Thông qua những khái niệm căn bản, các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nhãn quan của xã hội học, người học được trang bị cách tư duy và giải thích của xã hội học trước các vấn đề xã
Trang 1ThS Lê Minh Tiến
ThS Hoàng Mạnh Tưởng
XÃ HỘI HỌC
Lưu hành nội bộ, 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
HƯỚNG DẪN 8
BÀI 1: XÃ HỘI HỌC 11
1.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC 11
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học 11
1.1.2 Nhãn quan xã hội học 14
1.1.3 Lợi ích của nhãn quan xã hội học 17
1.2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC 17
1.3 CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC KINH ĐIỂN 19
1.3.1 Auguste Comte (Pháp, 1798-1857) 19
1.3.2 Herbert Spencer (Anh, 1820-1903) 19
1.3.3 Karl Marx (Đức, 1818-1883) 20
1.3.4 Max Weber (Đức, 1864-1920) 20
1.3.5 Émile Durkheim (Pháp, 1859-1917) 22
1.4 SỰ HÌNH THÀNH CỦA XÃ HỘI HỌC VÀ MỘT SỐ LÝ THUYẾT CHỦ YẾU 23
1.4.1 Phân loại dựa trên những nguyên lý nghiên cứu 24
1.4.2 Phân loại dựa trên cấp độ nghiên cứu 24
1.4.3 Phân loại dựa trên nội dung nghiên cứu 25
1.5 CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC 30
TÓM TẮT 32
CÂU HỎI ÔN TẬP 32
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 33
BÀI 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT TRONG NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC 35
2.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC 35
2.1.1 Xác định đề tài nghiên cứu và hình thành các câu hỏi cụ thể 35
2.1.2 Các bước cụ thể để xác định vấn đề nghiên cứu 35
2.1.3 Thăm dò và làm tổng quan tài liệu 36
2.1.4 Xây dựng một mô hình phân tích (xây dựng khung khái niệm) 36
2.1.5 Thu thập dữ liệu 38
2.1.6 Kiểm chứng giả thuyết 38
Trang 42.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT CƠ BẢN ĐỂ THU THẬP DỮ
LIỆU…HỘI HỌC 41
2.2.1 Phương pháp quan sát 41
2.2.2 Nghiên cứu điều tra 43
2.2.3 Phân tích thứ cấp 46
2.3 TƯƠNG QUAN GIỮA LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP 47
TÓM TẮT 49
CÂU HỎI ÔN TẬP 50
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 50
BÀI 3: XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA 52
3.1 XÃ HỘI CON NGƯỜI 52
3.1.1 Khái niệm xã hội 52
3.1.2 Dân cư và xã hội 53
3.1.3 Cấu trúc của xã hội 54
3.1.4 Phân loại xã hội 55
3.1.5 Các quan điểm giải thích về xã hội 57
3.2 VĂN HÓA 59
3.2.1 Ý nghĩa của văn hóa 60
3.2.2 Các yếu tố cơ bản của văn hóa 63
3.2.3 Thái độ đối với các nền văn hóa 67
3.2.4 Tiếp xúc văn hóa và biến chuyển văn hóa 68
3.2.5 Các lý thuyết nghiên cứu và giải thích về văn hóa 70
TÓM TẮT 74
CÂU HỎI ÔN TẬP 74
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 75
BÀI 4: QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA, VỊ TRÍ VÀ VAI TRÕ XÃ HỘI 77
4.1 QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA 77
4.1.1 Khái niệm 77
4.1.2 Các lý thuyết về sự phát triển nhân cách và quá trình xã hội hóa 79
4.1.3 Các giai đoạn của quá trình Xã hội hóa 82
4.1.4 Các môi trường tham gia quá trình xã hội hóa 82
4.2 KHUÔN MẪU HÀNH VI, VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ XÃ HỘI 85
4.2.1 Khuôn mẫu hành vi 85
4.2.2 Vị trí và vai trò xã hội 86
Trang 5TÓM TẮT 91
CÂU HỎI ÔN TẬP 91
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 92
BÀI 5: TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ THIẾT CHẾ XÃ HỘI 94
5.1 NHÓM XÃ HỘI 94
5.1.1 Khái niệm 94
5.1.2 Phân loại nhóm 94
5.1.3 Năng động nhóm 96
5.2 TỔ CHỨC XÃ HỘI 98
5.2.1 Khái niệm tổ chức chính thức 98
5.2.2 Phân loại tổ chức chính thức theo A.Etzioni 99
5.2.3 Tổ chức bàn giấy 100
5.3 THIẾT CHẾ XÃ HỘI 102
5.3.1 Định nghĩa thiết chế 102
5.3.2 Các thiết chế chuyên biệt 102
5.3.3 Những đặc trưng của thiết chế 104
5.3.4 Quan hệ giữa các thiết chế 105
5.3.5 Quá trình phân biệt hóa thiết chế 105
TÓM TẮT 106
CÂU HỎI ÔN TẬP 107
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 108
BÀI 6: LỆCH LẠC XÃ HỘI VÀ KIỂM SOÁT XÃ HỘI 109
6.1 LỆCH LẠC XÃ HỘI 109
6.1.1 Khái niệm lệch lạc xã hội 109
6.1.2 Phân loại về hành vi lệch lạc 109
6.1.3 Các lý thuyết giải thích về lệch lạc xã hội 110
6.2 KIỂM SOÁT XÃ HỘI 113
6.2.1 Khái niệm kiểm soát xã hội 113
6.2.2 Phân loại và đặc điểm 113
TÓM TẮT 114
CÂU HỎI ÔN TẬP 115
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 115
BÀI 7: SỰ PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ SỰ DI ĐỘNG XÃ HỘI 117
Trang 67.1 BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI 117
7.1.1 Bất bình đẳng xã hội 117
7.1.2 Phân tầng xã hội 118
7.2 DI ĐỘNG XÃ HỘI 119
7.2.1 Khái niệm 119
7.2.2 Các hình thức di động xã hội 119
7.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến di động xã hội 121
TÓM TẮT 122
CÂU HỎI ÔN TẬP 123
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 123
BÀI 8: HÀNH VI TẬP THỂ VÀ PHONG TRÀO XÃ HỘI 125
8.1 HÀNH VI TẬP THỂ 125
8.1.1 Định nghĩa 125
8.1.2 Các tập hợp tập trung 125
8.1.3 Các tập hợp phân tán 126
8.2 CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH VỀ ĐÁM ĐÔNG 127
8.2.1 Lý thuyết tiêm nhiễm (Contagion Theory) 127
8.2.2 Lý thuyết hội tụ (Convergence Theory) 128
8.2.3 Lý thuyết quy phạm nổi bật (Emergent-Norm Theory) 128
8.3 PHONG TRÀO XÃ HỘI 129
8.3.1 Định nghĩa 129
8.3.2 Các loại phong trào xã hội 129
8.3.3 Các giai đoạn trong phong trào xã hội 130
TÓM TẮT 131
CÂU HỎI ÔN TẬP 133
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 133
BÀI 9: MỘT SỐ CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC 135
9.1 XÃ HỘI HỌC KINH TẾ 135
9.1.1 Khái niệm, đối tượng xã hội học kinh tế 135
9.1.2 Các nội dung cơ bản của xã hội học kinh tế 136
9.2 XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH 138
9.2.1 Khái niệm, đối tượng nghiên cứu của xã hội học gia đình 138
9.2.2 Nội dung nghiên cứu cơ bản của xã hội học gia đình 140
Trang 79.3 XÃ HỘI HỌC TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG 142
9.3.1 Khái niệm, đối tượng xã hội học truyền thông đại chúng 142
