Theo quy định của Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO và pháp luật các nước về vấn đề chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt mà không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuấ
Trang 12 Tại sao có hiện tượng bán phá giá?
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá của nhà sản xuất, xuất khẩu Nhiều trường hợp việc bán phá giá có mục đích không lành mạnh nhằm đạt được những lợi ích nhất định như:
- bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường từ đó chiếm thế độc quyền;
- bán giá thấp tại thị trường nước nhập khẩu để chiếm lĩnh thị phần;
- bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh Đôi khi việc bán phá giá là việc không mong muốn do nhà sản xuất, xuất khẩu không thể bán được hàng, cung vượt cầu, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hư hại nên đành bán tháo hàng hoá để thu hồi một phần vốn
Theo quy định của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) và pháp luật các nước về vấn đề chống bán phá giá, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt mà không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá
3 Có phải mọi trường hợp bán phá giá đều có thể bị áp đặt thuế chống bán phá giá không?
Bán phá giá (vào thị trường nước ngoài) thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năng cạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu
Tuy nhiên, ở một góc độ khác, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì có thể mua hàng với giá rẻ hơn; nếu hàng
bị bán phá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên
Trang 2liệu rẻ có thể là yếu tố góp phần tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó; giá giảm có thể là động lực thúc đẩy ngành sản xuất trong nước tự đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh
Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị lên án và phải chịu thuế chống bán phá giá Theo quy định của WTO, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện cụ thể
II DỰ THẢO HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ ĐÀM PHÁN QUY TẮC, VÒNG ĐÀM PHÁN DOHA
Vòng đàm phán Doha bắt đầu được khởi động từ năm 2001 theo quyết định của Hội nghị các bộ trưởng kinh tế các nước thành viên WTO tại Doha (Quatar) Một trong những nội dung chính của Vòng Doha là đàm phán sửa đổi quy định của Hiệp định chống bán phá giá (ADA) và Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (CVD) (Gọi tắt là đàm phán Quy tắc – Rules Negotiations)
Từ đó đến nay, Đàm phán Quy tắc đã diễn ra rất nhiều phiên với hàng trăm đề xuất cụ thể của các nước thành viên Gần đây nhất, phiên đàm phán (rules) tại WTO liên quan đến nội dung dự thảo Hiệp định chống bán phá giá đã diễn ra ngày26-27/10/2009, tại Geneve.Hiệp định chống bán phá giá là một trong những Hiệp định quan trọng của WTO, vì vậy, các nước đều tham gia tích cực vào việc góp ý cho dự thảo để tránh việc sử dụng Hiệp định này làm công cụ bảo hộ sản xuất nội địa, ngăn cản tự do hóa thương mại Tại phiên đàm phán tháng 10/2009, các nước đã tập trung thảo luận những vấn đề sau:
1 Sản phẩm thuộc diện xem xét (product under con- sideration)
Định nghĩa về cụm từ “sản phẩm thuộc diện xem xét điều tra chống bán phá giá” được nêu trong Bản dự thảo ngày 30/11/2007, trong đó đã nêu ra khá nhiều các yếu tố để xác định xem liệu hàng hóa đó có phải là sản phẩm thuộc diện xem xét hay không
Trong khi nhiều nước cho rằng một điều khoản riêng về vấn đề này sẽ hữu ích, lại
có những quan ngại rằng một điều khoản như thế có thể không cần thiết, sẽ tạo thêm nhiều vấn đề hơn so với số vấn đề có thể giải quyết được, cũng như những cách diễn giải về các vụ việc tiếp theo Các quan điểm còn có nhiều khác biệt về
Trang 3việc xác định sản phẩm thuộc diện xem xét rộng đến đâu, vai trò của các đặc điểm về vật lý và thị trường trong việc xác định sản phẩm thuộc diện xem xét, và khi nào và bằng cách nào để xác định sản phẩm thuộc diện xem xét.
