bài tập học kì môn tư pháp đối với người chưa thành niên
Trang 1Hiện nay, thực trạng hành vi phạm tội chuyển biến theo chiều hướng ngày càng phức tạp, hành vi ngày càng nguy hiểm, không những thế, các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật do người chưa thành niên diễn ra ngày càng nhiều, mức độ nguy hiểm cũng ngày càng tăng, rất nhiều vụ án thương tâm xảy ra Cũng bởi tình trạng này nên vấn đề giáo dục, giúp trẻ nhận thức ngày càng được quan tâm nhiều hơn, và để hoạt động giúp trẻ tự nhận thức, tự phòng trường hợp hành vi phạm tội có thể xảy ra thì việc vận dụng học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud là hữu ích, bởi học thuyết này nghiên cứu từ bên trong ý thức, cách nhận thức khiến cho một hành vi nào đó xuất hiện Do đó, em xin lựa chọn đề bài số 3
để làm bài tập học kì của mình để có thể nghiên cứu sâu hơn về vấn đề liên quan đến học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud
I Khái quát một số vấn đề liên quan.
1 Khái quát về cuộc đời Sigmund Freud
Sigmund Freud (1856 -1939), sinh ở Freiburg (một thị xã nhỏ ở Moravia, hiện nay là phần thuộc cộng hoà Czech) và mất tại London, là cha đẻ của phân tâm cổ điển Cha ông là một thợ máy người Do Thái, một người khắc nghiệt và gia trưởng Thuở nhỏ đối với cha Freud có thái độ pha lẫn sợ hãi và yêu mến Trái ngược với cha, mẹ Freud là người phụ nữ dịu dàng chu đáo vì vậy ông luôn cảm thấy có sự gắn bó mật thiết với mẹ Khi còn đi học ông luôn là học sinh xuất sắc, tốt nghiệp phổ thông loại ưu
Freud theo học trường y khoa, chuyên về thần kinh học và đã học một năm tại Paris với Jean-Martin Charcot Ông chịu ảnh hưởng bởi Ambroise-August Liebault và Hippolyte-Marie Bernheim, cả hai đều dạy ông thôi miên khi ông
ở Pháp Sau khi học tập ở Pháp, Freud quay trở về Vienna và bắt đầu công việc lâm sàng với những bệnh nhân Hysteria Vào khoảng từ năm 1887 đến
1897, công việc của ông với những bệnh nhân này dẫn đến việc phát triển phân tâm học
2 Sự ra đời của thuyết phân tâm học Sigmund Freud.
Sự khủng hoảng tâm lý học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX như chúng ta được biết đã dẫn đến sự ra đời của Phân Tâm Học Một trường phái tâm lý
Trang 2học khách quan đi sâu nghiên cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm lý con người, là đối tượng thực sự của tâm lý học.Người sáng lập ra Phân Tâm Học là Sigmund Freud (1856 – 1939), bác sỹ thần kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái, sinh ở Tiệp Khắc,
du học ở Áo, Pháp, Đức Khi Sigmund Freud chào đời ở Freiberg thuộc miền Moravia, tác phẩm “Nguồn gốc các chủng loài” chưa xuất hiện Ông được đưa tới thành Vienna thủ đô nước Áo vào năm lên bốn tuổi và đã sống gần suốt cả tuổi trưởng thành tại đây Vào những năm đầu của cuộc đời, S.Freud rất tin vào thuyết của Darwin vì ông thấy rằng "Những thuyết ấy làm cho người ta có thể hy vọng vào những bước tiến phi thường trong việc tìm hiểu thế giới" Dự định sẽ trở thành thầy thuốc, ông đã theo học trường Đại học Y khoa thành Vienna và ông đã đỗ bác sĩ năm 1881 Là một thầy thuốc trẻ tuổi của bệnh viện đa khoa, chữa