9.3.2 Nội dung nghiên cứu của xã hội học truyền thông đại chúng 143
9.4 XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT 144
9.4.1 Khái niệm, đối tượng của xã hội học pháp quyền 144
9.4.2 Nội dung nghiên cứu của xã hội học pháp luật 145
CÂU HỎI ÔN TẬP 146
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
Trang 8HƯỚNG DẪN
MÔ TẢ MÔN HỌC
Bài giảng Nhập môn xã hội học trang bị cho sinh viên những kiến thức căn bản
về cách tiếp cận các hiện tượng xã hội trong cuộc sống dưới góc độ xã hội học
Thông qua những khái niệm căn bản, các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và
nhãn quan của xã hội học, người học được trang bị cách tư duy và giải thích của xã
hội học trước các vấn đề xã hội, hiện tượng xã hội trong đời sống được nghiên cứu
một cách khách quan và toàn diện hơn Xã hội học là ngành khoa học giúp cho
chúng ta tìm hiểu được bản chất của hiện thực xã hội, mối tương tác giữa con
người và xã hội
Bên cạnh đó, Xã hội học còn giúp chúng ta hiểu được các tiến trình xã hội,
những động lực xã hội nằm bên dưới các hiện tượng kinh tế, chính trị, văn hóa và
xã hội
NỘI DUNG MÔN HỌC
- Bài 1 Xã hội học: Bài này cung cấp cho sinh viên cái nhìn tổng quát về đối
tượng nghiên cứu của xã hội học, những tiền đề và tiến trình ra đời cũng như
lịch sử hình thành và phát triển của xã hội học, các cấp độ nghiên cứu trong xã
hội học Đồng thời bài này còn làm rõ nhãn quan của xã hội học, tức cách nhìn
nhận và giải thích của xã hội học trước các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và
xã hội được quan tâm Bài này cũng trình bày sơ lược về tư tưởng của những
nhà sáng lập của xã hội học
- Bài 2 Phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu xã hội học: Bài này trang bị
cho sinh viên kiến thức tổng quát về qui trình thực hiện một nghiên cứu xã hội
học Nội dung bài cũng đề cập đến các kỹ thuật thu thập thông tin cơ bản trong
xã hội học như điều tra xã hội học, quan sát, phân tích tư liệu thứ cấp
- Bài 3 Xã hội và văn hóa: Bài này cung cấp những kiến thức căn bản về cơ cấu
xã hội, khái niệm về văn hóa, các thành tố của văn hóa, các tiến trình văn hóa
như quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, đồng hóa văn hóa, thái độ đối với các
nền văn hóa khác nhau
- Bài 4 Quá trình xã hội hóa, vị trí và vai trò xã hội: Bài này giúp sinh viên phân
biệt khái niệm xã hội hóa được dùng trên các phương tiện truyền thông đại
chúng và khái niệm xã hội hóa theo quan điểm xã hội học Đồng thời cũng
trang bị cho sinh viên hiểu biết về vị trí và vai trò xã hội, căng thẳng vai trò,
xung đột vai trò
- Bài 5 Tổ chức xã hội và thiết chế xã hội: Bài này cung cấp cho sinh viên
những kiến thức về nhóm xã hội như nhóm sơ cấp, nhóm thứ cấp cũng như
Trang 9những chủ đề cần nghiên cứu về nhóm xã hội Bên cạnh đó, nội dung còn đề cập đến thiết chế xã hội, sự biến chuyển của định chế cũng như mối quan hệ giữa các định chế trong xã hội
- Bài 6 Lệch lạc xã hội và kiểm soát xã hội: Hiện tượng lệch lạc xã hội là một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều trong lĩnh vực xã hội học Bài này cung cấp cho sinh viên các cách lý giải của xã hội học trong việc tiếp cận các hiện tượng lệch lạc xã hội nói chung và hiện tượng tội phạm nói riêng Đồng thời bài học cũng đề cập đến các cơ chế kiểm soát xã hội trước các hành vi lệch lạc của cá nhân, nhóm trong xã hội
- Bài 7 Sự phân tầng xã hội và sự di động xã hội: Bài này cung cấp cái nhìn tổng quan về bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội, những yếu tố ảnh hưởng đến phân tầng Bên cạnh đó, bài học cũng nói đến sự di động xã hội xét như sự thay đổi địa vị xã hội, tầng lớp xã hội của cá nhân cũng như các loại hình di động xã hội
- Bài 8 Hành vi tập thể và phong trào quần chúng: Giúp sinh viên hiểu được hành vi tập thể, các loại hành vi tập thể, các lý thuyết giải thích hành vi tập thể Bên cạnh
đó, bài học cũng giúp sinh viên hiểu được phong trào xã hội, các loại phong trào xã hội và tiến trình của các phong trào xã hội
- Bài 9 Một số chuyên ngành xã hội học Bài này cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản như khái niệm, đối tượng và nội dung nghiên cứu của một số chuyên ngành xã hội học như xã hội học kinh tế, xã hội học gia đình, xã hội học truyền thông đại chúng và xã hội học pháp luật
KIẾN THỨC TIỀN ĐỀ
Để học tốt môn Nhập môn xã hội học, sinh viên cần có kiến thức về các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và các môn học đại cương khác
YÊU CẦU MÔN HỌC
Sinh viên cần tham dự đầy đủ các buổi học để nghe giáo viên giảng giải cặn kẽ các khái niệm trong xã hội học để có thể hiểu rõ những nội dung trong giáo trình
CÁCH TIẾP NHẬN NỘI DUNG MÔN HỌC
Để học tốt môn này, người học cần ôn tập các bài đã học, trả lời các câu hỏi; đọc trước bài mới và tìm thêm các thông tin liên quan đến bài học
Đối với mỗi bài học, người học đọc trước mục tiêu và tóm tắt bài học, sau đó đọc nội dung bài học Kết thúc mỗi ý của bài học, người đọc trả lời câu hỏi ôn tập và kết thúc toàn bộ bài học
Trang 11BÀI 1: XÃ HỘI HỌC
Sau khi học xong bài này, sinh viên có các kiến thức sau:
- Hiểu được khái niệm, đối tượng nghiên cứu, các cấp độ trong nghiên cứu của xã hội học
- Nắm được các điều kiện tiền đề về sự ra đời của xã hội học và lịch sử phát triển của
xã hội học
- Hiểu được tư tưởng của một số nhà sáng lập của xã hội học
- Nắm vững được nhãn quan của xã hội học
- Một số nội dung chính của ba lý thuyết xã hội học: lý thuyết tương tác biểu tượng,
lý thuyết cơ cấu chức năng, lý thuyết xung đột-mâu thuẫn xã hội
1.1 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC
1.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu của xã hội học
“Sự quyến rũ của xã hội học nằm ở quan điểm của nó Quan điểm này luôn khiến chúng ta phải nhìn dưới một nhãn quan mới ngay chính thế giới mà chúng ta đã sống suốt cả cuộc đời.”
