhìn và hiểu biết đối với thế giới xung quanh Theo Ronald Barnett (1992), có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học:

Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Nhưvậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp

Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng

Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Rất nhiềungười cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục Do vậy, các

cơ sở giáo dục đại học thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa học của sinh viên

Giáo dục đại học là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt

Điều thú vị ở đây là tính liên hoàn giữa bốn khái niệm này của giáo dục đại học; chúng liên quan và tích hợp với nhau để tạo ra bức tranh toàn cảnh về tính chất riêng biệt của giáo dục đại học (higher education) khiến cho nó xứng đáng được gọi là “đại” (học) Khi nhìn vào hoạt động của các trường đại học và cao đẳng, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra ba chức năng cơ bản cấu thành giáo dục đại học, đó là giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng

a Vai trò của giáo dục đại học:

Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người học

Trang 21

được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Nhưvậy, giáo dục đại học trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp Mặt khác, giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu Theo cách nhìn này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng Từ đó, giáo dục đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết

để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu Mộtquốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnhvực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học đẳng cấp quốc tế Giáo dục đại học còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội

Giáo dục đại học nói chung thường được hiểu là bao gồm giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng Thực ra, khi phân tích kỹ những quan điểm khác nhau về giáo dục đại học, chúng ta có thể kể ra nhiều vai trò khác nhau của giáo dục đại học trong xã hội Giáo dục đại học đóng vai trò là “hệ thống nuôi dưỡng” (feeder system) của mọi lĩnh vực trong đời sống, là nguồn cung cấp nhân lực tối cần thiết để phục vụ các công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy và nghiên cứu Một quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh

tế thì nhất thiết phải có cả hai yếu tố: một hệ thống giáo dục đại học và một lực lượng lao động Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta[2] chính là nhờ có một hạ tầng giáo dục đại học đẳng cấp quốc tế Giáo dục đại học còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội Ủy ban Kothari (1996) liệt kê những vai trò sau đây của các trường đại học (các cơ sở giáodục đại học trong xã hội hiện đại):

- Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiếnthức và niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới và khám phá mới;

Trang 22

- Nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát hiệnnhững con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, cácthái độ, các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn.

- Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng

- Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục; và

- Nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trịcần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này ra cho cả cộng đồng (GOI, 1966, p 497-8)

b Thực trạng giáo dục đại học Việt Nam:

Trong thời đại của kinh tế tri thức, bất kỳ một quốc gia nào, để có thể đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế

và các chính sách xã hội Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế – xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại.(1)

Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu tố bất cập, chất lượng giáo dục đại học còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừathiếu, vừa yếu,… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính

là những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của giáo dục đại học Theo Báo cáo mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Số: 760 /BC-BGDĐT) ngày 29 tháng

10 năm 2009, năm 1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), nhưng đến tháng 9 năm 2009

đã có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và 226 trường cao đẳng chiếm 60%, gấp 6 lần) Việc mở rộng quy

mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập Với 101 trường đại học và cao đẳng năm 1987 chúng ta chưa có trường ngoài công lập, đến

Trang 23

năm 1997 cả nước đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 9 năm

2009 có 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 21,5% (44 trường đại học và 37 trường cao đẳng) Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường đại học (đạt tỷ lệ 63%); có 60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường cao đẳng hoặc đại học (đạt tỷ lệ 98%, trừ tỉnh Đắk Nông chưa có trường đại học, cao đẳng nào) Và, 35/63 tỉnh có thêm trường đại học mới, trong đó: 23 tỉnh có thêm 1 trường; 10 tỉnh có thêm 2 – 3 trường; riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thêm 18 trường đại học và Hà Nội (mở rộng) có thêm 23 trường, chiếm tỷ lệ 43% số trường đại học thành lập mới và nâng cấp

Từ quy mô như trên chúng ta có thể khẳng định, công tác xã hội hoá giáo dục ngàycàng được đẩy mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được huy động ngày càng nhiều Sự phân bố các cơ sở giáo dục đại học đã dần rộng khắp trên phạm vi cả nước Điều này là hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lựctại chỗ có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và cả nước Tuy nhiên, sự phát triển như trên đang chứa đựng nhiều bất ổn:

Thứ nhất, sự phân bố như thế sẽ khó để có điều kiện xây dựng một trường đại học đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế Hiện nay, ở nước ta các đại học lớn vẫn chưa được đứng trong bảng xếp hạng 200 trường đại học tốp đầu châu Á, trong khi nhiều trường đại học của các nước láng giềng như Philippin, Inđônêsia đã có mặt Đặc biệt, Trường Đại học Chulalongkorn của Thái Lan còn được xếp trong danh sách 200 đại học hàng đầu thế giới Chính điều này đặt ra những câu hỏi lớn cho chiến lược giáo dục đại học Việt Nam hiện nay Sự tụt hậu của chúng ta trong lĩnh vực này là một thực tế đáng buồn Song, không phải vì thế mà chúng ta nôn nóng đặt ra những mục tiêu không tưởng Trên thực tế, để đạt đến đỉnh cao trong học thuật cần có một quá trình lâu dài Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: vì lợi ích trăm năm phải trồng người Nên chăng, chúng ta phải đặt ra mục tiêu trong tương lai gần là xây dựng được mô hình đại học nghiên cứu với yêu cầu cao về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, cùng với nó là đội ngũ giảng viên phải đạt chuẩn Theo Giáo sư Hoàng Tụy, trên Tuổi trẻ Online (ngày 25/10/2007): “…

Có lẽ chỉ 15 – 20% số tiến sĩ có trình độ thật sự tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế Tương tự, cũng chỉ 15 – 20% số giáo sư, phó giáo sư có trình độ thật sự tương xứng Còn lại không chỉ thấp, mà có đến hơn một phần ba thấp đến tệ hại, nhiều người không đứng nổi trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông phó giáo sưcủa ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra trường của họ”