Trong vụ việc chống phá giá, định nghĩa thuật ngữ trên là rất quan trọng, có tính quyết định đến mức độ, tính chất và phạm vi của toàn bộ vụ việc Trước hết, cần phải xác định được phạm vi của sản phẩm thuộc diện xem xét điều tra chống phá giá, căn cứ trên đó sẽ xác định “sản phẩm tương tự” với sản phẩm thuộc diện xem xét nêu trên; tiếp theo là xác định ngành sản xuất nội địa và xác định tư cách khởi kiện của họ trong vụ việc chống phá giá Phạm vi của sản phẩm thuộc diện xem xét điều tra càng rộng, càng dễ dàng hơn cho bên khởi kiện chứng minh được lượng hàng hóa nhập khẩu bị phá giá tăng nhiều và có nguy cơ cao gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa, số lượng hàng nhập khẩu
bị điều tra càng nhiều Bên cạnh đó, với phạm vi sản phẩm thuộc diện xem xét rộng thì cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho ngành sản xuất nội địa quy tụ thêm được các nhà sản xuất khác và đảm bảo yêu cầu của luật định về “tư cách khởi kiện” (standing)
Tại phiên đàm phán này, đa số các nước đều cho rằng đây là vấn đề quan trọng, là khái niệm cơ bản, tạo ra nền tảng cho các bước khác (trong việc tính toán thiệt hại và biên độ phá giá) nên cần đặt ra các tiêu chí rõ ràng, cụ thể, chính xác hơn (về đặc tính vật lý và thị trường) để định nghĩa, thông qua đó có thể xác định sản phẩm tương tự, quy mô của sản phẩm Các nước cho rằng nội dung hiện tại của Dự thảo là rộng, dễ bị lạm dụng
2 Yêu cầu thông tin gửi đến các bên liên kết (infor- mation requests- affiliated parties)
Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về khái niệm “các bên liên kết” (af- filiated parties)
Một số nước (Thái Lan, Trung Quốc, Brazil ) ủng hộ đề xuất sửa đổi vì sửa đổi này theo hướng đỡ bất lợi cho các nhà xuất khẩu, đảm bảo rằng các bên liên quan sẽ không bị coi là không hợp tác nếu họ không thể cung cấp thông tin từ các bên liên kết mà họ không kiểm soát
Các nước khác quan ngại rằng việc quy định bằng văn bản như vậy sẽ khuyến khích việc không hợp tác, và họ được cảnh báo về khái niệm hẹp của từ kiểm soát (control) trong trường hợp này sẽ được đưa ra một cách không phù hợp
Trang 4Bên cạnh đó, các nước cũng nêu một số câu hỏi: làm thế nào cơ quan điều tra xác định được là các bên đã làm hết sức để cung cấp thông tin, làm thế nào để các bên liên quan chứng minh là họ có kiểm soát hay không kiểm soát đối với bên liên kết, định nghĩa thế nào là “hết sức nỗ lực” (best efforts),
Đây là một vấn đề khó, vì vậy, một số nước (EC, New Zealand…) yêu cầu phải thảo luận kỹ hơn tại các phiên đàm phán tới
3 Tư cách nộp đơn đề nghị điều tra bán phá giá (standing)
Theo tài liệu TN/RL/GEN/103 từ Na uy, theo các Điều 4.1(i) và 5.4 của Hiệp định AD, một tỷ lệ lớn các nhà sản xuất trong nước có thể bị loại khỏi ngành sản xuất trong nước khi đánh giá liệu ngành sản xuất ủng hộ việc khởi xướng điều tra Theo đó, một cuộc điều tra có thể được khởi xướng dù được ủng hộ bởi những nhà sản xuất đại diện chỉ một phần tổng sản lượng của sản phẩm tương
tự của ngành sản xuất trong nước Na uy đề xuất thay đổi Điều 5.4 để yêu cầu
rằng các nhà sản xuất chiếm ít nhất 50% tổng sản lượng trong nước phải ủng hộ
đơn đề nghị điều tra
Chi Lê (TN/RL/GEN/75) đề xuất sửa đổi Điều 5.4 để đảm bảo rằng đơn khởi kiện nhận được sự ủng hộ đáng kể từ ngành sản xuất trong nước Tuy nhiên, theo quan điểm của Ai Cập (TN/RL/GEN/119), nên giữ nguyên các yêu cầu về
vị thế khởi kiện như được quy định tại Điều 5.4
Các nước còn có ý kiến khác nhau về vấn đề này Một số nước (EC, Ấn Độ, Argentina, Mexico…) cho rằng phải xét đến đặc điểm của các ngành công nghiệp phân tán (fragmented industries) rất khó để tập hợp ý kiến của các nhà sản xuất Một số nước thì cho rằng quy định sửa đổi sẽ tốn kém, gây khó khăn trong việc tập hợp ý kiến ủng hộ nhất là đối với nước lớn có nhiều nhà sản xuất