trị đủ mọi loại bệnh, ông tiếp tục nghiên cứu môn thần kinh bệnh học và giải phẫu thần kinh Sau đó, số mệnh xoay chiều và bất thần làm nên tên tuổi của ông nổi tiếng khắp thế giới Một bạn đồng nghiệp của ông đã đi Paris và ông bèn đi theo sang thành phố này Tại đây, ông cùng làm việc với Jean Charcot, lúc ấy đã là một nhà bệnh lý học và thần kinh học người Pháp nổi tiếng Ở đây, lần đầu tiên ông được tiếp xúc với công trình của Charcot về bệnh loạn thần kinh và cách dùng phương pháp thôi miên để điều trị bệnh này S.Freud đã thoả mãn khi thấy Charcot chứng minh được bệnh loạn thần kinh thật và loạn thần kinh giả do dùng thôi miên tạo ra S.Freud cũng đã sử dụng phương pháp thôi miên để thí nghiêm nhưng sau đó ông đã bỏ phương pháp điều trị này vì ít người hợp với lối chữa trị bằng thôi miên và cũng vì đôi khi thôi miên có những hậu quả không hay đối với nhân cách người bệnh, thay vào đó, ông bắt đầu phát triển một phương pháp mới được đặt tên là “Tự do liên tưởng”, về sau kỹ thuật này đã trở thành một tiêu chuẩn thực hành của khoa học phân tâm học Thuyết Phân tâm học ra đời chịu nhiều chi phối từ các điều kiện, quan điểm khác nhau, Sigmund Freud đã tiếp thu có sáng tạo các quan điểm và học thuyết của các nhà triết học, khoa học tự nhiên để vực dậy sự khủng hoảng tâm lý học trong xã hội châu Âu lúc đó
Trang 3S.Freud đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa phi lý tính của Schopenhaur: “triết học quay trở về với thế giới nội tâm của mình, tìm tòi bản tính thật sự của con người và thế giới” Cái vô thức là đối tượng quan tâm và nghiên cứu phổ biến trong không khí học thuật ở châu Âu vào những năm 80 của thế kỷ XIX.Thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud ra đời cũng xuất phát từ hoàn cảnh đời sống tinh thần trong thời đại mà ông đang sống lúc bấy giờ, đó là thái độ của xã hội đối với vấn đề tình dục Một xã hội mà tôn giáo
và pháp luật đã mất đi sức mạnh, lấy cái tôi làm trung tâm, khuynh hướng vô chính phủ của con người không được kiểm soát, hướng dẫn Ở thời đại này, chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ chống đè nén tính dục trong xã hội khổ hạnh, có hàng loạt nghiên cứu về bệnh tính dục, tính dục trẻ em và ảnh hưởng của những dồn nén ham muốn tính dục đến sức khỏe tinh thần, thể chất Dấu
ấn thời thơ ấu đã ảnh hưởng rất lớn đến quan điểm của Sigmund Freud, góp phần vào việc hình thành phương pháp lý luận trong phân tâm học.Ngoài ra, Thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud ra đời cũng xuất phát từ sự tác động của ngành khoa học tự nhiên lúc đó, bởi trong giai đoạn này khoa học tự nhiên đã có sự phát triển vượt bậc, ông đã chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi tư tưởng của các nhà tâm vật lý như Fexner, hình ảnh tâm lý như tảng băng trôi, phần lớn hoạt động tâm lý được dấu dưới cái vỏ ý thức và chịu sự tác động mạnh mẽ của những sức mạnh không nhìn thấy được Tất cả những tư tưởng, quan điểm đó đã được S.Freud sử dụng để giải thích về khả năng tồn tại năng lực tính dục thúc đẩy hành vi của nhân loại
3 Ý nghĩa của thuyết phân tâm học.
