1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kinh tế chính trị Mác-Lenin

10 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 23,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài tập lý thuyết kinh tế chính trị Mác Lênin

Trang 1

BÀI TẬP KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

Câu 1: Anh, chị hãy phân tích hai thuộc tính của hàng hóa và cho ví dụ minh họa về giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa?

Mọi thứ hàng hóa điều có hai thuộc tính là sử dụng và giá trị Hai thuộc tính này ràng buộc lẫn nhau, nếu như thiếu một trong hai thì không phải là hàng hóa

- Giá trị sử dụng của hàng hóa:

Giá trị hàng hóa của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người

Nhu cầu trực tiếp như là: ăn, mặc, nơi ở, phương tiện, giải trí…

Nhu cầu gián tiếp như là: tư liệu sản xuất

Bất cứ hàng hóa nào cũng điều có giá trị sử dụng nhất định Công dụng đó là cho nó có giá trị sử dụng

VD: gạo để ăn, áo quần để mặc, nhà để ở, phương tiện để di chuyển, máy móc thiết bị dung để sản xuất

Giá trị của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên ( vật lí, hóa học…) của yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa đó quy định Tuy nhiên, việc phát hiện ra và vận dụng từng thuộc tính tự nhiên có ích đó lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến thì càng giúp con người phát hiện ra thuộc tính, giá trị sử dụng của hang hóa khác nhau

VD: Thời kì nguyên thủy con người dung những hang động để sinh sống, sau nhiều năm con người biết vận dụng gỗ, lá cây, đất đá để xây dựng nhà để sinh sống

Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ưng nhu cầu của người mua Để đáp ứng nhu cầu của người mua, người ta càng phát hiện thêm những

Trang 2

thuộc tính mới của sản phẩm và lợi dụng chúng để tạo ra những giá trị sử dụng mới, giá trị sử dụng chỉ thể hiện ở việc sử dụng hay tiêu dùng Ngoài ra do khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ mà công dụng của hàng hóa ngày càng đa dạng nên nhu cầu ngày càng tăng vì vậy các doanh nghiệp nên tính toán chuẩn bị lực lượng

để đón đúng thời cơ Bên cạnh công dụng và phẩm chất hàng hóa, nhà kinh doanh cần phải lưu tâm đến hình thức bao bì và nhãn hiệuhàng hóa

Dù trải qua không ít khó khăn nhưng một số doanh nghiệp trong nước đã mạnh dạn đổi mới trang thiết bị sản xuất, mẫu mã, chất lượng, marketing… Họ thành công và khẳng định danh tiếng của doanh nghiệp trong và ngoài nước

VD: Kinh Đô là một công ty cổ phần chuyên sản xuất và kinh doanh đồ ăn nhẹ

tại Việt Nam, với các mặt hàng chính gồm bánh, kẹo và kem Hiện nay Kinh Đô là một trong những công ty tư nhân có lợi nhuận vào hàng cao nhất trong các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam Năm 1993: Công ty TNHH xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô được thành lập gồm 1 phân xưởng sản xuất bánh snack nhỏ tại Phú Lâm, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh với vốn đầu tư là

sản xuất – kinh doanh là sự phát triển mạnh mẽ về cơ sở vật chất máy móc thiết bị

và đặc biệt là sự gia tăng nguồn lực con người Ngày 01/10/2002, Công ty Kinh Đô chính thức chuyển thể từ Công ty TNHH Xây dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh

Đô sang hình thức Công ty Cổ Phần Kinh Đô

Sản lượng tiêu thụ năm sau luôn tăng gấp đôi so với năm trước Kinh Đô hiện có một mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp cả

nước.Tốc độ phát triển kênh phân phối hàng năm tăng từ 15% đến 20%

Năm 2003, Kinh Đô chính thức mua lại công ty kem đá Wall's Việt Nam của tập đoàn Unilever từ Anh Quốc và thay thế bằng nhãn hiệu kem Kido's

Trang 3

Năm 2014,bán toàn bộ mảng kinh doanh bánh kẹo trở thành công ty con chính thống của Mondelez International có trụ sở chính tại Hoa Kỳ

Trong bất kỳ một xã hội nào, của cải vật chất của xã hội đều là một lượng nhất định những giá trị sử dụng Xã hội càng tiến bộ, khoa học – kỹ thuật phát triển, phân công lao động xã hội ngày càng cao, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngàng càng tăng

-Giá trị của hàng hóa:

Mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa các giá trị sử dụng khác nhau lại trao đổi được với nhau được C.Mác gọi là giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ về lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau

Vd: một 1m vải có giá trị trao đổi bằng 10kg gạo

Vải và thóc là hai hàng hóa mặc dù có giá trị sử dụng khác nhau nhưng lại có thể trao đổi với nhau được theo một tỉ lệ nhất định nào đó là vì giữa chúng có một cơ sở chung là cả vải và thóc đều là kết quả của sự hao phí sức lao động (thời gian lao động và công sức lao động) do lao động được chứa đựng trong hàng hoá, đó chính là cơ sở giá trị của hàng hoá