Peter Berger Đời sống xã hội của con người có thể được tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau
và xã hội học chỉ là một trong các phương thức tiếp cận thực tại trên Tuy nhiên, cũng như các khoa học khác, để được khẳng định là một một bộ môn khoa học riêng biệt, xã hội học cần làm rõ những đặc trưng trong quan điểm, trong lối tiếp cận, trong phương pháp cũng như trong các kỹ thuật nghiên cứu của mình
Xã hội học là một bộ môn khoa học mới xuất hiện trong những thế kỷ gần đây Chỉ đến năm 1838, nhà khoa học xã hội Pháp Auguste Comte lần đầu tiên sử dụng thuật
ngữ xã hội học (sociologie/sociology - là một từ kết hợp bởi hai từ gốc là “socius”,
“societas”- từ tiếng Latinh có nghĩa là xã hội và “logos” - có nguồn gốc từ tiếng gốc
Hi Lạp có nghĩa là học thuyết/bộ môn), để chỉ một bộ môn có một cách nhìn mới về xã hội của con người Ông được coi là người có công xây dựng nền móng đầu tiên cho ngành khoa học này Ngay từ khi mới hình thành đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau
về xã hội học Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng vì sự ra đời của bộ môn này không đồng nhất trên thế giới nên khó lòng có được sự thống nhất trong định nghĩa về nó
Tuy có những hướng nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung, các nhà Xã hội học thống nhất với nhau ở một điểm: Xã hội học là một ngành khoa học nghiên cứu một
Trang 12cách hệ thống các nhóm người Nó tập trung nghiên cứu các mối quan hệ hỗ tương và hành vi chung của các nhóm người
Khi một người phụ nữ ly dị chồng, các nhà tâm lý học thường đi tìm căn nguyên từ
sự phù hợp hay không những yếu tố về tâm lý, sở thích của các cặp vợ chồng Họ giải thích nguyên nhân của hiện tượng này là để các cá nhân phát triển tiềm năng của mình Nhưng dưới cách tiếp cận của xã hội học, hiện tượng ly hôn từ phía phụ nữ là do xu hướng bình đẳng về giới tính trong xã hội Một người tự tử có thể được coi là có sự
“bất bình thường” trong đầu hoặc vì cá nhân muốn trốn tránh sự thất vọng hay cô đơn, theo suy nghĩ thông thường, các nhà xã hội học lại tìm nguyên nhân từ phía các tác nhân xã hội, ví dụ, sự thất nghiệp hay sự hụt hẫng trong thời gian đầu mới nghỉ việc của những người về hưu
Như vậy, các nhà xã hội học không quan tâm tới đặc điểm của cá nhân mà chỉ quan tâm tới các nhóm người mà thôi Theo họ, những giải thích có tính cách cá nhân về những hành vi của nhóm là không hợp lý vì các hành động của con người chịu sự tác động của các lực lượng xã hội mà các cá nhân dù muốn dù không, cũng không thể tự tạo ra hay kiểm soát nổi (Emile Durkheim)
Các nhà xã hội học cho rằng, khi tham gia vào một nhóm nào đó, chúng ta luôn có
xu hướng tuân theo khuôn mẫu của nhóm Vì vậy, những người thuộc về các nhóm giống nhau thường có những khuynh hướng tư duy, cảm xúc, ứng xử gần nhau hơn Chẳng hạn, những người ở cùng một quốc gia hay một lãnh thổ, một dân tộc thường
có thói quen sinh hoạt như ăn mặc, tín ngưỡng, tâm thế gần như nhau
Theo quan sát của các nhà xã hội học, những hành vi của con người được thực hiện
theo khuôn mẫu mang tính đều đặn, lặp đi lặp lại và có sự phối hợp Ví dụ khi đi xe
trên đường, chúng ta luôn đi về phía bên phải của đường, cầm đũa bằng tay phải, cầm bát bằng tay trái, khi được giúp đỡ phải cám ơn, v.v
Như vậy, các nhà xã hội học cho rằng, đời sống xã hội gồm những sự điều chỉnh theo khuôn mẫu và chính những sự điều chỉnh theo khuôn mẫu này cho phép chúng ta
dự báo những hành vi xã hội Vì vậy có thể đưa ra nhận định về hành vi của con người như sau:
Các cá nhân trong thiết chế xã hội giống nhau cũng sẽ có những hành vi tương tự như nhau; những hành vi này là sản phẩm của sự tương tác xã hội cụ thể; những kinh nghiệm và các quan hệ xã hội tạo nên đời sống xã hội con người
Một cách tổng quát, xã hội học là một bộ môn nghiên cứu khoa học về xã hội con người, về các ứng xử và quan hệ của con người trong các nhóm, trong các tổ chức hình thành nên xã hội Nhưng định nghĩa ngắn gọn này còn khá mơ hồ, chưa cho phép ta phân biệt xã hội học với các bộ môn khác như tâm lý học, dân tộc học
Trang 13Các nhà xã hội học đã nỗ lực khắc phục khó khăn này bằng cách nêu lên những lĩnh vực cụ thể của hành vi xã hội, của ứng xử xã hội mà họ quan tâm tìm hiểu, như: con người cư xử như thế nào trong gia đình, tại sao có những người giàu người nghèo, tại sao có những người phạm vào tội ác
Hai khuynh hướng lớn về đối tượng của xã hội học
Cuối thế kỷ XIX, Max Weber và É Durkheim đưa ra hai lối nhìn về xã hội và về
xã hội học khác nhau mà sau này đã ảnh hưởng nhiều đến các nhà xã hội học, các trường phái xã hội học đương đại
1.1.1.1 Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội
Theo M Weber, xã hội học phải tập trung nghiên cứu các hành động xã hội (social
action) Hành động xã hội khác hành động giản đơn bởi lẽ trong hành động xã hội, tác nhân hành động phải quan tâm đến những tác nhân khác Hành động xã hội phải có một ý nghĩa với người khác, phải quan tâm người khác đã giải thích nó như thế nào và phản ứng ra làm sao Có nhiều loại hình hành động xã hội, nhưng M Weber đặc biệt lưu ý đến hành động xã hội duy lý vì nó là một trong những đặc điểm chi phối xã hội hiện đại
Từ quan niệm về hành động xã hội, M Weber cho rằng xã hội học phải mang tính thông hiểu (comprehensive sociology), bởi lẽ nhà xã hội học phải tìm hiểu quan điểm,
ý đồ, sách lược của các tác nhân xã hội mới có thể lý giải ý nghĩa của hành động Như vậy hành động xã hội không thể được phân tích riêng lẻ mà phải được phân tích trong những mối tương tác xã hội Do đó, nhà xã hội học cũng phải phân tích, nhận thức được khoảng cách giữa những mục tiêu ban đầu và kết quả có được
Những nhà xã hội học theo khuynh hướng này thường sử dụng phương pháp định tính trong nghiên cứu các hiện tượng xã hội Phương pháp này chủ yếu tìm hiểu những mối liên hệ logic giữa các hiện tượng xã hội bằng cách so sánh những điểm giống nhau, khác nhau để tìm ra tính tương đồng về cơ cấu, về chức năng giữa các hiện tượng
1.1.1.2 Xã hội học nghiên cứu sự kiện xã hội
Khuynh hướng thứ hai do É Durkheim khởi xướng, quan niệm xã hội học phải
nghiên cứu các sự kiện xã hội (faits sociaux/social facts) Các sự kiện xã hội (hay hiện
tượng xã hội) là biểu hiện của ý thức tập thể Durkheim đã phân biệt, ý thức cá nhân là tập hợp những sở thích, xu hướng hoàn toàn có tính cách cá nhân, trong khi ý thức tập thể được hình thành do những chuẩn mực, giá trị của cả một nhóm xã hội Từ đó Durkheim định nghĩa những sự kiện xã hội là tập hợp những hành động, tư tưởng và tình cảm từ bên ngoài do xã hội áp đặt cho cá nhân Như vậy, sự kiện xã hội không có
Trang 14tính cá nhân và là điều xã hội muốn chia sẻ với các thành viên qua quá trình xã hội hoá