4 Các vấn đề khác từ Điều 5.5 đến hết Điều 9
Đa số các thành viên ủng hộ dự thảo vì sửa đổi theo hướng cụ thể hơn, thuận lợi hơn cho nước bị điều tra phá giá, tăng cường tính minh bạch, rõ ràng, dự đoán trước, giảm bớt gánh nặng về thủ tục hành chính, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của các bên có liên quan, làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền vì thế hạn chế quyền tự quyết của các cơ quan có thẩm quyền
Tại phiên đàm phán lần này, Việt Nam cùng với Thái Lan, Ấn Độ tiếp tục nhấn
Trang 5mạnh quan điểm đã thể hiện tại tài liệu TN/RL/GEN/157/Rev.1 ngày
27/5/2008 liên quan đến quy định tại Điều 9.3 Hiệp định AD (Rà soát mức thuế chống bán phá giá), đề nghị sửa lại lời văn ở Điều này nhằm đảm bảo phần tiền
thu vượt quá biên độ phá giá sẽ được hoàn trả cho nhà nhập khẩu Nhật Bản, Đài Loan, Nam Phi cũng ủng hộ đề xuất này
Đối với quy định về việc mở rộng diện được quyền yêu cầu hoàn tiền (bao gồm
cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu), một số thành viên (Úc, EC, Nam Phi, Canada) đề xuất phải có quy định cụ thể hơn về cơ chế thực hiện vì thường các nhà nhập khẩu sẽ là người yêu cầu hoàn tiền
Đối với quy định về việc hưởng lãi suất đối với khoản tiền đặt cọc, một số thành viên (EC, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ) bày tỏ quan ngại về vấn đề quy định pháp luật cụ thể liên quan đến cơ chế trả lãi suất, tính theo lãi suất nào, khoảng thời gian tính v.v… Các thành viên này cho rằng đây là vấn đề khó, vì vậy cần thảo luận thêm
III TỔNG HỢP VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI
1 Gia tăng số vụ điều tra chống bán phá giá trong năm 2008
Hoạt động đều tra chống bán phá giá (CBPG) gia tăng mạnh mẽ trong năm
2008 so với năm 2007
Số liệu các cuộc điều tra CBPG trong các năm
Nhìn lại hoạt động đều tra CBPG trong một khoảng thời gian dài như biểu đồ dưới cho thấy rằng các số vụ điều tra CBPG toàn cầu diễn ra theo chu kỳ với số vụ
Trang 6vụ điều tra trong khoản thời gian 2000-2008
Qua các số liệu phân tích trên cho thấy sự tác động của khủng hoảng kinh tế
sẽ là tiền đề cho việc gia tăng các vụ điều tra CBPG Sự gia tăng này chưa thể xảy
ra ngay nhưng điều này cũng thật dễ hiểu vì thông thường sẽ có sự giám sút về
số vụ điều tra trước khi xuất hiện hiện tượng kinh tế giảm sút được thể hiện trong các chỉ số Tuy nhiên sự tổn hại về kinh tế không nên nhất thiết đổ lỗi cho các mặt hàng nhập khẩu phá giá Thực tế là trong thời kỳ kinh tế phát triển tốt, các công ty thường ít có động cơ đưa ra các đơn kiện CBPG Vì vậy, thời kỳ kinh tế càng khó khăn càng khiến các ngành đang phải đối mặt với hàng giá rẻ từ nước ngoài có xu hướng sử dụng công cụ CBPG nhiều hơn
2 Thổ Nhĩ Kỳ gia tăng nhiều nhất các vụ điều tra CBPG
Các quốc gia tiến hành nhiều nhất các cuộc điều tra CBPG trong năm 2008 được thể hiện ở bảng dưới Ấn Độ dẫn đầu trong các vụ việc, tiếp sau là Bra-xin, Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina
Trang 7Trung Quốc 14 Israel 1 Indonesia 7 Mexico 1 Ukraine 7 Nam Phi 1
Trang 8Điều này cho thấy xu hướng trái ngược với các nước trong khu vực EU và Hoa
Quốc gia/
Trang 9Kỳ Số lượng các vụ điều tra của EC tăng trong năm 2008 so với 2007, nhưng vẫn
ở mức thấp thứ 2 tính từ khi thành lập WTO vào năm 1995 Tại Mỹ, hoạt động CBPG cũng giảm đáng kể trong năm 2008
Đáng chú ý, trong năm 2008, các nước trong cộng đồng kinh tế Châu Âu và Hoa Kỳ có tỷ lệ thấp khởi kiện CBPG thấp nhất trong các vụ kiện toàn cầu kể từ khi WTO được thành lập