Thứ nhất, Thuyết Phân tâm học ra đời đã cung cấp một ý tưởng khoa học đúng đắn cho sự phát triển của nhân loại nói chung, ngành khoa học, đặc biệt
là khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói riêng, để từ đó hiểu rõ hơn về những suy nghĩ của cá nhân tức là sự tri giác của cá nhân đó đối với các giá trị đạo đức và xã hội nói chung, từ sự hiểu rõ bản chất của suy nghĩ của cá nhân đó, chúng ta có thể tìm ra những giải pháp để kiềm chế những xung đột của cá nhân đó do có sự nhận thức không đúng đắn về các giá trị đạo đức và
Trang 4xã hội mà xâm hại đến những giá trị đó, đưa cá nhân đó trở lại trạng thái bình thường, phát triển bình thường;
Thứ hai, các kết quả của Phân tâm học được rút ra từ những nghiên cứu thực hành chữa bệnh tâm thần do chính S.Freud thực hiện, những thành tựu
mà ông mang đến cho khoa học loài người nói chung, khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người mà cho đến nay chưa ai vượt qua được những nghiên cứu của ông Thuyết Phân tâm học có ảnh hưởng rộng khắp trên toàn thế giới, nó đã tạo ra một phương pháp cho việc ứng dụng vào những ngành liên quan, hiện nay thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như điều trị bệnh nhân bằng liệu pháp tâm lý, điều tra tội phạm, tội phạm học
để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những phản kháng tiêu cực đối với các chuẩn mực xã hội do hành vi, để đưa cá nhân đó đi theo con đường đúng đắn; Thứ ba, với Thuyết Phân tâm học, S.Freud đã đề xuất được một phương pháp “liên tưởng tự do” nhằm giải tỏa tâm lý, chữa trị cho những người bị bệnh tâm thần Nói chung, với việc xuất hiện một học thuyết mới trong lĩnh vực nghiên cứu về con người bởi tâm lý của họ, nó đã đóng góp một phần quan trọng vào kho tàng khoa học, làm phong phú hơn cho lĩnh vực khoa học, hơn nữa, cũng giúp cho xã hội có thể giải quyết được những trường hợp thuộc lĩnh vực nghiên cứu của Phân tâm học mà trước đó, các ngành khoa học khác vẫn chưa thể giải quyết được
II Giải quyết vấn đề.
1 Nội dung thuyết phân tâm học của S.Freud.
Nội dung cơ bản của Thuyết Phân tâm học của S.Freud là việc xác định cấu trúc của bộ máy tâm thần con người (bản chất của tâm hồn, tâm lý con người) Theo đó, nội dung của Phân tâm học được ông làm rõ ở các khía cạnh sau: Theo S.Freud tâm lý con người được cấu tạo bởi 3 khối: vô thức, tiền ý thức, ý thức, tương ứng với 3 khối này, ông đã đưa ra 3 thành tố cấu trúc nhân cách: cái
nó hay chính là bản năng (id), cái tôi hay bản ngã (ego), cái siêu tôi hay siêu bản ngã (superego) gọi là bộ máy tâm thần
Trang 5Trong đó, khối vô thức là khối bản năng mà bản năng tình dục giữ vị trí trung tâm, cung cấp nguồn năng lượng libido chi phối toàn bộ hoạt động đời sống tâm thần Khối bản năng có các tính chất: có ngay từ lúc mới sinh, chỉ những lực lượng nguyên thủy của sự sống giống nhau cho tất cả các sinh vật, nó là nguồn động lực, sức mạnh cho hoạt động Mục đích của bản năng là hướng tới khách thể, thế giới bên ngoài là đối tượng để thỏa mãn, nó đòi hỏi khách thể phải thỏa mãn ngay lập tức và trực tiếp Các hành động đều có nguồn gốc từ sự khoái lạc
vô thức Bản năng tượng trưng cho phần vô thức và chống đối xã hội của cá nhân
Khối ý thức tương ứng với cái tôi hay bản ngã (ego) là sự thể hiện cá tính tâm
lý của mỗi người, nó xuất hiện sau bản năng Bản ngã được thể hiện trong những hoạt động ý thức: tri giác, ngôn ngữ và những thao tác trí tuệ cho phép kiểm soát, kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh, bản ngã có thể đè nén xung đột bản năng và kiềm chế khoái lạc Như vậy, bản ngã vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ Bản ngã tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân Nó có tính chất tự chủ về nguồn năng lượng từ trong cấu trúc riêng của nó hoặc trong thùng năng lượng của bản năng tình dục được trung hòa, nó còn tự chủ với môi trường chọn ra những kích thích của môi trường Sigmund Freud đã nhấn mạnh rằng cái tôi (bản ngã) vừa là đầy tớ vừa là chủ nhân của cái nó (bản năng)