Các sự kiện xã hội là những sự kiện có tính cách tập thể, nghĩa là không phải sự kiện của một cá nhân đơn độc mà là của nhiều cá nhân, trong mối quan hệ giữa các cá nhân Thật ra, vấn đề không đơn giản như vậy, vì như R Aron đã nhận xét, các hiện tượng của con người, hiện tượng nhân văn đều ít nhiều mang tính cách xã hội, bởi lẽ các hiện tượng này được sản sinh trong các tập thể và các tập thể này sẽ tác động lên chúng Các hiện tượng xã hội còn có tính khách quan - khách quan không chỉ trong các sự kiện có thể quan sát được, mà còn trong ý nghĩa É Durkheim đã đề cập, là những sự kiện có sức cưỡng chế lên hành vi của con người, ví như các niềm tin (beliefs), các giá trị Các sự kiện xã hội còn mang tính tổng quát Tổng quát không phải là những đặc thù trong các sự kiện mà là những nét chung, những tương đồng của những sự kiện cụ thể Và cuối cùng, sự kiện xã hội phải là những sự kiện thực nghiệm
- nghĩa là có thực, chứ không phải là những cái mong muốn, những cái phải có
Từ quan điểm về sự kiện xã hội, É Durkheim cho rằng xã hội học phải có tính khách quan Xã hội học không thể nghiên cứu những sự kiện xã hội từ những cá nhân bởi lẽ sự kiện xã hội thuộc về ý thức tập thể chứ không phải ý thức cá nhân Do đó, một sự kiện xã hội phải được giải thích do một sự kiện xã hội khác có trước - như trường hợp ông giải thích về tự tử Cũng vì nhấn mạnh đến tính khách quan mà Durkheim đã đề nghị “Phải phân tích các sự kiện xã hội như các đồ vật”, có nghĩa là
có thể quan sát được quá trình nghiên cứu các sự kiện xã hội
Từ những luận điểm trên, các nhà xã hội học theo khuynh hướng này thường sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để tìm hiểu các hiện tượng xã hội Với phương pháp định lượng, vấn đề nghiên cứu được thao tác hoá thành những chỉ báo, những biến số cụ thể, có thể đo lường được Và nghiên cứu xã hội học là nhằm đi tìm những mối quan hệ giữa các biến số, những tính quy luật của những biến số
Như vậy hiện tượng xã hội là một hiện tượng phức tạp và ta có thể nghiên cứu chúng dưới nhiều lối tiếp cận khác nhau, dưới nhiều góc độ khác nhau: tâm lý, kinh tế, pháp luật, xã hội Những nội dung cụ thể trên phần nào làm rõ hơn đối tượng của xã hội học Nhưng cần phải nói ngay, nét đặc thù của xã hội học không phải là nghiên cứu cái gì, bởi lẽ nhiều bộ môn khoa học xã hội cũng cùng nghiên cứu những hiện
tượng xã hội nêu trên mà là nghiên cứu thế nào Điều đó có nghĩa là phải thấy đặc thù
của xã hội học trong lối nhìn, trong góc độ, trong nhãn quan nghiên cứu của nó
1.1.2 Nhãn quan xã hội học
Trong nghiên cứu của mình, các nhà xã hội học có thể sử dụng những lối tiếp cận khác nhau Nhưng mọi nhà xã hội học đều phải có nhãn quan phân tích xã hội học
Trang 15Trước hết, cuộc sống xã hội của con người là một hệ thống đan xen các mối quan
hệ giữa những cá nhân Các mối quan hệ này có thể được phân tích tối thiểu dưới hai góc độ: góc độ tâm lý học và góc độ xã hội học Nhà tâm lý nghiên cứu các mối quan
hệ giữa các cá nhân để tìm hiểu sự hình thành và phát triển nhân cách của các con người cụ thể, trong khi nhà xã hội học đặt các quan hệ liên cá nhân đó (relations interpersonnelles) trong một bối cảnh rộng lớn hơn của các nhóm, các tổ chức, các định chế, trong đó các mối tương quan này được hình thành Nói cách khác, xã hội học đặt trọng tâm vào khía cạnh xã hội của các mối quan hệ trên và qua đó tìm hiểu tổ chức xã hội của con người và sự phát triển của nó
Khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, đặc trưng của xã hội học là nghiên cứu xem
những điều kiện xã hội, những lực xã hội ảnh hưởng như thế nào lên ứng xử, lên
những mối quan hệ giữa con người Điều kiện xã hội là những thực thể của đời sống
mà chúng ta đã cùng nhau tạo ra, xuất phát từ tương tác của con người Những điều kiện xã hội khác những điều kiện sinh lý và những điều kiện tâm lý Những điều kiện sinh lý tác động đến ứng xử và nhu cầu của chúng ta xét như là một sinh vật Còn các
dữ kiện tâm lý là những dữ kiện liên quan đến hành vi của chúng ta với tư cách là
những cá nhân
Trước một hiện tượng xã hội như ly hôn, thông thường người ta có thể giải thích rằng những cặp vợ chồng ly hôn là do họ không còn có thể chung sống với nhau nữa, hoặc do quan hệ giữa họ bị gãy đổ do những căng thẳng kinh tế, hoặc do căng thẳng trong công việc, do chồng rượu chè, hay do không chung thuỷ Những lý do này đều
có thực, khi ta tìm hiểu nguyên nhân của những trường hợp riêng biệt Nhưng còn nhiều nguyên nhân khác nữa Lấy thí dụ những trường hợp ly hôn ở Mỹ trong khoảng thời gian 1890-1982 Trong thế kỷ qua, tỷ lệ ly hôn ở Mỹ đã gia tăng gấp mười lần, như vậy bên cạnh những nguyên nhân của từng cá nhân cụ thể trong quyết định ly hôn, những điều kiện xã hội cũng có tác động của chúng: cũng trong khoảng thời gian trên, lực lượng phụ nữ tham gia thị trường lao động gia tăng (năm 1900 chỉ 1/5 phụ nữ làm việc ngoài gia đình, năm 1984 là 1/2), thêm vào đó là các phong trào, các kỹ thuật kiểm soát sinh sản gia tăng sự chọn lựa của phụ nữ, ly hôn không còn bị xem là một tội lỗi như cách đây một thế kỷ
Trước hiện tượng tự tử của một cá nhân cũng vậy, nhà tâm lý có thể tìm hiểu những động cơ nào đã dẫn cá nhân đó đến hành động trên (sự buồn phiền, chán nản, mặc cảm tội lỗi ) trong khi nhà xã hội học chú trọng những đặc điểm tầng lớp xã hội của cá nhân đó như giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, tình trạng gia đình, giàu nghèo
để tìm xem tại sao tự tử ảnh hưởng đến tầng lớp này hơn tầng lớp khác Đó là điều mà
É Durkheim đã thực hiện trong công trình nghiên cứu về tự tử của ông Ông đã đưa ra
lý thuyết là những người hội nhập tốt về mặt xã hội - nghĩa là họ bị ràng buộc với người khác về mặt tình cảm và nghĩa vụ - thì ít tự tử hơn những người cô đơn về mặt
xã hội Qua các số liệu cụ thể, ông cho thấy tần suất tự tử ở những người thuộc nam giới, theo đạo Tin Lành, những người giàu có, độc thân cao hơn những thành phần xã
Trang 16hội khác (nữ giới, theo đạo Công giáo, có gia đình ) Như vậy, theo thuật ngữ của Peter Berger, nhãn quan xã hội học chú trọng đến cái tổng quát trong cái đặc thù Có nghĩa là nhà xã hội học phải nhận ra được những khuôn mẫu tổng quát của đời sống xã hội qua các ứng xử của các cá nhân cụ thể Trong khi thừa nhận cá nhân là những thực thể duy nhất, độc đáo, nhà xã hội học đồng thời cũng nhận ra các cá nhân đều thuộc về các thành phần, các tầng lớp riêng biệt và các thành phần, tầng lớp xã hội ứng xử khác nhau
Có được nhãn quan xã hội học còn có nghĩa là thấy được cái độc đáo trong cái bình thường Đây là điều mà C.W.Mills gọi là trí tưởng tượng xã hội học Điều này không