Trang 24

Thứ hai, sự phân bố chưa hợp lý đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao Hiện nay, trong số 25 – 30% giáo sư và phó giáo sư trên tổng số đang trực tiếp giảng dạy tại các trường đại học và cao đẳng, thì tập trung chủ yếu vẫn ở một số trường đại học lớn tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong tổng số 376

trường đại học và cao đẳng của cả nước, có rất nhiều trường đại học chưa có giáo

sư, thậm chí là phó giáo sư cơ hữu, trong khi đó có khoa của một trường đại học ở

Hà Nội có tới hơn 10 giáo sư Đối với tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, sự tập trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng (chủ yếu là Hà Nội) và Đông Nam Bộ (chủ yếu là thành phố Hồ Chí Minh) gần như là tuyệt đối (khoảng 88,7%), trong đó Đồng bằngsông Hồng là 68,1% và Đông Nam Bộ là 20,6% Chính sự mất cân đối này đã gây nên sự chênh lệch về trình độ đào tạo, sự cục bộ địa phương làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và đội ngũ cán bộ khoa học trong cả nước Không chỉ có sự bất cập trong phân bố đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao, mà ngay ở sự phát triển đội ngũ giảng viên so với tốc độ gia tăng sinh viên cũng có sự mất cân đối Chẳng hạn, năm 1987, một giảng viên đại học, cao đẳng đào tạo bình quân 6,6 sinh viên, đến năm 2009 một giảng viên đại học, cao đẳng đào tạo bình quân 28 sinh viên Sau 22 năm, số sinh viên tăng 13lần, số trường đại học, cao đẳng tăng 3,7 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần Năm 1987 tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 10,09%, năm 2009 là 10,16% Trong những năm vừa qua, số lượng giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn chưa thể tương ứng với sự phát triển

về quy mô đào tạo Số giảng viên đại học, cao đẳng đã tăng từ 20.112 người năm

1997 lên 61.190 người năm 2009 (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng

từ 2.041 người lên 6.217 người (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng từ3.802 người lên 24.831 người (gấp 6 lần), số giảng viên là giáo sư, phó giáo sư tăng từ 526 người lên 2.286 người (gấp 4,5 lần)

Thứ ba, chính sự phân bố nêu trên dẫn đến việc quản lý hành chính nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng phân tán, lỏng lẻo, kém hiệu quả Trong tổng số

376 trường đại học, cao đẳng cả nước hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản

lý 54 trường (14,4%); còn lại các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quản lý 241 trường (64,1%); và có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%)

Từ sự bất cập của việc gia tăng quy mô như đã nêu, có một thực tế buộc chúng ta phải thừa nhận là, số lượng sinh viên hàng năm ở nước ta tăng nhưng chất lượng lại có xu hướng giảm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Năm 2005, tỷ lệ sinh viên vào đại học ở nước ta là 16%, trong khi con số này ở Trung Quốc là 17%, Inđônêsia 19%, Thái Lan 43% Hiện nay, quy mô đào

Trang 25

tạo đại học, cao đẳng tăng dần qua các năm, tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân cũng tăng, năm 1997 là 80 sinh viên/1 vạn dân, năm 2006 là 166,5 sinh viên/1 vạn dân, năm

2009 là 195 sinh viên/1 vạn dân, đến năm 2010 có thể đạt 200 sinh viên/1 vạn dân theo đúng định hướng Nghị quyết số 14 của Chính phủ và Quyết định số 121 của Thủ tướng Chính phủ Nếu so với các nước, thì tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của Việt Nam còn rất thấp: năm 2005 Thái Lan có 374 sinh viên/1vạn dân; Chi Lê có 407 sinh viên/1 vạn dân, Nhật Bản có 316 sinh viên/1 vạn dân, Pháp có 359 sinh viên/1vạn dân, Anh có 380 sinh viên/1 vạn dân, Úc có 504 sinh viên/1 vạn dân, Mỹ có

576 sinh viên/1 vạn dân và Hàn Quốc có 674 sinh viên/1 vạn dân Căn cứ vào các

số liệu hiện có của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc

(UNESCO) thì vấn đề cơ bản trong tốc độ phát triển của giáo dục Việt Nam là sự trì trệ của tỷ lệ theo học đại học Theo Global Education Digest năm 2006 thì sự kỳvọng đời sống học đường đại học, tức là số năm học trung bình mà một thanh niên tuổi 17 có thể hy vọng theo học trong trường đại học trước khi bước vào lao động trong giai đoạn từ 1999 đến 2004, trên thế giới đã tăng từ 0,9 năm lên 1,1 năm; Đông Á từ 0,7 năm lên 1,0 năm; Trung Quốc từ 0,3 năm lên 1,0 năm; Thái Lan từ 1,6 năm lên 2,1 năm;… riêng Việt Nam vẫn đứng nguyên ở con số 0,5 năm Như vậy, thực tế là nguồn nhân lực có chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng

Thứ tư, chất lượng giáo dục đại học còn nhiều bất cập Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, các trường đại học Việt Nam chưa đào tạo được lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao tương ứng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế Nhiều cuộc điều tra, thăm dò gần đây cho thấy, có khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam không tìm được việc làm đúng chuyên môn, bằng chứng đó phản ánh sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường Chương trình đại học của nước ta còn nặng về lýthuyết Có thể nêu một dẫn chứng như việc Intel tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở thành phố Hồ Chí Minh Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên Công nghệ thông tin Việt Nam, chỉ có

90 ứng cử viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư

Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng, việc thiếu các công nhân và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất Chất lượng nghèo nàn của giáo dục đại học còn có một ngụ ý khác: đối lập với những người cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh

Trang 26

được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trình đại học cao cấp ở Mỹ và châu Âu Thực tế cho thấy, hiện nay, thanh niên, sinh viên ở nước ta còn trong tình trạng tụt hậu rất xa so với thanh niên các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,… Theo Báo Tuổi trẻ, ngày 02 -10-2003, chỉ tiêu đánh giá về trí tuệ, trình độ ngoại ngữ, khả năng thích ứng với điều kiện tiếp nhận khoa học và công nghệ của thanh niên Việt Nam, đánh giá theo thang điểm 10 của khu vực khiến chúng ta phải giật mình: trí tuệ 2,3/10; ngoại ngữ2,5/10; khả năng thích ứng 2/10 Đây là chỉ số đáng buồn Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam rất thấp, đạt 3,79/10, đứng thứ 11/12 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng ở châu Á Chính sự bất cập nêutrên của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã làm cho chấtlượng giáo dục đại học thấp, hiệu quả sử dụng và năng lực cạnh tranh của nguồn lực không cao.

Thứ năm, chưa gắn nghiên cứu khoa học của các trường đại học với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cách đây hơn 10 năm, nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ này, Đảng và Nhà nước ta đã nêu lên chủ trương, “các trường đại học vừa là cơ sở đào tạo vừa là cơ sở nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ” nhưng cho đến nay, dường như quan điểm đó vẫn chỉ được xem là chủ trương chung, chưa được cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể, trách nhiệm vàquyền lợi giữa các cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động, giữa trường đại học

và doanh nghiệp

Chúng ta biết rằng, nghiên cứu khoa học là sức sống của một trường đại học Đó làtiêu chí mà bất kỳ trường đại học nào trên thế giới cũng phải tuân thủ và lấy đó làmphương châm hành động Gần như tất cả các thành tựu về nghiên cứu khoa học, các tiến bộ công nghệ áp dụng trong sản xuất đều xuất phát từ môi trường này Tuynhiên, hoạt động nghiên cứu triển khai của các cơ sở giáo dục đại học phải tính đếnhiệu quả kinh tế và xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp Đồng thời, Nhà nước phải tạo điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu triển khai các thành tựu khoa học vào quá thực tế sản xuất Trong những năm qua, hiệu quả nghiên cứu của các trường đại học trong cả nước chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp và sự đầu tư của Nhà nước Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngân sách Nhà nước cấp cho các trường đại học thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ tăng hằng năm (năm 2006: hơn 259,5 tỷ, năm 2008: hơn 264 tỷ đồng) Tuy nhiên, nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học

từ năm 2006 đến năm 2008 còn rất thấp, chỉ chiếm 3,92% trong tổng nguồn tài chính của các trường đại học Thực tế vẫn chưa có một thống kê nào đánh giá cụ

Trang 27

thể tỷ lệ các đề tài nghiên cứu được đưa vào áp dụng, nhưng theo các chuyên gia nhận định, có khoảng 60% kết quả nghiên cứu khoa học được đưa vào ứng dụng, nghĩa là còn 40% kết quả nghiên cứu phải “trùm mền” Các nhà khoa học không biết giới sản xuất đang cần gì ở họ, còn các doanh nghiệp cũng chẳng hiểu công nghệ mình cần trong nước đã có hay chưa và không thể chủ động đưa ra yêu cầu của mình Hậu quả là doanh nghiệp tìm đến với công nghệ nước ngoài, nhà khoa học nghiên cứu theo sở thích và chuyện kết quả nghiên cứu “trùm mền” chẳng có

gì là khó hiểu

Một là, một nền giáo dục chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn Không khó nhận ra điều này Các chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học, sau đại học đều dày đặc các kiến thức cụ thể Với lượng tri thức mới được sản sinh ngày càng nhiều và liên tục được cập nhật vào chương trình thì tình trạng quá tải là không thể khắc phục, nếu không nói là sẽ ngày càng trầm trọng hơn Việc nhớ những kiến thức ấy đã khó, vận dụng nó vào cuộc sống lại còn khó hơn Tri thức cụ thể dù cho mới đến đâu vẫn là cái đã biết nên luôn lạc hậu so với thực tiễn

Để phục vụ mục tiêu giáo dục trang bị kiến thức chuyên môn, hệ thống phân loại môn chính, môn phụ cũng được tiến hành một cách giản đơn như đương nhiên phảithế (trong khi đó phương châm của Đảng là giáo dục toàn diện) Đặc biệt nghiêm trọng là hệ thống thi cử, đánh giá Coi việc nhớ kiến thức chuyên môn là quan trọng nhất nên việc thi cử tuyển đầu vào, kiểm tra trong quá trình học tập và đánh giá đầu ra đều lấy việc hỏi kiến thức cụ thể làm mục tiêu chủ yếu Phương thức thi

cử nhằm đánh giá kiến thức chuyên môn (cụ thể) sinh ra hệ lụy nan giải và những căn bệnh trầm kha khó lòng cứu chữa Đó là học vẹt, học tủ và quay cóp

Hai là, do phải mất quá nhiều thời gian và công sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cụ thể (luôn quá tải) nên từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lối sống…Nói tóm lại là học cách tự học và học làm người Điều đáng lo ngại là xuthế vị bằng cấp đang trở nên ngày càng phổ biến trong cộng đồng những người đi học Đi học chỉ cốt để lấy bằng (và tệ hơn là nếu học ít, thậm chí không học mà vẫn có bằng thì càng hay) Nhiều bậc trí giả lo lắng không phải không có cơ sở là

xã hội ta ngày càng nhiều những người có học vị, bằng cấp cao, nhưng một đội ngũtrí thức với những nhân cách đáng kính của một tầng lớp dẫn dắt xã hội dường nhưngày càng thưa vắng Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên chính vẫn là từ chính những hạn chế và yếu kém của giáo dục đào tạo