Trên cơ sở đó, C.Mác quan niệm đầy đủ: giá trị sản xuất của hàng hóa

là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy

Vì vậy, khi người ta trao đổi hàng hoá cho nhau về thực chất là trao đổi lao động của mình ẩn dấu trong những hàng hoá ấy Do vậy có thể nói, lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá là cơ sở chung cho việc trao đổi và

nó tạo thành giá trị của hàng hoá Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất chứa đựng trong đó, thì nó

Trang 4

không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao

Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử Gía trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi

Vd: Tăng năng suất, đầu tư khoa học công nghệ hiện đại… mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên thị trường, đây chính là điều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận cao

Câu 2: Anh, chị hiểu thế nào là giá trị thặng dư và lợi nhuận? sự giống và khác nhau giữa chúng? Hãy phân tích bản chất của tích lũy tư bản và tích tụ

tư bản trong CNTB ?

- Gái trị thặng dư và lợi nhuận:

+ Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Không có sản xuất gái trị thặng dư thì không có chủ nghĩa tư bản Phân tích về các quan hệ lợi ích giữa nhà tư bản với nhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng dư thu được trên cơ sở hao phí sức lao động làm thuê

Quy luật giá trị thặng dư là nguồn gốc của mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản, đó là mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Như vậy giá trị thặng dư là kết quat của

sự hao phí sức lao động sự thống nhất của quá trình tạo ra và lam tang giá trị

+ Lợi nhuận:

Trang 5

Trong sản xuất kinh doanh, giữa giá trị lợi nhuận và chi phí sản xuất có một khoảng chênh lệch Nên sau khi bán hàng hóa ( giả sử giá cả bằng giá trị) nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra, mà còn thu về số chênh lệch bằng giá trị thặng dư Số chênh lệch này gọi là lợi nhuận

Lợi nhuận là số tiền lời mà nhà tư bản thu được sau khi bán hàng hoá đo có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí tư bản Với nhà tư bản, lợi nhuân còn được quan niệm là do tư bản ứng trước sinh ra

Giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận

Vd: Ông A có 900 triệu để sản xuất kinh doanh Tivi dùng 720 triệu để mua

tư liệu sản xuất và 180 triệu để thuê công nhân Trong qua trình sản xuất và thu về 180 triệu thặng dư Vậy tổng giá trị hàng hóa là 1080 triệu, ông A lợi nhuận được 180 triệu

- So sánh giá trị thặng dư và lợi nhuận:

+ Giống nhau, cả lợi nhuận và giá trị thặng dư đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân

+ Khác nhau: phạm trù giá trị thặng dư phản ánh đúng nguồn gốc và bản chất của nó là kết quả của sự chiếm đoạt lao động không công của công nhân, còn phạm trù lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần hóa của giá trị thặng dư

- Bản chất của tích lũy tư bản và tích tụ tư bản trong CNTB:

+ Tích lũy tư bản:

Trang 6

Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, quá trình sản xuất liên tục được lập đi lặp lại không nghừng được gọi là tái sản xuất Tái sản xuất là tất yếu khách quan của xã hội loài người Tái sản xuất có hai hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng

Nhà tư bản thông qua tái sản xuất đơn cho thấy không phải nhà tư bản ứng trước tiền cho công nhân làm thuê mà ngược lại công nhân làm thuê ứng trước tư bản khả biến cho nhà tư bản Không những được bảo tồn nhà tư bản còn không ngừng phát triển, thể hiện thông qua tích lũy tư bản trong tái sản xuất mở rộng Sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mơ lớn

và trình độ ngày tang lên được gọi là tái sản xuất mở rộng

– Để tái sản xuất mở rộng nhà tư bản phải biến một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm Sự chuyển hóa một phần giá trị thặng

dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản.

Vd: Quy mô tư bản năm thứ nhất là 5000 USD

Năm thứ nhất nhà tư bản dung 4000 USD để mua tư vật liệu,

1000USD để thue công nhân, giá trị sản xuất năm thứ nhất của tư bản là

4000 + 1000 +1000= 6000 ( giá trị thặng dư của nhà tư bản là 1000USD)

Để tái sản xuất mở rộng thì nhà tư bản không tiêu hết 1000USD thặng

dư thu được cho cá nhân mà để dành một phần để tích lũy mở rộng sản xuất Giả sử nhà tư bản chia 50% giá trị thặng dư thu được thì 500USD

để tiêu dung cá nhân còn 500USD để tích lũy Với 500USD tích lũy đươc chia như sau 400 USD để mua tư vật liệu và 100USD để thuê công nhân Quy mô tư bản năm thứ 2 là 4400 + 1100 =5500

- Tích tụ tư bản:

Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá giá trị thặng dư trong một xí nghiệp nào đó, nó là kết quả trực tiếp của tích luỹ tư bản

Trang 7

+ Tích lũy tư bản xét về mặt làm tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt là tích tụ tư bản

+ Tích tụ tư bản, một mặt, là yêu cầu của tái sản xuất mở rộng, của sự ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; mặt khác, sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trình phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản

Vd; nhà sản xuất B : có 1000 đv

Năm thứ nhất: tích lũy được 200đv

Quy mô năm thứ 2 là 1200đv

Tiếp tục mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật -> thặng

dư tiếp tục tăng lên lại tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản phát triển mạnh hơn

Câu hỏi 3: Theo anh, chị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam các doanh nghiệp có cạnh tranh với nhau không? Bằng lý luận của Mác - LeNin và thực tiễn nền kinh tế Việt Nam, hãy phân tích và làm rõ vấn đề trên.