có nghĩa nhà xã hội học quan tâm đến những yếu tố kỳ quái trong xã hội Đúng hơn, nhà xã hội học phải thoát khỏi những lối giải thích khuôn sáo, để nhìn thế giới với đôi mắt mới mẻ, khám phá được những dữ kiện mới khác với những nếp nghĩ hằng ngày, tìm ra được một cái gì quan trọng mà lối giải thích thường ngày đã không đề cập đến Muốn vậy, trước những hoàn cảnh cụ thể ta phải lùi lại để tìm những lý giải tổng quát hơn, tìm ra những phân lớp của đối tượng mà ta đang nghiên cứu
Trong cuộc sống thường ngày, người ta thường giải thích các hiện tượng xã hội bằng "suy nghĩ thường tình" (common sense) Ví như, người ta áp dụng quan điểm
"sinh học" để lý giải các chức năng của hôn nhân, của sự phân công giới tính trong gia đình, quan điểm "tâm lý học" để giải thích hiện tượng tự tử, hay quan điểm "đạo đức" khi giải thích về hiện tượng tội phạm Thật ra các lối giải thích trên mang nhiều dấu ấn của các nền văn hoá đặc thù Ví như ở tộc người Tchambuli, đàn ông trang điểm sắc đẹp, ngồi lê đôi mách, làm những vật dụng để bán, trong khi phụ nữ chủ động trong hôn nhân, đi tìm chồng, dữ dội trong quan hệ tình dục và đi buôn bán để nuôi gia đình (Bilton,1993)
Những lối giải thích các hiện tượng xã hội thường gặp khác là theo "thuyết cá nhân" hay theo "thuyết tự nhiên" Thuyết cá nhân cho rằng sự kiện chỉ có thể được hiểu và giải thích thông qua các hành vi của cá nhân trong sự kiện đó, như khi người ta giải thích bằng những lý do cá nhân các hiện tượng tự tử, sự nghèo đói, các xung đột trong xí nghiệp Thuyết tự nhiên giả định các hành vi cá nhân là do bản năng, do số phận, do tiền định một cách tự nhiên như vậy, như khi người ta giải thích về hôn nhân, về vai trò người phụ nữ, về nhân cách
Nhãn quan xã hội học, trái lại, như đã trình bày ở trên là đi tìm những yếu tố, điều kiện xã hội, những sức ép xã hội, những yếu tố văn hoá, xã hội nào đã quy định những hành vi, những mối quan hệ giữa các cá nhân
Một đôi khi, nhãn quan xã hội học, trực giác phân tích xã hội học đến với ta một cách tự nhiên Khi tiếp xúc với một xã hội khác, việc nhận thức được các điều kiện xã hội đến với ta dễ dàng hơn Cũng vậy, những thành phần xã hội có kinh nghiệm bị gạt
ra bên lề xã hội dễ nhận thấy những tác động của điều kiện xã hội hơn những người
Trang 17khác Hay khi xã hội rơi vào một giai đoạn khủng hoảng thì mọi người dễ nhìn hoàn cảnh xã hội dưới nhãn quan xã hội học hơn
Ngày nay, nhãn quan xã hội học còn đòi hỏi phải nhìn và giải thích các hiện tượng
xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá, bởi lẽ do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của thông tin, các xã hội càng ngày càng có liên hệ với nhau, tương thuộc nhau; nhiều vấn
đề xã hội nghiêm trọng phải được giải quyết trên cấp độ toàn cầu và nhất là biết được cuộc sống của người khác sẽ giúp chúng ta hiểu được xã hội của chính mình nhiều hơn
1.1.3 Lợi ích của nhãn quan xã hội học
Trước hết, nhãn quan xã hội học nâng cao sự am hiểu của chúng ta về thế giới, về
xã hội bằng cách phê phán, đánh giá lại những "chân lý" mà ta đã chấp nhận một cách mặc nhiên, giúp giảm bớt định kiến xã hội
Thứ đến, khi phân tích mối tương quan giữa hành vi, ứng xử của con người trong
cơ cấu và vận hành của tổ chức xã hội, nhãn quan xã hội học giúp ta hiểu hơn những
cơ hội cũng như những hạn chế, những bó buộc và những khả năng chúng ta gặp phải trong cuộc sống
Cuối cùng, nhãn quan xã hội học giúp cho chúng ta tham gia tích cực hơn vào các hoạt động trong xã hội, giúp tổ chức có hiệu quả các quá trình hoạt động xã hội Việc phân tích cơ cấu và biến chuyển xã hội cho phép đưa ra các dự báo phục vụ việc vạch
kế hoạch, chính sách đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
1.2 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC
Mặc dù tư tưởng xã hội đã có từ lâu, kể từ khi lịch sử của con người được ghi nhận, nhưng xã hội học như là một bộ môn khoa học chỉ phát triển từ thế kỷ XIX và XX Những giải thích của các nhà triết học Hi Lạp và La Mã trước đây về con người và xã hội chủ yếu dựa vào những giả định mơ hồ không kiểm chứng được về bản chất của con người và không giải thích được một cách hệ thống cơ cấu và vận hành của xã hội Những khám phá khoa học vào thế kỷ XVII đưa đến ý tưởng về sự tiến bộ, đối lập với những ý tưởng trước đây cho rằng con người lệ thuộc vào sự an bài của thượng đế Điển hình cho việc giải thích sự phát triển của tư tưởng con người trong khi lãnh hội thế giới là quan điểm của A Comte về "định luật ba giai đoạn" (law of the three stages) Theo ông tư tưởng con người đã tiến hoá qua ba giai đoạn: giai đoạn thần học (theological stage) là giai đoạn con người quan niệm xã hội là sự phản ánh của các lực lượng siêu tự nhiên, con người tin tưởng vào sự an bài của thượng đế Giai đoạn này kéo dài đến thời Trung cổ Giai đoạn siêu hình học (metaphysical stage) được đánh dấu khi con người dùng khái niệm "bản chất" để giải thích các sự kiện nhân văn và xã hội (như quan niệm của Nho giáo "Nhân chi sơ tính bản thiện", hay quan niệm “Con
Trang 18người là chó sói của con người” của Hobbes sau này) Cả hai giai đoạn này không giải thích xã hội bằng chính xã hội mà bằng những yếu tố ngoại lai Và cuối cùng, giai đoạn khoa học (scientific stage), khởi đầu cách đây vài thế kỷ, cho rằng thế giới vật chất và xã hội tuân theo những quy luật khách quan mà con người có thể khám phá được và khoa học là con đường duy nhất giúp con người khám phá ra những quy luật này Đó chính là quan điểm duy nghiệm (empiricism)
Đồng thời vào thế kỷ XVIII, các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và chính trị ở châu Âu và Bắc Mỹ đã thay đổi toàn diện xã hội và đem lại những viễn tưởng mới cho đời sống xã hội của con người Từ một lối sống chủ yếu dựa trên nông thôn, nông nghiệp, và thủ công, con người đã chuyển sang một nếp sống đô thị, công nghiệp Tuy nhiên, lối sống mới cũng mang tính nghịch lý: một mặt gia tăng năng suất lao động, đem lại một lối sống đa dạng, nhưng mặt khác phá vỡ xã hội cổ truyền, đem lại những vấn đề xã hội mới như thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm
Từ những ý tưởng chớm nở trong thời kỳ trên đã nảy sinh ý định xây dựng một khoa học về xã hội con người Đó là xã hội học Bộ môn này phát triển ở châu Âu vào thế kỷ XIX, phát triển rất sớm ở Pháp và ở Đức, và sau đó ở Anh, ở Mỹ
Tuy nhiên, xã hội học với tư cách là một ngành khoa học độc lập chỉ phát triển mạnh từ sau thế chiến thứ hai Chúng ta có thể nêu lên một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển này:
- Những thảm hoạ của chiến tranh do chủ nghĩa phát xít gây nên làm con người ý thức hơn việc nghiên cứu sự vận hành của xã hội; đồng thời những tiến bộ khoa học cũng đem lại cho con người những vấn đề xã hội mới: sự bùng nổ dân số, nghèo đói, tội ác, thất nghiệp
- Trong việc giải quyết những vấn đề xã hội, cải tạo xã hội, con người thấy cần thiết phải có kiến thức về xã hội Phải nghiên cứu sâu xa xã hội mới có thể biến đổi chúng