Trang 28

Ba là, một hạn chế lớn của giáo dục và đào tạo nước ta là việc dạy và học không gắn chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học Đa phần các chương trình đào tạo hiện nay là những gì nhà trường và các thầy cô đem áp đặt cho người học, chứ chưa phải là những cái xã hội cần Có một nguyên nhân quan trọng là ở nước ta trong một thời gian dài, cung và cầu của giáo dục đại học mất cân đối nghiêm trọng Việt Nam là nước có truyền thống hiếu học và trọng học nên số người có nguyện vọng đi học (đúng ra là số gia đình mong muốn con vào đại học) thì đông

mà số trường đại học (tốt) lại rất ít nên các cơ sở đào tạo đại học không có nhiều động lực để đổi mới Chương trình cũ, phương pháp dạy không thay đổi, chất lượng đào tạo không nâng cao cũng vẫn có rất đông người tranh nhau vào học Những tiêu chí đánh giá về chất lượng giáo dục quốc tế dường như ảnh hưởng không nhiều lắm đến các trường đại học nước ta

Bốn là, cũng chính vì động lực đổi mới không cao và do một số nguyên nhân khác nữa, nền giáo dục của chúng ta tương đối khép kín Mặc dù số lượng cán bộ của ngành giáo dục (bao gồm cả quả lý và tham gia giảng dạy) có cơ hội đi thăm quan nước ngoài rất nhiều, nhưng dường như việc học tập nước ngoài chưa có một chương trình thật bài bản với những mục tiêu xác định nên kết quả không như mong muốn Địa điểm tham quan, vấn đề tìm hiểu trùng lặp, những kinh tiếp thu manh mún, thiếu đồng bộ…Do vậy về cơ bản, hệ thống giáo dục và các chương trình của các cơ sở đào tạo ở nước ta so với các nước tiên tiến trên thế giới còn có khoảng cách khá xa Và đặc biệt điều đáng nói là tính liên thông quốc tế của hệ thống giáo dục nói chung và của các cơ sở đào tạo nước ta nói riêng còn rất hạn chế Nếu như ở nước ngoài (kể cả các nước Đông Nam Á), các trường đại học có thể dễ dàng trao đổi sinh viên với nhau vì họ công nhận hệ thống tín chỉ của nhau, thì điều này còn rất khó khăn với các trường đại học nước ta

Năm là, điều thấy rõ và thường được nói tới nhiều nhất khi đề cập đến những hạn chế của giáo dục Việt Nam là sự thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất, là chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với đội ngũ những người làm giáo dục Có thể nói trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những cố gắng lớn trong đầu tư cho giáo dục Riêng năm 2013, mặc dù nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ cực

kỳ khó khăn, nhưng kinh phí cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề vẫn chiếm20% tổng chi ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, tính ra số kinh phí thực thì so ngay với một trường đại học ở Đông Nam Á (như Singapore, Thái Lan, Malaysia…) cũng đã rất thấp Nguồn kinh phí hạn hẹp lại được sử dụng chưa hợp lý, đầu tư manh mún, giàn trải và hiệu quả thấp (đó là chưa nói tới nguồn lực bị suy hao vì những dự án lãng phí lớn

Trang 29

Tuy nhiên, điều đáng nói hơn cả là vấn đề đầu tư cho nguồn lực con người Nếu như đây là nhân tố quan trọng hàng đầu trong tất cả mọi lĩnh vực, thì trong giáo dục đào tạo con người là nhân tố quyết định sự thành bại Con người ở đây là nói tới cả đội ngũ quản lý các cấp và những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở Chất lượng chưa cao ở cả hai lực lượng này dường như không khókhăn lắm để nhận ra Tuy nhiên điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó Theo tôi, gốc gác của vấn đề chính là trên thực tế, giáo dục và đào tạo chưa được coi là quốc sách hàng đầu như được nêu trong các văn kiện chính thức Việc tuyển chọn cán bộ quản lý giáo dục cũng như chính sách đãi ngộ khuyênkhích người giỏi làm công tác giáo dục còn nhiều bất cập và chưa được chú ý đúngmức.

Ngoài ra, đất nước còn thiều về cơ sở, vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại tiên tiến, ứng dụng khoa học công nghệ vào trong tác giáo dục …

c Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học:

Thứ nhất, xây dựng một chiến lược và triết lý giáo dục riêng Hiện nay, trên thế giới có ba mô hình giáo dục đại học lớn cần phải tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược giáo dục đại học ở Việt Nam: một là, mô hình kiểu Đức là nơi tạo dựng và phổ biến tri thức; hai là, mô hình kiểu Pháp là nơi đào tạo người lao động

có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của phát triển và sử dụng nguồn nhân lực; ba

là, mô hình kiểu Mỹ là tôi luyện bản lĩnh sống cho tầng lớp trẻ, tôn trọng sự phát triển nhân cách cá nhân, trung thực, không ngừng đổi mới Theo chúng tôi, mỗi một mô hình trên đều có những mặt tích cực có thể áp dụng, nhưng hoàn toàn không thể rập khuôn máy móc khi tạo dựng triết lý cho giáo dục đại học hiện nay Nên chăng, nền giáo dục đại học ở Việt Nam cần hướng tới việc phổ biến, ứng dụng và hiện thực hóa các tri thức khoa học, rút ngắn khoảng cách “độ chênh về chất lượng”

Thứ hai, cơ cấu lại ngành học cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển của đất nước Hiện nay, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đang có

sự mất cân đối Việc tăng quy mô đào tạo hiện vẫn chủ yếu diễn ra ở bậc đại học;

số học sinh, sinh viên theo học các ngành kỹ thuật, công nghệ ở bậc cao đẳng và trung học chuyên nghiệp còn thấp và tăng chậm Dường như trong những năm qua chúng ta chỉ chú trọng vào những ngành học có vốn đầu tư ít, thu lợi nhuận cao, chẳng hạn Luật, Kinh tế, Ngoại ngữ, Công nghệ thông tin…, mà chưa thực sự đầu

tư thích đáng vào nhóm các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật công nghệ cao Để hướng tới một nền giáo dục bền vững, chúng ta phải có một chiến lược dài hạn,

Trang 30

đầu tư có trọng điểm vào những ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn, đồng thời phải biết lựa chọn và thu hút được những sinh viên ưu tú, áp dụng những chương trình tiên tiến của thế giới vào giảng dạy để đạt hiệu quả cao Chỉ có như vậy, chúng ta mới thực sự “đi tắt, đón đầu” và theo kịp được với sự phát triển của khoa học – công nghệ tiên tiến hiện nay.