4 Trung Quốc vẫn là nước bị khởi kiện chính trong năm 2008
Trung Quốc vẫn là nước bị điều tra CBPG lớn nhất trong năm 2008, chiếm 35% tổng số vụ điều tra trên toàn thế giới
Số liệu các vụ CBPG trong năm 2008
Thống kê này được so sánh với giai đoạn 1995-2008, thể hiện trong bảng dưới đây:
Các số liệu về CBPG giai đoạn 1995-2008
Quốc gia Số vụ Quốc gia Số vụ
Trung Quốc 73 Mỹ 8 Thái Lan 13 Ấn Độ 6 Đài Loan -
TQ
10 Ecuador 4 Indonesia 10 Ả rập Xê út 4 Hàn Quốc 9 Thổ Nhĩ Kỳ 4 Malaysia 9
Trang 10Quốc gia điều tra Các vụ Quốc gia điều tra Các vụ
Trung Quốc 677 Malaysia 90
Đài Loan - TQ 187 Ukraine 61
Thái Lan 142 Singapore 44
Ấn Độ 137 Tây Ban Nha 44
Tỷ lệ các vụ điều tra về Trung Quốc vẫn ở mức cao như trong biểu đồ dưới đây:
Trong năm 2008, các vụ điều tra CBPG đối với EC tăng không đáng kể Theo phần thống kê nổi bật của báo cáo GTP gần đây, tỷ lệ các vụ điều tra CBPG đối với hàng hóa của EC ở mức thấp mặc dù trước đây EC là tiêu điểm chính Xu hướng này được thể hiện trong biểu đồ dưới đây, bao gồm cả sự so sánh với Mỹ Cũng lưu ý rằng, trong những năm gần đây số lượng các thành viên trong EU tăng đáng kể từ 15 lên đến 27 Điều này cũng dẫn đến số lượng các vụ điều tra CBPG tại EU tăng lên
5 Gia tăng các vụ điều tra chống bán phá giá đối với mặt hàng giày dép và dệt may
Các lĩnh vực chủ yếu được điều tra trong năm 2008 được thể hiện ở bảng sau:
Trang 11Các lĩnh vực điều tra chống bán phá giá chủ yếu trong năm 2008
Điểm đáng chú ý nhất trong dữ liệu của năm 2008 là hàng dệt may và giày dép có sự khác biệt với những năm trước đó Đây là những điểm dễ dàng nhận thấy khi so với dữ liệu trong giai đoạn1995-2008
Các lĩnh vực điều tra chủ yếu trong giai đoạn 1995-2008
Trang 12Khoảng 2/3 các vụ điều tra chống bán phá giá dẫn đến việc áp dụng các biện pháp cụ thể
Biểu đồ dưới đây thể hiện xu hướng các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng
Trong giai đoạn này, đã có 3427 vụ điều tra CBPG được tiến hành và trong
đó có 2190 biện pháp CBPG đã được thông qua Trung bình có khoảng 64% các vụ điều tra của CBPG dẫn đến áp dụng các biện pháp này
IV TÁC ĐỘNG HAI CHIỀU CỦA BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Biện pháp chống bán phá giá ngày nay được đề cập rất nhiều trên các diễn đàn thương mại quốc tế lớn, Tôi xin trích đăng bài viết của Hylke
Trang 13Vandenbussche, Giáo sư kinh tế, trường Đại học Louvain, Bỉ do Quỳnh Giao lược dịch.
Biện pháp chống bán phá giá đã trở thành một hình thức bảo hộ thương mại quan trọng đối với mỗi một quốc gia Tác động của hình thức bảo hộ này đối với năng suất của các doanh nghiệp khác nhau là rất khác nhau Nếu như hình thức bảo hộ này cho phép các doanh nghiệp nội địa có năng suất ban đầu thấp tiến hành tái cơ cấu và cải thiện tình hình kinh doanh thì mặt khác việc áp dụng biện pháp này lại có xu hướng gây tổn hại đến các doanh nghiệp nội địa có năng suất cao và các nhà xuất khẩu
Hai mươi năm qua, trong khi cả thế giới chứng kiến sự suy giảm mạnh mẽ của việc áp dụng các hàng rào thuế quan thì bảo hộ thương mại vẫn còn tồn tại đâu
đó dù dưới một hình thức khác Giảm việc sử dụng các biện pháp thuế quan đi đôi với việc gia tăng đáng kể số lượng các biện pháp chống bán phá giá đã trở thành một công cụ bảo hộ thương mại được sử dụng thường xuyên nhất Kể từ năm
2003, số lượng các biện pháp chống bán phá giá có xu hướng giảm, tuy nhiên, từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu bắt đầu diễn ra thì các biện pháp chống bán phá giá và các cuộc điều tra chống bán phá giá đã tăng lên
nhanh chóng và xu hướng này dường như sẽ vẫn tiếp diễn (Xem biểu đồ dưới đây)