- Cuộc cách mạng thông tin đại chúng đã đem lại nhiều hiểu biết hơn về các hiện tượng xã hội, các lối sống, các nền văn hoá khác nhau
- Trong mọi vấn đề của xã hội, trong mọi lãnh vực hoạt động, ngày càng đòi hỏi nhiều kiến thức về con người, về xã hội, bởi lẽ các vấn đề xã hội nếu chỉ được giải quyết thuần tuý dưới góc độ kỹ thuật hay góc độ kinh tế đều không đem lại kết quả mong muốn
Trong suốt giai đoạn hình thành và cả trong giai đoạn hiện nay, những tư tưởng, ý kiến, lối tiếp cận của các nhà xã hội học tiền phong vẫn chiếm một vị trí quan trọng, vì
họ đã đặt ra những vấn đề mà các xã hội công nghiệp phải đối phó, phải giải quyết
Trang 191.3 CÁC NHÀ XÃ HỘI HỌC KINH ĐIỂN
1.3.1 Auguste Comte (Pháp, 1798-1857)
Auguste Comte là cha đẻ của từ "xã hội học" Cũng như những nhà triết học xã hội khác vào thời đó, A Comte chịu ảnh hưởng bởi vật lý học Ông chia xã hội học thành hai bộ phận tương ứng với hai ngành vật lý: 1/ "Tĩnh học xã hội" - bộ môn này chú trọng nghiên cứu sự ổn định, trật tự xã hội và vấn đề tại sao xã hội liên kết được với nhau ; 2/ bộ môn "Động thái xã hội" nghiên cứu những vấn đề về biến chuyển và bất
ổn định xã hội Cũng như vật lý muốn tìm hiểu những quy luật của sự chuyển động, bộ môn xã hội học cũng phải nghiên cứu để tìm ra những quy luật của biến chuyển xã hội Tìm kiếm những quy luật xã hội là mối quan tâm hàng đầu của các nhà xã hội học tiền phong
A.Comte cũng đã phát triển khái niệm thực chứng (positivism)- có nghĩa là áp dụng những phương pháp khoa học để tìm hiểu xã hội và biến chuyển của nó Áp dụng khái niệm này vào việc tìm hiểu các xã hội hiện đại, Comte nhấn mạnh rằng xã hội học phải dựa trên sự quan sát cẩn thận, phải thường xuyên dựa vào các phương pháp thống
kê Nhưng đồng thời ông ta cũng thừa nhận rằng có lẽ xã hội học ít tính cách thực nghiệm hơn do những khó khăn về mặt thực tế, về mặt đạo đức khi phải can thiệp vào đời sống của con người
Một phương pháp khác được sử dụng bởi những nhà xã hội học thực nghiệm là phương pháp đối chiếu Khi sử dụng phương pháp này các nhà xã hội học có thể so sánh cách thức theo đó các xã hội khác nhau được tổ chức như thế nào và có thể so sánh các xã hội sơ khai với các xã hội hiện đại Phương pháp này cho ta nhiều kết quả
lý thú, nhưng đồng thời cũng chỉ có tính cách tương đối, bởi lẽ mỗi xã hội đều mang tính đặc thù trong không gian và thời gian Đối với Comte, các khả năng để so sánh các xã hội và các nền văn minh khác nhau xem ra hầu như là vô hạn Tóm lại, ý tưởng đóng góp độc đáo của A.Comte là sự cần thiết của một bộ môn khoa học mới về tổ chức và lịch sử xã hội con người, đó là xã hội học
1.3.2 Herbert Spencer (Anh, 1820-1903)
Một khuôn mặt điển hình khác của xã hội học vào thời kỳ đầu là H Spencer, người
đã dùng lý thuyết tiến hoá để giải thích biến chuyển xã hội Các công trình của Spencer về xã hội đã thu hút được sự chú ý quan trọng của giới trí thức vào cuối thế kỷ XIX Khác với Comte, Spencer cho rằng các xã hội không nhất thiết phải trải qua các giai đoạn phát triển, và đặt câu hỏi tại sao biến chuyển xã hội đã xảy ra Biến chuyển
xã hội đã xảy ra bởi vì các thành viên trong xã hội phải thích ứng với các thay đổi trong môi trường họ đang sống, có thể là những biến chuyển trong môi trường thiên nhiên hoặc trong môi trường xã hội như sự gia tăng dân số, hoặc do những phương pháp sản xuất thực phẩm tốt hơn đã được tạo ra Trong khi phát triển lý thuyết về tiến
Trang 20hoá xã hội, Spencer đã vay mượn những ý tưởng của C Darwin, do đó lý thuyết của ông còn được gọi là lý thuyết Darwin xã hội (social darwinism)
1.3.3 Karl Marx (Đức, 1818-1883)
Ngược lại với Comte và Spencer, K Marx tập trung nghiên cứu vai trò của mâu thuẫn trong biến chuyển xã hội Ông cho rằng những hình thái xã hội mới được hình thành từ mâu thuẫn và xung đột trong các hình thái cũ Marx đã phê bình gắt gao chủ nghĩa tư bản và tiên đoán nó sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội Không có một nhà xã hội học tiền phong nào có ảnh hưởng sâu rộng trên bộ môn khoa học mới này như là
K Marx Nhưng Marx không tự gọi mình là nhà xã hội học Đúng hơn ông nghĩ mình trước hết là một nhà triết học và sau đó là nhà kinh tế chính trị học Ông thừa nhận đã bàn đến những vấn đề xã hội học, nhưng những công trình của ông còn bao trùm lên nhiều lãnh vực khác như triết học, kinh tế học, lý thuyết chính trị và sử học
Marx được xem như một trong những nhà sáng lập bộ môn xã hội học đương đại là
do lý thuyết về biến chuyển xã hội và sự phân tích của ông về mâu thuẫn xã hội Nhưng khác với những nhà xã hội học cùng thời, Marx không dựa trên những sự tương đồng với khoa vật lý và khoa sinh vật Lý thuyết của ông về biến chuyển xã hội
có tính chất xã hội học vì nó dựa trên những xung đột giữa những giai cấp lớn trong xã hội, không đề cập đến những biến cố riêng biệt nào hoặc những cá nhân lãnh tụ đặc biệt nào Những vấn đề trung tâm Marx nghiên cứu là tại sao các cuộc cách mạng lại xảy ra và đặc biệt tại sao chủ nghĩa tư bản đã thay thế một hình thái của tổ chức xã hội trước đó là chế độ phong kiến, thông qua các cuộc cách mạng vào thế kỷ XVIII
Marx cho rằng quyền sở hữu tư liệu sản xuất đã đem lại sự bất bình đẳng về kinh tế
và chính trị Mặc dù thừa nhận tính sáng tạo của lực lượng sản xuất trong chủ nghĩa tư bản, ông cho rằng giai cấp công nhân đã bị bóc lột bởi giai cấp tư sản là những người
sở hữu tư liệu sản xuất Giai cấp công nhân sẽ nhận thức được thực trạng của mình và đấu tranh xây dựng một xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa
Lý thuyết của Marx luôn hữu ích đối với những nhà xã hội học khi phân tích vai trò của mâu thuẫn trong biến chuyển xã hội Và ước mơ về bình đẳng, về công bằng xã hội luôn là suy nghĩ của những nhà xã hội học chân chính
Trang 21Một trong những trọng tâm nghiên cứu của ông là tìm cách mô tả những nét cơ bản của các xã hội mới phát sinh từ những cuộc cách mạng chính trị và xã hội từ thế kỷ 18
và 19 Weber nghiên cứu những điều kiện hình thành nên những lối ứng xử kinh tế và chính trị có tính cách "duy lý" (rational) xuất hiện trong xã hội Những nghiên cứu của ông đã ảnh hưởng đến bản chất và hướng đi của xã hội học hiện đại
Có lẽ không một nhà sáng lập xã hội học nào chịu ảnh hưởng sâu đậm các lý thuyết mác-xít về xung đột và biến chuyển xã hội như là Max Weber Weber thường dùng những ví dụ rút từ lịch sử các xã hội trên khắp thế giới Max Weber là một nhà xã hội học lớn Các công trình của ông bao trùm nhiều khía cạnh, ông nghiên cứu về các tôn giáo trên thế giới, về tổ chức thư lại (bureaucracy) của nhiều xã hội khác nhau, bản chất của các thành thị, sự hình thành của chủ nghĩa tư bản, các loại hình khác nhau của
tổ chức chính trị, vai trò của các lãnh tụ trong các biến chuyển xã hội và tương quan của các tổ chức kinh tế đối với các biến chuyển xã hội Weber sử dụng các dữ kiện lịch