Thứ ba, cải cách hành chính và trao quyền tự chủ cho các trường đại học Đổi mới

tư duy giáo dục đại học trong quản lý nhà nước để tiến đến trao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm cao của các trường đại học chính là động lực của phát triển Đó là yêu cầu tất yếu từ chính các trường đại học trong cả nước hiện nay, nhưquyền tự chủ tài chính, nhân sự, công tác tuyển sinh và nhất là xây dựng chương trình Bởi, với chủ trương “đào tạo theo nhu cầu” thì việc xây dựng chương trình phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội Chỉ có như vậy, các trường đại học mới có thể tự quyết định trong đầu tư cơ sở vật chất và chuyên môn hoá sâu về lĩnh vực đào tạo của mình Chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt của các cơ sở đào tạo đại họcphải dựa trên năng lực và hiệu quả công việc của từng cá nhân Chất lượng đào tạo của các trường đại học là một tiêu chí đáng tin cậy cho mức độ phát triển của nền kinh tế Hiện nay, các trường đại học của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và chưa có một trường đại học nào được các tổ chức kiểm định quốc tế thừa nhận Nếu như không có các biện pháp cấp thiết để cải cách giáo dục đại học thì nước ta khó có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra cho

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Thứ tư, thực hiện đồng bộ và nghiêm chỉnh công tác kiểm định chất lượng đại học

Đã gần 3 năm qua, từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương buộc các cơ sở đào tạo bậc đại học, cao đẳng phải công bố chuẩn đầu ra, như người học hiểu biết

gì, có kỹ năng gì, có năng lực hành vi như thế nào, có thể đảm đương được công việc gì trong xã hội?… Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một trường đại học, cao đẳng nào thỏa mãn được bộ tiêu chí trên Vì vậy, chúng ta chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượng giáo dục của các trường một cách khách quan, toàn diện

Từ thực tế trên cho thấy, việc thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượng trường đại học và thực hiện nó là một yêu cầu bắt buộc đối với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay Bởi nó chính là cơ sở để đánh giá kiểm định chất lượng của một trường đại học hiện đại Có được một bộ tiêu chuẩn chất lượng minh bạch để quản lý các trường đại học thực sự là một bước đột phá trong tiến trình phát triển của giáo dục đại học Việt Nam

Trang 31

Thứ năm, kiên quyết ngừng các cơ sở đào tạo đại học không đạt chuẩn Trong những năm gần đây, do xuất phát từ mong muốn chủ quan là phát triển đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song sự mở rộng quá nhanh quy mô đào tạo lại không đi liền với việc đảm bảochất lượng nguồn nhân lực Có những trường đại học khi có quyết định thành lập

và bắt đầu đi vào đào tạo nhưng cơ sở vật chất lại chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu của một cơ sở đào tạo đại học như báo chí đã nêu trong thời gian vừa qua Như vậy, hiện tượng mở trường tràn lan, những điều kiện vật chất không được đảm bảo,đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu cũng là một nguyên nhân khiến chất lượng đào tạo đại học ở nước ta ngày càng giảm sút

Sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia hiện nay phụ thuộc trực tiếp vào quy mô và chất lượng của giáo dục đại học Hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp

và đang phát triển hiện nay đang đứng trước rất nhiều nguy cơ, trong đó có nguy

cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục đại học so với nhóm các nước phát triển Trách nhiệm này đặt trên vai các nhà hoạch định chiến lược giáo dục đại học Giáo dục đại học Việt Nam phải thực sự góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Từ những phân tích về các khó khăn và thuận lợi của nền giáo dục Đại học Việt Nam, một nhu cầu tất yếu trong ngành giáo dục là chúng ta cần đổi mới giáo dục, cần thực hiện các giải pháp phát triển giáo dục Đại học nói chung và giáo dục Đại học công lập nói riêng

Thứ nhât, phải thay đổi triết lý để chuyển một nền giáo dục lấy trang bị kiến thức chuyên môn làm mục tiêu chủ yếu sang một nền giáo dục chỉ dạy những kiến thức chuyên môn căn bản ở mức tối thiểu Dành nhiều thời gian dạy người học về

phương pháp, kỹ năng, cách tự học, dạy cách sử dụng, khai thác các thiết bị… và dạy làm người với mục đích người được đào tạo có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, có khả năng học tập suốt đời và có trách nhiệm cao với gia đình, xã hội

và Tổ quốc Đi theo sự đổi mới này sẽ là hàng loạt những thay đổi căn bản Từ chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, người thày và cách thức giảng dạy Theo triết lý mới này cách dạy và học sẽ chuyển từ học để nhớ sang chuyển sang học để hiểu Cho đến nay hiện tượng quá tải như một căn bệnh không thể chữa và thay đổisách giáo khoa diễn ra liên năm chính là do triết lý lấy dạy chuyên môn là mục tiêuquan trọng đẻ ra

Thứ hai, phải thay đổi một cách căn bản hệ thống đánh giá từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực Đầu vào thì đánh giá năng lực có học được (cấp học,