Cái siêu tôi (siêu bản ngã) là nhân tố lương tâm, đạo đức trong nhân cách bao gồm mọi khái niệm xã hội về cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu, nó là hiện thân của những lý tưởng và sự cố gắng để đạt tới sự hoàn thiện thay vì sự thỏa mãn hay thực tại tức là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội Cái siêu tôi là các chuẩn mực bên ngoài được phóng chiếu vào bên trong do kết quả nhập tâm của những lời dạy từ gia đình, nền giáo dục, nền văn hóa, nó hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt, là một cỗ máy ngăn chặn không cho con người bộc
lộ những bản năng tính dục và hiếu chiến theo cách có thể gây ra ảnh hưởng xấu đến xã hội và trật tự xã hội Siêu bản ngã đấu tranh để cho các hành vi hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc thái độ đối với hành vi là đúng hay sai
Trang 6Siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị văn hóa với chức năng như là lương tâm
cá nhân Cái siêu tôi luôn có ý đồ áp chế hoàn toàn những dục vọng của cái ấy Theo S.Freud, mọi thành phần trong cấu trúc tâm thần thực hiện những chức năng khác nhau và có quan hệ với nhau, cấu trúc này được Freud ví như việc lái một chiếc ô tô, cái nó (bản năng) tương ứng với cái động cơ, cái tôi tương ứng với tay lái và cái siêu tôi là nguyên tắc chuyển động
2 Ứng dụng thuyết phân tâm học vào việc chăm sóc và giáo dục trẻ để giúp các em tránh được các nguy cơ có hành vi vi phạm pháp luật khi bước vào tuổi chưa thành niên hoặc đã trưởng thành.
Hiện nay, hiện tượng trẻ em tụ tập thành băng nhóm, tổ chức sử dụng ma túy tổng hợp, đánh nhau, trộm cắp, cướp giật, vi phạm luật giao thông, đua xe trái phép, vô lễ với thầy, cô giáo và người thân trong gia đình, lối sống đua đòi, vị
kỷ, buông thả thậm chí giết người kể cả bạn bè cùng lớp và người thân trong gia đình xảy ra đến mức báo động Một trong những nguyên nhân chính đó là sự buông lỏng, sự yếu kém trong giáo dục, quản lý giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng, xã hội Mặc dù xã hội ngày càng phát triển nhưng tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng trở nên phức tạp hơn, với những thủ đoạn, hành vi nguy hiểm hơn Một số vụ án có thể kể đến như vụ án giết người, cướp tài sản Lê Văn Luyện, hành vi phạm tội được thực hiện khi Luyện vẫn là người chưa thành niên, với hành vi man rợ giết cùng lúc ba người trong một gia đình, chặt đứt tay một bé gái Vụ án của Mông Thế Xương 14 tuổi 7 tháng, phạm tội giết người, cướp tài sản hay vụ án của Mai văn Cường phạm tội hiếp dâm khi mới 14 tuổi 5 tháng Do đó, vấn đề giáo dục về nhận thức về đạo đức, pháp luật là vô cùng quan trọng để có ý thức tự mình tránh khỏi những tác động xấu, ngăn chặn hành vi phạm tội có thể xảy ra
Nội dung của Thuyết phân tâm học là đi sâu tìm hiểu về đời sống nội tâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người được hiện thực bằng hành
vi, liệu rằng đằng sau hành vi đó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽ như thế nào Bởi vậy, qua thuyết phân tâm học có thể giúp con người, đặc biệt là các bậc làm cha, mẹ, nhà trường tìm ra những cách giáo dục trẻ phù hợp hơn Qua
Trang 7học thuyết trên mọi người có nắm bắt được tư duy của trẻ, qua đó khi trẻ bước vào những khoảng thời gian chưa thành niên hay đã trưởng thành có thể được hướng dẫn các kĩ năng sống cũng như các khối kiến thức giáo dục, đạo đức một cách phù hợp và hiệu quả nhất