sử để trả lời cho vấn đề chính yếu ông đưa ra: với những điều kiện nào các ứng xử chính trị và kinh tế có tính cách duy lý đã xuất hiện trong các xã hội khác nhau Khi nói đến ứng xử duy lý Weber muốn ám chỉ các hành động dựa trên sự tính toán, được đánh giá theo những tiêu chuẩn khách quan, nghĩa là đối lập với các niềm tin, các giá trị dựa trên truyền thống Điều này không có nghĩa là Weber không đánh giá cao tầm quan trọng của tôn giáo trong xã hội hoặc ông không biết đến giá trị của truyền thống Ông chỉ đơn giản nêu lên nhận định, xã hội nào đang tìm cách áp dụng tính duy lý vào khoa học, vào kinh doanh, vào chính trị và đặc biệt vào luật học - đều đang trở thành những xã hội hùng cường hơn trên sân khấu thế giới Đối với Weber sự bành trướng của tính duy lý này trong ứng xử của các cá nhân trong đời sống hằng ngày là nét đặc trưng của các xã hội hiện đại Một trong các tác phẩm quan trọng của Max Weber là
"Đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản" (1904) Trong cuốn sách này,
M Weber tìm hiểu tương quan giữa các ý tưởng tôn giáo và giai đoạn đầu phát triển của chủ nghĩa tư bản Ông cho thấy, giáo huấn của Tin Lành đã dẫn tới việc đầu tư hơn
là tiêu thụ, sự đầu tư này đến lượt nó khuyến khích sự phát triển chủ nghĩa tư bản tại các xã hội theo đạo Tin Lành Như vậy, Weber chứng minh vai trò quan trọng của tôn giáo trong việc đưa đến những thay đổi trên bình diện kinh tế Nhưng đồng thời ông cũng đề cập đến tính đa dạng của các nguyên nhân (pluralité des causes) và như vậy chủ nghĩa tư bản hiện đại còn do những nguyên nhân chính trị, kinh tế khác nữa
Một đóng góp khác của M Weber là phương pháp thông hiểu (compréhension) trong xã hội học Đối với ông, lối giải thích xã hội học phải đi tìm hiểu ý nghĩa của các tác nhân xã hội trong các hoạt động xã hội của họ, như ông ta đã tìm hiểu động cơ đạo đức ở những nhà tư bản theo đạo Calvin
Cũng trên bình diện phương pháp luận, Max Weber đã đưa ra khái niệm loại hình
lý tưởng (ideal type) – là một sự mô tả có tính cách trừu tượng bất cứ hiện tượng xã hội nào bằng cách nêu lên những đặc trưng cơ bản của hiện tượng xã hội này Nhưng
Trang 22việc trừu tượng hoá này phải dựa trên những sự kiện và loại hình lý tưởng này không mang một sự phê phán giá trị
1.3.5 Émile Durkheim (Pháp, 1859-1917)
Nhưng có lẽ nhà xã hội học có ảnh hưởng nhất của thời kỳ đầu này là É Durkheim
É Durkheim là nhà xã hội học đầu tiên có địa vị trong một đại học lớn và là người sáng lập ra bộ môn Xã hội học tại trường Đại học Sorbonne (Pháp) sau thời gian đứng đầu khối ngành khoa học xã hội tại đại học Bordeaux Năm 1896, ông sáng lập ra tạp
chí Niên san Xã hội học (L’Anneé sociologique) và tạp chí này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Một trong những công trình nổi tiếng của ông là Tự tử công bố năm 1897
mà trong đó, ông đã vạch ra một lối tiếp cận mới cho nghiên cứu xã hội học Bằng việc trình bày các số liệu thống kê có thể kiểm chứng được về tỷ suất tự tử trong các xã hội khác nhau, ông đã có thể chứng minh, có thể tiên đoán được ở nơi đâu và khi nào có tỷ suất tự tử cao Các nguyên nhân tâm lý có thể có giá trị đối với trường hợp tự tử của một cá nhân nào đó, nhưng Durkheim cho thấy rằng các biến số xã hội như là tôn giáo hay là sự dao động về kinh tế có thể giải thích sự khác biệt về số người tự tử ở các địa phương, các xã hội khác nhau
Một đóng góp khác của Durkheim là quan niệm của ông về sự kiện xã hội (fait social) Hầu như mọi nhà xã hội học đều tin rằng vấn đề tự tử có thể được giải thích chủ yếu bởi trạng thái tinh thần của cá nhân như sự chán nản hoặc mặc cảm tội lỗi Nhưng Durkheim cho thấy rằng ở một số xã hội một vài hình thức tự tử là do áp đặt của các nhóm xã hội đối với cá nhân, ví như tục Suttee ở Ấn Độ Và công trình nghiên cứu của Durkeim cho thấy rằng trong các xã hội mà tài sản cá nhân có thể tăng hay giảm một cách đột ngột, tỷ suất tự tử có thể cao hơn các xã hội trong đó các điều kiện kinh tế ít dao động Theo ông, sự kiện xã hội là một sự kiện bên ngoài cá nhân, khách quan, có sức ép lên ứng xử của cá nhân và phải có tính thực nghiệm (É Durkheim, 1993)
Như vậy, hai trong các nguyên tắc quan trọng mà E Durkheim đòi hỏi khi phân tích sự kiện xã hội là phải xem xét sự kiện xã hội một cách khách quan “Phải xử lý các
sự kiện xã hội như những đồ vật” và “cái xã hội phải được giải thích bằng cái xã hội” Nhãn quan xã hội học của Durkeim nhấn mạnh việc nghiên cứu các cơ cấu xã hội
và sự vận hành của chúng Suốt cuộc đời, con người tham gia vào nhiều loại hình cơ cấu xã hội khác nhau như: gia đình, học đường, quân đội, xí nghiệp, nghiệp đoàn, giáo hội, đảng phái Lối ứng xử của chúng ta với tư cách là những cá nhân thường được giải thích rõ hơn bằng cách qui chiếu vào các vai trò, vị trí của chúng ta trong tổ chức
và khi tìm hiểu chức năng các cơ cấu này Cũng theo ông, sự cố kết trong xã hội là do
sự hội nhập (intégration) của những cá nhân và do sự tồn tại của một nền đạo đức được xây dựng một cách hợp lý dựa trên những giá trị tập thể
Trang 23Như vậy, các nhà sáng lập của bộ môn xã hội học hiện đại có khuynh hướng tư duy
ở cấp độ vĩ mô Các công trình của họ thường đề cập đến các xã hội tổng thể và cho thấy các đặc điểm của các xã hội đó ảnh hưởng thế nào tới ứng xử của con người và biến chuyển xã hội
1.4 SỰ HÌNH THÀNH CỦA XÃ HỘI HỌC VÀ MỘT SỐ LÝ THUYẾT CHỦ YẾU
Xã hội học phát sinh từ châu Âu nhưng vào những năm đầu thế kỷ XX, bộ môn này tìm thấy ở Bắc Mỹ, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, một mảnh đất màu mỡ để phát triển Ở đây, trước hết, sức ép của nhu cầu cần những thông tin thực nghiệm liên quan đến điều kiện xã hội đang biến đổi cực kỳ nhanh chóng do quá trình công nghiệp hoá, nền đạo đức Tin lành với tinh thần duy lý hoá, chủ nghĩa thực dụng với tiêu chuẩn hiệu năng hàng đầu, các môi trường đại học cởi mở và canh tân đã thúc đẩy tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu xã hội học có tính chất thực nghiệm và cũng đã hình thành nhiều trường phái xã hội học Ta có thể kể đến hai trường phái riêng biệt xuất hiện trong các đại học Mỹ vào những năm trước thế chiến thứ hai: trường phái Chicago sử dụng các phương pháp nghiên cứu dựa trên sự quan sát, nghiên cứu thực địa, đặc biệt chú trọng nghiên cứu tương quan giữa cá nhân và xã hội, do giả định rằng trật tự xã hội là kết quả của một quá trình tương tác xã hội phức tạp giữa những cá nhân H.Blumer đã gọi quan điểm này là "tương tác biểu tượng" Trong khi đại bộ phận các đại học ở miền Đông như Harvard, Colombia quan tâm đến những nghiên cứu xã hội ở cấp độ trung
mô và vĩ mô, như T.Parsons với lý thuyết chức năng đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngành
xã hội học Bắc Mỹ cho đến những năm sau thế chiến thứ hai