Trang 32

chương trình học ấy) không Trong quá trình thì đánh giá năng lực hiểu và tiếp thu sáng tạo những điều đã học Đầu ra thì đánh giá năng lực vận dụng những điều đã học tập, rèn luyện vào môi trường sắp tới… Tóm lại phải thay đổi căn bản những

gì đang làm hiện nay trong việc thi cử, đánh giá Sự thay đổi này sẽ mở đường cho một giai đoạn mới, người thi sẽ được sử dụng các thiết bị CNTT (như máy tính chẳng hạn), sử dụng mạng internet…Việc tổ chức thi sẽ nhẹ nhàng, đơn giản và chắc chắn sẽ chấm dứt việc phải nhờ cậy đến lực lượng công an để bảo vệ đề, phải nhốt thầy ra đề trong khách sạn vừa tốn kém, vừa bức xúc…và nhất là sẽ không còn hiện tượng học vẹt, học tủ và quay cóp nữa

Thứ ba, việc xây dựng các chương trình giảng dạy phải có chuẩn đầu ra Chuẩn đầu ra ở đây là phải lấy thực tế khách quan và yêu cầu của xã hội làm căn cứ, chứ không không phải là “chuẩn” nhưng do nhà trường tự quy định như nhiều cơ sở đào tạo đang làm Như vậy chuẩn đầu ra phải hiểu là đáp ứng nhu cầu rất đa dạng

cả về chủng loại và chất lượng Giáo dục đại học và chuyên nghiệp là nơi đào tạo

và cung cấp nguồn nhân lực các loại cho xã hội Sự đa dạng yêu cầu về chủng loại

và chất lượng lao động sẽ quy định chủng loại và sự phân tầng của các cơ sở đào tạo Bên cạnh những yêu cầu chất lượng rất cao của các cơ sở hàng đầu, có yêu cầuvừa phải của các cơ sở không có nhu cầu đến mức ấy Chẳng hạn, một doanh nghiệp gia đình nhỏ muốn có một kế toán đạt trình độ đại học thì chắc chắn không cần đến những kỹ sư tốt nghiệp những trường đại hàng đầu về kinh tế Vậy phải có những trường đại học vừa tầm để đào tạo loại nhân lực này Đây chính là luận lý căn bản để phải có cách nhìn phân tầng đối với giáo dục đại học Trong ý nghĩa này nhất loạt hô khẩu hiệu “chất lượng cao” là duy ý chí, không thực tế và cũng không phù hợp với thực tiễn

Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xâydựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học), nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề mà người học đang theo đuổi Về phương pháp, cho phép sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo nguyên tắc

“lấy người học là trung tâm”, giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu Tất nhiên, các cơ sở đào tạo cần thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan, chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả của việc dạy và học

Trang 33

Đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong tổ chức giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế Theo đó, về mặt pháp lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về pháp luật đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế Các cơ quan quản lý nhà nước, trực tiếp là Bộ Giáo dục

và Đào tạo cần thay đổi cách tư duy về quản lý đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế Thay vì trực tiếp quản lý toàn diện đối với các cơ sở giáo dục đại học, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ nên đóng vai trò là cơquan “tài phán”, định hướng các hoạt động theo luật pháp, đồng thời tạo điều kiện

để các cơ sở giáo dục đại học được độc lập, tự chủ hơn trong các hoạt động Cần tránh tư duy quản lý theo cách áp đặt, hoặc “bao cấp” đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và công bố quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá khoa học và các hoạt động về chuyên môn tại các cơ sở giáo dục đại học Trước mắt, Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học cần có các cơ chế chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu và tích cực công

bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học quốc tế Về lâu dài, cần đặt ra lộ trình (đối với mỗi cơ sở giáo dục đại học khác nhau cần có những lộ trình khác nhau) tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động khoa học và các hoạt động về chuyên môn trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời cần coiđây là giải pháp quan trọng để đưa giáo dục đại học Việt Nam hội nhập sâu hơn vào môi trường quốc tế./

Thứ năm, để có thể tiến hành đổi mới một cách căn bản thì giải pháp phải đồng bộ

và toàn diện Trước hết là những đổi mới về cơ chế, chính sách Trong hoàn cảnh khóa khăn hiện nay của đất nước, không nên đặt vấn đề tăng thêm ngân sách cho giáo dục và đào tạo mà có chính sách phân phối nguồn lực cho hợp lý Trong quá trình này, đầu tư tập trung và đầu tư hiệu quả được coi là ưu tiên Cần chấm dứt việc đầu tư giàn trải và kém hiệu quả như hiện nay Ngoài những cơ chế chính sách

về tài chính, phải đổi mới hàng loạt các cơ chế chính sách khác có liên quan đến giáo dục, đào tạo, sao cho thực sự là quốc sách hàng đầu

Thứ sáu, việc đổi mới tư duy giáo dục hiện nay cần “gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc

Thực hiện đầy đủ các giải pháp nêu trên thì nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiêntiến ở trong khu vực, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng

Trang 34

khẳng định Các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có sự thay đổi một cách mạnh mẽ về tư duy trong tổ chức giáo dục đại học, như thay đổi cách tuyển sinh, lựa chọn “đầu vào” theo hướng thoáng hơn, cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự đặt ra các tiêu chuẩn tuyển sinh và chịu trách nhiệm với người học bằng chính “uy tín” đào tạo của mình, cho phép hình thành nhiều mô hình đào tạo đại học khác nhau, kiểm soát chặt chẽ “đầu ra” của mỗi cơ sở đào tạo để bảo đảm chất lượng chung…

Câu 5 Cơ hội và thách thức đối với GDĐH VN trong bối cảnh CMCN 4.0? Nhà nước cần có giải pháp gì để phát triển GDĐH đáp ứng yêu cầu bối cảnh đó?