- Xuất phát từ việc cần thiết phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp chuyển sang nền KTTT và hội nhập quốc tế Chủ trương đó nhanh chóng được các nhà đầu tư trong, ngoài nước và đông đảo người sản xuất, tiêu dùng hưởng ứng Các doanh nghiệp tư nhân trong nước và có vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều, thị trường hàng hóa và dịch vụ phát triển với quy mô ngày càng lớn, chủng loại phong phú hơn

Trang 8

- Khi thực hiện chuyển đổi nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải chấp nhận những qui luật của nền kinh tế thị trường trong đó có qui luật cạnh tranh Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong quá trình phát triển kinh tế Nhưng bên cạnh những thành tựu đó nền kinh tế nước ta đang đối mặt với những khó khăn thách thức to lớn Một trong những khó khăn thách thức đó là khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn yếu kém.Đứng trước quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, chúng

ta cần có một chính sách cạnh tranh đúng đắn Với mục tiêu như vậy không dễ dàng cho Việt Nam, khi mà nền kinh tế hiện nay không có gì đảm bảo, các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, còn trì trệ, tình trạng tham nhũng và thất thoát vốn nhà nước tăng cao Các doanh nghiệp nhà nước không phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế khi mà nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nhà nước

- Khi tham gia thị trường, các chủ thể sản xuất và trao đổi hàng hóa; bên cạnh sự hợp tác, luôn phải chấp nhận cạnh tranh Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được những ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ và thông qua đó mà thu được lợi ích tối đa Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì sự cạnh tranh trên thị trường diễn ra thường xuyên quyết liệt, các doanh nghgiệp trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Đó là những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính dồi dào, đội ngũ lao động trình độ cao, công nghệ sản xuất hiện đại…

- Để phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta cạnh tranh là điều tất yếu xảy ra Vì cạnh tranh là sự sống còn của các doanh nghiệp Muốn tồn tại được buộc các doanh nghiệp phải nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp mình bằng cách: nâng cao năng lực, giảm chi phí sản xuất để cạnh tranh về giá cả, cải tiến khoa học kĩ thuật… Điều này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đồng thời cũng làm cho xã hội phát triển nhờ kinh tế phát triển, khoa học - kĩ thuật phát triển do đòi hỏi

Trang 9

phải nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp, cải tiến khoa học

- kĩ thuật Cạnh tranh đem lại sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ Do

đó tạo ra nhiều lựa chọn hơn cho khách hàng, cho người tiêu dùng Đối với Việt Nam, thực trạng hiện nay cho thấy môi trường cạnh tranh

ở nước ta còn nhiều hạn chế còn nhiều tồn tại cần tháo gỡ chúng ta còn nhiều việc phải làm để có một môi trường cạnh tranh lành mạnh, nhưng trước mắt việc phải làm là Việt Nam cần có một chính sách cạnh tranh hợp lý, cần phải có pháp luật về cạnh tranh hướng dẫn các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh, để cho cạnh tranh đúng với ý nghĩa của nó là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

- Nhà nước nên đẩy nhanh quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, giảm dần các rào cản đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần được tháo gỡ dần nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh chung của toàn bộ nền kinh tế, tăng tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia Việc đổi mới nhận thức cần được thể hiện trong toàn bộ hệ thống quản lý Nhà nước, trong các chương trình và chính sách cải cách hành chính, trong tổ chức, phong cách làm việc hành vi ứng xử của các cơ quan Để có thể thay đổi chính sách hiệu quả, Nhà nước nên đào tạo các khóa ngắn hạn cho các nhà kinh doanh và các công chức Nhà nước để nâng cao, trau dồi kiến thức về cạnh tranh Để từ đó có một chính sách cạnh tranh phù hợp và việc thực hiện các chính sách cạnh tranh này dễ dàng hơn

- Qua nhiều năm, Việt Nam hiện đang là nền kinh tế có năng lực cạnh tranh đứng thứ 67 trên thế giới, tăng 10 bậc so với năm 2019 với 61,5 điểm trên thang điểm 100, theo xếp hạng của Diễn đàng Kinh tế Thế giới (WEF) Trong 12 trụ cột của WEF, Việt Nam đạt thứ hạng cao nhất trong Quy mô Thị trường

Trang 10

- Như vậy cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Cạnh tranh giúp cho sự phân bổ nguồn lực xã hội có hiệu quả, đem lại ích lợi lớn hơn cho xã hội Cạnh tranh có thể được xem như là quá trình tích luỹ về lượng để từ đó thực hiện các bước nhảu thay đổi

về chất Vậy sự tồn tại của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan

Ngày đăng: 27/08/2021, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w