B o v , chăm sóc, giáo d c tr em là m i quan tâm đ c bi tảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ẻ em là mối quan tâm đặc biệt ối quan tâm đặc biệt ặc biệt ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt c a b t kìủa bất kì ất kì Nhà nước nào và toàn xã h ic ội Đ h n ch đ n m c th p nh t các hành viể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ế đến mức thấp nhất các hành vi ế đến mức thấp nhất các hành vi ức thấp nhất các hành vi ất kì ất kì xâm ph m quy n tr em và các hành vi vi ph m pháp lu t, đ o đ c do trạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ền trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức do trẻ ẻ em là mối quan tâm đặc biệt ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ật, đạo đức do trẻ ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ức thấp nhất các hành vi ẻ em là mối quan tâm đặc biệt
em gây ra, có nhi u vi c ph i làm, đ c bi t là công tác giáo d c pháp lu t,ền trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức do trẻ ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ặc biệt ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ật, đạo đức do trẻ giáo d c đ o đ c và kỹ năng s ng Và thuy t phân tâm h c cũng là m t h cục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ức thấp nhất các hành vi ối quan tâm đặc biệt ế đến mức thấp nhất các hành vi ọc cũng là một học ội ọc cũng là một học thuy t có nhi u u đi m đ i v i th c ti n nế đến mức thấp nhất các hành vi ền trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức do trẻ ư ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ối quan tâm đặc biệt ớc ực tiễn nước ta hiện nay, bởi học ễn nước ta hiện nay, bởi học ước c ta hi n nay, b i h cệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ởi học ọc cũng là một học thuy t này ch y u đi sâu tìm hi u tâm lý bên trong con ngế đến mức thấp nhất các hành vi ủa bất kì ế đến mức thấp nhất các hành vi ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ười, qua đó hiểui, qua đó hi uể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi
đư c cách suy nghĩ c a con ngủa bất kì ười, qua đó hiểui khi th c hi n hành vi nào đó Do dó, khiực tiễn nước ta hiện nay, bởi học ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt con người, qua đó hiểui th c hi n hành vi ph m t i thì thông qua h c thuy t có th nhìnực tiễn nước ta hiện nay, bởi học ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ội ọc cũng là một học ế đến mức thấp nhất các hành vi ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi
th y đất kì ư c đ ng c bên trong, t i sao ngội ơ bên trong, tại sao người này lại thực hiện hành vi phạm ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ười, qua đó hiểui này l i th c hi n hành vi ph mạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ực tiễn nước ta hiện nay, bởi học ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi
t i,…sau đó tìm ra các bi n pháp phòng, ch ng các hành vi vi ph m phápội ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ối quan tâm đặc biệt ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi
lu t x y ra Và đ i v i nh ng ngật, đạo đức do trẻ ảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ối quan tâm đặc biệt ớc ững người chưa thành niên cũng như vậy, qua ười, qua đó hiểui ch a thành niên cũng nh v y, quaư ư ật, đạo đức do trẻ