từ giáo dục nặng về trang bị kiến thức sang một nền giáo dục giúp phát triển năng lực, thúc đẩy đổi mới và sáng tạo cho người học Như thế, ở các trường đại học sẽ

ra đời các mô hình học tập mới cùng sự phát triển của khoa học - công nghệ, thay thế dần các phương pháp dạy- học truyền thống

Trong mọi lĩnh vực ngành nghề, những bước đi có tính đột phá về công nghệ mới như trí thông minh nhân tạo, robot, mạng internet, phương tiện độc lập, in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học về vật liệu, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử sẽ còn tác động mạnh mẽ hơn tới đời sống xã hội Hệ thống giáo dục đại học sẽ bị tác động rất mạnh và toàn diện, danh mục ngành nghề đào tạo sẽ phải điều chỉnh, cập nhật liên tục vì ranh giới giữa các lĩnh vực rất mỏng manh Theo đó, sẽ là sự liên kết giữa các lĩnh vực lý - sinh; cơ - điện tử - sinh, từ đó hàng

Trang 35

loạt ngành, chuyên ngành cũ sẽ mất đi và thay vào đó là cơ hội cho sự phát triển của những ngành, chuyên ngành đào tạo mới, đặc biệt là sự liên quan đến sự tương tác giữa con người và máy móc Thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế

sẽ có sự phân hóa mạnh mẽ giữa nhóm lao động có trình độ thấp và nhóm lao động

có trình độ cao Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ đe dọa tới việc làm của những lao động trình độ thấp, mà ngay cả lao động có kỹ năng bậc trung cũng sẽ bị ảnh hưởng nếu họ không được trang bị kiến thức mới - kỹ năng sáng tạo cho nền kinh tế 4.0 Cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ tạo ra cơ hội đào tạo lần đầu cho giới trẻ, mà còn đòi hỏi những người

đã đi làm, từ công nhân đến kỹ sư phải thay đổi, cập nhật kiến thức, kỹ năng ở mức

độ cao hơn Theo các nhà phân tích, năm 2020, nước ta sẽ cần một triệu cán bộ công nghệ thông tin, tuy nhiên hiện nay chúng ta mới có 300.000 Chỉ riêng nhu cầu đào tạo mới của ngành này đã là cơ hội lớn cho các trường đại học

Thứ hai, cách mạng công nghiệp 4.0 làm thay đổi mọi hoạt động trong các trường đại học Để đáp ứng đủ nhân lực cho nền kinh tế sáng tạo, đòi hỏi phải thay đổi cáchoạt động đào tạo, từ đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, quản lý sinh viên, phương pháp kiểm tra, đánh giá chuẩn đầu ra, với sự ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin Theo đó, các phương thức giảng dạy cũ không còn phù hợp với nhu cầu của xã hội Với sự vận dụng những thành tựu của công nghệ, người học ở bất cứ đâu đều có thể truy cập vào thư viện của nhà trường để tự học, tự nghiên cứu Như vậy, không thể chỉ tồn tại mô hình thư viện truyền thống, mà các trường phải xây dựng được thư viện điện tử Các trường phải thay đổi mô hình giảng dạy, như đào tạo trực tuyến không cần lớp học, không cần giảng viên đứng lớp, người học sẽ được hướng dẫn học qua mạng internet Những lớp học ảo, thầy giáo ảo, thiết bị ảo có tính mô phỏng, bài giảng được số hóa và chia sẻ qua những nền tảng như Facebook, YouTube, Grab, Uber sẽ trở thành xu thế phát triển tronghoạt động đào tạo đại học trong thời gian tới Khi đó, kiến thức không thể bó hẹp

và độc quyền bởi một người hay trong một phạm vi tổ chức nào đó Sinh viên có nhiều cơ hội để tiếp cận, tích lũy, chắt lọc cái mới, cái hay để trở thành công dân toàn cầu - người lao động tương lai có khả năng làm việc trong môi trường sáng tạo và có tính cạnh tranh Phần thưởng đối với sinh viên không còn là bằng cấp trên giấy tờ nữa, mà là bằng cấp theo nghĩa mở rộng, là trao đổi tri thức, sáng tạo, những giá trị đóng góp cho xã hội Khi đó, tổ chức, doanh nghiệp tuyển dụng là cần người làm được việc chứ không cần người có văn bằng cao Như vậy, các trường đại học sẽ phải chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình chỉ đào tạo “những gì thịtrường cần”, những nội dung của các môn học cơ bản sẽ phải được rút ngắn và

Trang 36

thay thế vào đó là những nội dung cần thiết để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và giúp người học thực hiện được phương châm “học tập suốt đời” Theo mô hình mới này, việc gắn kết giữa cơ sở đào tạo với tổ chức, doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu để bổ sung cho nhau, đẩy mạnh việc hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để phân chia các nguồn lực chung, làm cho các nguồn lực được sử dụng với hiệu quả cao nhất Điều này sẽ tác động đến việc bố trí cán bộ quản lý, phục vụ và đội ngũ giảng viên của các trường đại học Khi đó, tất cả các dữ liệu của người học từ mã số, điểm số, thông tin cá nhân đều được số hóa tại một nơi lưu trữ Trong nhiều trường hợp, người dạy chỉ cần đưa tài liệu lên “mây” (cloud), tất cả mọi người tranh luận trên “mây” mà vẫn đảm bảo được sự riêng tư, hiệu quả

và tính đồng bộ Trước thực tế này, nếu các trường không thay đổi mô hình đào tạothì sẽ bị lạc hậu, sẽ không có người học Doanh nghiệp nói riêng và thị trường nói chung có nhu cầu như thế nào, thì người học sẽ càng hướng tới tìm học những nơi đáp ứng được nhu cầu đó Đây thực sự là một thách thức vì hầu như các trường hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức độ giảng viên giảng dạy bằng máy chiếu, video, chia sẻ tài liệu trên mạng Kinh phí eo hẹp cũng là một trong những điểm chính khiến các ứng dụng khoa học - công nghệ chưa phát triển mạnh trong các trường đại học