nh ng gì h c thuy t mang l i, m i ngững người chưa thành niên cũng như vậy, qua ọc cũng là một học ế đến mức thấp nhất các hành vi ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ọc cũng là một học ười, qua đó hiểui có th hi u để hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ư c tâm tính, l i suyối quan tâm đặc biệt nghĩ c a tr , sau đó có cách giáo d c h p lý h n, cách truy n t i đ n choủa bất kì ẻ em là mối quan tâm đặc biệt ục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ơ bên trong, tại sao người này lại thực hiện hành vi phạm ền trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức do trẻ ảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ế đến mức thấp nhất các hành vi
tr có th khi n chúng ti p thu nh ng cái t t và thay đ i nhũng l i suyẻ em là mối quan tâm đặc biệt ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ế đến mức thấp nhất các hành vi ế đến mức thấp nhất các hành vi ững người chưa thành niên cũng như vậy, qua ối quan tâm đặc biệt ổi nhũng lối suy ối quan tâm đặc biệt nghĩ b tác đ ng, nh hội ảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ưởi họcng b i cái x u, hởi học ất kì ước ng t i tr th c hi n nh ngớc ẻ em là mối quan tâm đặc biệt ực tiễn nước ta hiện nay, bởi học ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ững người chưa thành niên cũng như vậy, qua hành vi phù h p v i đ o đ c, pháp lu t.ớc ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ức thấp nhất các hành vi ật, đạo đức do trẻ
H c thuy t mang l i cho chúng ta cách nhìn nh n cũng nh phọc cũng là một học ế đến mức thấp nhất các hành vi ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ật, đạo đức do trẻ ư ươ bên trong, tại sao người này lại thực hiện hành vi phạmng pháp đ hi u bi t v nh ng hành vi c a ngể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ế đến mức thấp nhất các hành vi ền trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức do trẻ ững người chưa thành niên cũng như vậy, qua ủa bất kì ười, qua đó hiểui ch a thành niên hay đãư
trưởi họcng thành đư c hình thành nh th nào, qua đó xác đ nh đư ế đến mức thấp nhất các hành vi ư c hước ng
gi i quy t khi ngảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ế đến mức thấp nhất các hành vi ười, qua đó hiểui ch a thành niên, ngư ười, qua đó hiểui đã trưởi họcng thành có nh ngững người chưa thành niên cũng như vậy, qua hành vi vi ph m pháp lu t ạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ật, đạo đức do trẻ
Vi c gi i thi u cho ngệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ớc ệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ười, qua đó hiểui ch a thành niên, ngư ười, qua đó hiểui đã trưởi họcng thành vền trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức do trẻ
h c Thuy t phân tâm h c c a Sigmund ọc cũng là một học ế đến mức thấp nhất các hành vi ọc cũng là một học ủa bất kì Freud cũng mang lại hiệu quả trong việc phòng các hành vi vi phạm xảy ra ở lứa tuổi này Bởi vì học thuyết sẽ cho
Trang 8những đối tượng này có cái nhìn sâu hơn, rõ hơn và cụ thể hơn về những biểu hiện tâm lý của bản thân, từ đó biết tự điều chỉnh, tức phải phát triển cái bản ngã, nhất là siêu ngã lên cao để có thể làm chủ bản thân, qua đó có th gi iể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt thích các hi n tệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ư ng tâm lí c a mình, cũng nh có th hi u đủa bất kì ư ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ư c tâm lí
người, qua đó hiểui khác dước i cái nhìn phân tâm đ có th tránh kh i nh ng tác đ ngể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ể hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi ỏi những tác động ững người chưa thành niên cũng như vậy, qua ội
x u t môi trất kì ừ môi trường xung quanh ười, qua đó hiểung xung quanh
Về mặt giáo dục pháp luật, trong xã hội, để cho con người tuân thủ pháp luật một cách tự giác thì cần làm cho họ hiểu được sự cần thiết và lợi ích xã hội của các quy định pháp luật Từ đó hình thành thái độ tôn trọng pháp luật và định hướng cho các hành vi pháp luật của các cá nhân trong đời sống xã hội Luật pháp muốn có hiệu lực, hiệu quả thì ngoài sức mạnh của công quyền, bằng cưỡng chế thì còn cần huy động cả sức mạnh của tư tưởng và của tinh thần, pháp luật phải được con người nhận thức như là cái cần thiết và có cơ sở, phải tạo niềm tin và sự kính trọng đối với pháp luật Đó cũng chính là mục đích, yêu cầu
cơ bản của giáo dục pháp luật đối với mọi cá nhân nói chung và trẻ em nói riêng Giáo dục pháp luật là một yếu tố có vai trò chủ đạo của quá trình hình thành ý thức pháp luật ở cá nhân con người Việc giáo dục pháp luật nhằm mục đích cung cấp cho các cá nhân những tri thức pháp luật cần thiết, xây dựng tình cảm, thái độ tôn trọng và hành vi tích cực pháp luật trong cuộc sống hàng ngày
Mà học thuyết của Sigmund Freud đã lý giải được sự hình thành của những ý thức, giải thích bên trong sự xuất phát những hành vi của con người, do đó có thể áp dụng một cách tốt hơn trong vấn đề giáo dục pháp luật cho trẻ, giúp trẻ có
ý thức tự giác về pháp luật, tự mình ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật
có thể xảy ra Vì giáo dục pháp luật hướng tới việc con người tự giác tuân thủ pháp luật, cho nên học thuyết của Sigmund sẽ mang lại nhiều lợi ích trong thực tiễn
Giữa tri thức và tình cảm pháp luật có mối liên hệ mật thiết Sự am hiểu pháp luật đóng vai trò quan trọng cho việc đảm bảo sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật, hình thành hành vi tích cực pháp luật ở mỗi con người Khi xác định mục đích của giáo dục pháp luật, điều cần lưu ý là am hiểu tri thuc pháp luật
Trang 9không phải là sự am hiểu đơn thuần một vài quy phạm pháp luật nào đó mà là sự
am hiểu ý nghĩa của pháp luật, giá trị đạo đức, nhân văn của pháp luật Thông qua giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và kỹ năng sống, trẻ em biết phân biệt được cái đúng, cái sai, điều hay, lẽ phải, hành vi hợp pháp hay không hợp pháp, hợp đạo đức hay không hợp đạo đức Kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức gắn với trang bị, thực hành các kỹ năng sống cho trẻ em chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho trẻ em ở nước ta hiện nay Như vậy, việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức không chỉ là một khẩu hiệu, một “chủ trương” phải triển khai mà là một nhu cầu nội sinh của bản thân hoạt động giáo dục pháp luật
Việc giáo dục về pháp luật trang bị tri thức, xây dựng tình cảm, thái độ đúng đắn và hành vi hợp pháp thực tế cho thấy chỉ có thể có được và bền vững khi được kết hợp với giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho mọi đối tượng đặc biệt
là trẻ em Đối với các em, kỹ năng cuộc sống mà họ được trang bị, tập huấn, giáo dục thường xuyên trong các bài học chính khóa, ngoại khóa, trong các sinh hoạt cộng đồng, gia đình, đoàn thể là điều kiện không thể thiếu được để hình thành ý thức pháp luật, ý thức đạo đức đúng đắn giúp họ tự bảo vệ mình và tiến
bộ Vấn đề quan trọng là phải làm cho các em hiểu được ý nghĩa xã hội, giá trị
xã hội của các quy định pháp luật, của những hành vi hợp pháp và tuân thủ nó một cách tự nguyện, chứ không chỉ vì sợ chế tài pháp luật Ví như tự giác đội
mũ bảo hiểm khi tham giao thông không phải chỉ vì sợ cảnh sát, sợ bị phạt mà là trước hết là vì lợi ích của chính bản thân mình Hành vi hợp pháp là kết quả của quá trình hình thành nhân cách dưới tác động mạnh mẽ của môi trường xã hội Tiếp theo, cần phải tạo điều kiện, moi trường phát triển phù hợp, hạn chế để các ảnh hưởng xấu tác động đến các em, khiên cho các em có những suy nghĩ lệch lạc dẫn đến hành vi vi phạm, sai trái Thông qua học thuyết, thông qua những hiểu biết cốt lõi, bởi học thuyết giúp chúng ta đi từ bản chất, phòng chống