Trong môi trường cách mạng công nghiệp 4.0, mỗi sinh viên có nhu cầu và năng lực học tập khác nhau sẽ được thiết kế tiến độ học tập riêng biệt, phù hợp với từng người Các phần mềm đào tạo sẽ thay thế từng phần hoặc toàn bộ lượng kiến thức của giáo trình khi học trên lớp Thay vì tập trung cung cấp cho người học các kiến thức, kỹ năng, mô hình giảng dạy mới chủ yếu hướng dẫn sinh viên cách tự học, cách tư duy và xử lý các tình huống trong cuộc sống, qua đó hình thành năng lực tiếp cận và giải quyết vấn đề

Đối với đội ngũ giảng viên, hệ thống quản lý nhà trường có sự hỗ trợ của công nghệ sẽ cung cấp hệ thống dữ liệu giúp họ theo dõi diễn biến, sự tiến bộ của mỗi lớp học, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập của sinh viên Do đó, giảng viên cần phải nỗ lực học tập, nghiên cứu để có thể tận dụng và làm chủ công nghệ, để những công cụ này hỗ trợ và tạo ra sự tự do, sáng tạo trong công tác đào tạo

Trước những đòi hỏi của thị trường lao động ngày càng cao, để phù hợp với môi trường sản xuất mới, các hoạt động đào tạo của các trường đại học càng phải được gắn kết với tổ chức, doanh nghiệp nhằm rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo, nghiêncứu và triển khai Đẩy mạnh phát triển đào tạo tại doanh nghiệp, phát triển các trường trong doanh nghiệp để đào tạo nhân lực phù hợp với công nghệ và tổ chức

Trang 37

của doanh nghiệp Tăng cường việc gắn kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trên cơ sở trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, hướng tới doanh nghiệp thực sự là

“cánh tay nối dài” trong hoạt động đào tạo của trường đại học nhằm sử dụng có hiệu quả trang thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp phục vụ cho công tác đào tạo, thông qua đó hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học trong quá trình đào tạo và thực tập tại doanh nghiệp

Quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước ta về cách mạng công nghiệp 4.0 đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang xóa nhòa khoảng cách giữa thế giới thực với thế giới ảo thông qua các công nghệ tiên tiến, sự đổi mới, sáng tạo không ngừng Cuộc cách mạng này tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh

tế – xã hội và chính bản thân con người Giáo dục đại học (GDĐH) có một vị trí quan trọng, tác động trực tiếp đến các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao GDĐH có tác dụng trực tiếp đến nguồn nhân lực, nhất là trong bối cảnhhiện nay, vốn con người là vấn đề cốt lõi để phát triển khoa học – công nghệ, nâng cao năng suất, cải thiện thu nhập, từ đó tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Về cuộc CMCN 4.0, trong Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị đã đề ra các quan điểm chỉ đạo:

Một là, chủ động, tích cực tham gia cuộc CMCN 4.0 là yêu cầu tất yếu khách quan,

là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của hệ thống chính trị và toàn xã hội gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời, nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc CMCN4.0 để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đây là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp, là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội

Hai là, cuộc CMCN 4.0 mang lại cả cơ hội và thách thức Nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội thông qua nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu tiên tiến của cuộc CMCN 4.0 cho các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội

Ba là, CMCN 4.0 yêu cầu phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp Cần làm chủ và áp dụng công nghệ hiệnđại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, môi trường, quốc phòng – an ninh

Trang 38

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (GDĐT), Nghị quyết số 52-NQ/TW cũng đề ra chính sách với nội dung chủ yếu:

(1) Thực hiện đổi mới nội dung và chương trình GDĐT theo hướng phát triển nănglực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ liên tục thay đổi và phát triển; đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ

số

(2) Có cơ chế khuyến khích và ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình GDĐT, tạo ra sản phẩm phục vụ cho nền kinh tế số, đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút, sử dụng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao

(3) Phát triển mạnh đào tạo nghề và hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho chuyển đổi công việc (4) Hình thành mạng học tập mở của người Việt Nam Thực hiện theo lộ trìnhphổ cập kỹ năng số, kỹ năng bảo đảm an toàn, an ninh mạng đạt trình độ cơ bản cho người dân và đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức, xây dựng văn hóa số trong cộng đồng…

Những hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam trước thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0

Ngoài bối cảnh chung khi bước vào CMCN 4.0 như các nước, nền GDĐH của ViệtNam còn có những điều kiện đặc thù riêng

Thực tế hiện nay, các trường đại học ở nước ta có xu hướng đào tạo chuyên sâu, ngành hẹp, rất ít trường có các khoa đào tạo liên ngành, xuyên ngành; phương pháp học tập, giảng dạy vẫn còn nặng về lý thuyết, trang bị tri thức, chưa chú trọngđúng mức các kỹ năng thực hành, nhất là những kỹ năng mềm; trong nghiên cứu khoa học chưa được coi trọng, vẫn nặng về nghiên cứu lý thuyết và thiếu sự gắn kết với thực tiễn đời sống xã hội nên khả năng đưa các kết quả nghiên cứu vào ứngdụng trong thực tiễn là rất thấp, dẫn đến các trường đại học chưa trở thành một trung tâm sáng tạo

Nhiều trường còn thiếu quan tâm đến sự kết nối với xã hội trong đào tạo, chưa làm cho trường đại học thực sự trở thành một khâu gắn bó hữu cơ với toàn bộ hoạt động xã hội để hình thành hệ sinh thái đào tạo nhân lực, chủ yếu là đào tạo đại trà với các lớp học truyền thống cho những người có thể đi học cả ngày Các lớp học trực tuyến hiện nay mới áp dụng thí điểm còn rất hạn chế

Ngày đăng: 14/09/2021, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w