từ bên trong, từ nhũng cái nhỏ nhất
Trang 10Mục tiêu, nhiệm vụ của sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện cho các em, trong đó có chất lượng đời sống pháp luật và đạo đức Bản thân chất lượng đời sống đạo đức và pháp luật của trẻ
em lại phụ thuộc vào đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của các em và của những người xung quanh Nhiều năm qua, các địa phương cũng đã áp dụng một
số mô hình quản lý, giáo dục, chăm sóc trẻ em có hành vi trái pháp luật Điều này
là cần thiết song cần mở rộng hơn bởi lẽ vấn đề bảo vệ các quyền trẻ em không chỉ dừng lại đối với những trẻ em đã có hành vi trái pháp luật Điều này cũng xuất phát từ một thực tế là khi nhận thức, khi bàn về pháp luật nói chung, hành vi pháp luật nói riêng thường chúng ta mới chỉ chú trọng đến các hành vi vi phạm pháp luật mà còn chưa có sự quan tâm đầy đủ đến các hành vi hợp pháp.
Hành vi hợp pháp không đơn thuần chỉ là những hành vi không vi phạm pháp luật Giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và kỹ năng sống, do vậy, không chỉ hướng tới việc các em không làm trái pháp luật mà còn giúp các em có ý thức về các quyền, lợi ích chính đáng của mình và biết cách tự bảo vệ mình Theo chúng tôi, cần phải xây dựng một hệ thống quản lý trẻ em, chính xác hơn là hệ thống quản lý việc giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em tại các cộng đồng dân cư nơi các em sinh sống, học tập Có như vậy mới khắc phục được những hạn chế, bất cập, phiến diện trong công tác này Tham gia vào hệ thống quản lý này chính là các gia đình, đoàn thể, nhà trường, chính quyền nay tại các cộng đồng dân cư Hoạt động của các mô hình quản lý trẻ em được xây dựng và vận hành theo nguyên tắc kết hợp giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho trẻ em với các hình thức, phương pháp phong phú và phù hợp
Gi a tri th c và tình c m pháp lu t có m iững người chưa thành niên cũng như vậy, qua ức thấp nhất các hành vi ảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là mối quan tâm đặc biệt ật, đạo đức do trẻ ối quan tâm đặc biệt liên hệ mật thiết Sự am hiểu pháp luật đóng vai trò quan trọng cho việc đảm bảo sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật, hình thành hành vi tích cực pháp luật ở mỗi con người Khi xác định mục đích của giáo dục pháp luật, điều cần lưu ý là am hiểu tri thức pháp luật không phải là sự am hiểu đơn thuần một vài quy phạm pháp luật nào đó mà là sự am hiểu ý nghĩa của pháp luật, giá trị đạo đức, nhân văn của pháp luật Thông qua giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức và kỹ năng sống, trẻ em biết phân biệt được cái đúng, cái sai, điều hay, lẽ phải, hành vi hợp pháp hay không hợp pháp, hợp đạo đức hay không hợp đạo đức Kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức gắn với trang
bị, thực hành các kỹ năng sống cho trẻ em chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho trẻ em
ở nước ta hiện nay Như vậy, việc kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức không chỉ là một khẩu hiệu, một “chủ trương” phải triển khai mà là một nhu cầu nội sinh của bản thân hoạt động giáo dục pháp luật.
Ba mục đích cơ bản của giáo dục pháp luật: trang bị tri thức, xây dựng tình cảm, thái độ đúng đắn và hành vi hợp pháp thực tế cho thấy chỉ có thể có được và bền vững khi được kết hợp với giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho mọi đối tượng đặc biệt là trẻ em Từ trước đến nay, khi đề cập đến giáo dục pháp luật, đến các hành vi