Sau thế chiến thứ hai và mãi đến những năm của thập niên 90, xã hội học càng phát triển với nhiều lý thuyết, nhiều trường phái đa dạng:
- Xã hội học ở Mỹ (và nói chung xã hội học anglo-saxon) với các lý thuyết như: xã hội học phê phán của Alvin Gouldner, của R.W.Friedrichs, của C.W.Mills; các biến thể của lý thuyết tương tác biểu tượng với các tác giả E.Goffman, H.S.Becker, A.Strauss, H.Garfinkel; lý thuyết "dán nhãn" (théorie de l'étiquage) với E.Lemert,
de J.Gusfield, H.S.Becker; lý thuyết đóng kịch với nhà xã hội học Canada Goffman, Glaser, Strauss; trào lưu phương pháp luận dân tộc học (ethnomethodology) với Garfinkel, Cicourel, Sudnow ; lý thuyết xã hội học lịch
sử đổi mới với N.Elias, Tilly, Wallerstein, C.Geertz, R.Bellah, Anderson
- Xã hội học Pháp hồi sinh với "tứ trụ" nổi tiếng: P.Bourdieu với lý thuyết cơ cấu phái sinh (structuralisme génétique); A.Tourain với lý thuyết hành động (actionnalisme); M.Crozier với mô hình chiến lược (modèle stratégique); R.Boudon với lý thuyết cá nhân phương pháp luận (individualisme méthodologique)
Trang 24- Xã hội học Đức vẫn với các truyền thống duy nghiệm, mác-xít và hiện tượng luận, nhưng cũng nổi bật lên các khuôn mặt mới có tiếng tăm như J.Habermas, N.Luhmann
- Xã hội học mác-xít không chỉ có ảnh hưởng ở Đông Âu mà còn tác động mạnh mẽ
xã hội học tại Đức, Pháp, Ý, châu Mỹ Latinh
Xã hội học cổ điển và xã hội học đương đại đa dạng như vậy, nhưng để có một cái nhìn hệ thống, ta tạm phân ra các ranh giới như sau: dựa trên các nguyên lý, các cấp độ nghiên cứu và nội dung nghiên cứu xã hội học
1.4.1 Phân loại dựa trên những nguyên lý nghiên cứu
Khuynh hướng duy khách thể (objectivism): những nhà xã hội học thuộc khuynh hướng này xem các sự kiện xã hội, các hiện tượng tập thể là ở bên ngoài cá nhân Do
đó ta có thể nghiên cứu chúng một cách khách quan như nghiên cứu các sự vật và không quan tâm đến những động cơ cá nhân Như trường hợp É.Durkheim nghiên cứu hiện tượng tự tử đã không đề cập đến những động cơ cá nhân
Trái lại, những nhà xã hội học khác, như M.Weber, lại nghiên cứu hiện tượng xã hội từ những ý nghĩa mà cá nhân gán cho những hiện tượng này Lối tiếp cận này được gọi là duy chủ thể (subjectiviste) Bằng lối tiếp cận thông hiểu (compréhension) M.Weber đã giúp hiểu được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vào thế kỷ 16 một phần phát xuất từ những nguyên tắc đạo lý chi phối cuộc sống của các nhà tư bản chủ nghĩa theo đạo Cal-vin vào thời bấy giờ
Cũng có một số nhà nghiên cứu cố gắng phối hợp trong nghiên cứu của mình cả hai lối tiếp cận trên, như P.Bourdieu ở Pháp hay A.Giddens ở Anh Nhà xã hội học Pháp P.Bourdieu khi nghiên cứu về sự phân bố sinh viên theo học các đại học ở Pháp
đã dựa trên những dữ kiện định lượng để cho thấy rằng những sinh viên thuộc các tầng lớp xã hội bên dưới thường theo các phân khoa không được đánh giá cao ở đại học, nhưng đồng thời các sinh viên này qua việc học tập cũng cảm thấy một sự thành đạt cá nhân, và tự nhận thấy đang đi theo một "sứ mệnh" cao cả
1.4.2 Phân loại dựa trên cấp độ nghiên cứu
Xét về mức độ phức tạp, các nhà xã hội học nghiên cứu các hành vi xã hội dưới ba
cấp độ khác nhau
Xã hội học vi mô (micro sociology) quan tâm đến các hành vi xảy ra ở cấp độ cá
nhân và trong các nhóm nhỏ Điều này có nghĩa xã hội học nghiên cứu những khuôn mẫu tương tác giữa một số ít người Đây là xu hướng nghiên cứu của các nhà xã hội học như E.Goffman, G.H.Mead, H.Becker, các nhà xã hội học thuộc lý thuyết tương tác, thuộc trường phái Chicago
Trang 25Xã hội học ở mức độ trung mô (middle level) quan tâm đến việc nghiên cứu các cơ
cấu xã hội xem chúng ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống của những con người đang tham gia các cơ cấu xã hội này Các nhà xã hội học ở đại học Colombia Mỹ như P.Lazarfeld, R.Merton thường tiến hành những cuộc nghiên cứu trên các dữ kiện định lượng được thâu thập ở cấp độ quốc gia, họ không quan tâm đến việc đưa ra một khung khổ lý thuyết để quy chiếu, và cũng không muốn đi đến những kết luận có tầm khái quát
Xã hội học vĩ mô (macro sociology) cố gắng giải thích các quá trình xã hội ảnh
hưởng thế nào đến dân cư, đến các giai cấp xã hội và đôi khi đến cả toàn thể xã hội Ví như những cuộc nghiên cứu xem việc chuyển đổi từ những ngành công nghiệp nặng sang những ngành công nghiệp kỹ thuật cao đã ảnh hưởng thế nào đến đời sống của công nhân hay như cuộc nghiên cứu xem những tình cảm dân tộc của thời kỳ sau thế chiến thứ nhất đã làm nảy sinh chủ nghĩa phát xít như thế nào Các nhà xã hội học theo
xu hướng này thường đặt vấn đề nghiên cứu trong khung khổ xã hội bao quát, xem đó như là một hệ thống trừu tượng bao gồm những thành tố có quan hệ lệ thuộc nhau Và chính trong tương quan với các khung lý thuyết phân tích trên mà ta tiến hành nghiên cứu ý nghĩa của hiện tượng đang được quan sát Đó là khuynh hướng nghiên cứu của T.Parsons và của bộ môn xã hội học tại đại học Harvard (Mỹ) và khuynh hướng xã hội học Pháp, Đức nói chung
1.4.3 Phân loại dựa trên nội dung nghiên cứu
Dựa trên lối nhìn về xã hội, các chủ đề và nội dung nghiên cứu có thể phân ra khuynh hướng nghiên cứu về sự hội nhập xã hội (mô hình lý thuyết cơ cấu - chức năng), về sự bất bình đẳng, sự thống trị trong xã hội (mô hình lý thuyết mâu thuẫn xã hội) và về mối quan hệ xã hội tác động qua lại (mô hình lý thuyết tương tác biểu tượng)
Theo thuật ngữ của nhà xã hội học Kuhn, trong khi tìm hiểu xã hội các nhà xã hội học bị hướng dẫn bởi một hay nhiều “lộ trình”, hay mô hình lý thuyết (theoretical paradigm) Mô hình lý thuyết là một hình ảnh căn bản về xã hội, nó điều hướng suy nghĩ và nghiên cứu của nhà nghiên cứu
Mô hình lý thuyết tương tác biểu tượng (Symbolic interactionist approach)
Mô hình lý thuyết này chịu ảnh hưởng sâu đậm lý thuyết hành động xã hội của M.Weber Nhà xã hội học người Đức này nhấn mạnh nhu cầu phải thấu hiểu hiện tượng xã hội từ quan điểm của những người trong cuộc Như đã đề cập, ông nhấn mạnh vai trò của ý nghĩa mà con người gán cho sự vật, của tư tưởng và của cách con người suy nghĩ, quan niệm về xã hội
Chịu ảnh hưởng của M Weber, trường phái Chicago - như chúng ta đã đề cập - chú trọng nghiên cứu những mối quan hệ tâm lý-xã hội Mô hình lý thuyết này quan tâm nghiên cứu xem đời sống trong các nhóm xã hội chi phối thế nào nhận thức và ứng xử
Trang 26của con người Ví như công trình nghiên cứu của G.H Mead và F Znaniecki The
Polish peasants in Poland and America (1927) Trong công trình này các ông nghiên
cứu xem những lối ứng xử của người nông dân Balan khi đến định cư ở Mỹ và với thời gian tại sao lại thay đổi và thay đổi như thế nào Các ông tìm hiểu việc thích ứng với đời sống đô thị đã tạo nên những mô thức ứng xử thế nào nơi người nông dân Balan Cuộc nghiên cứu của hai ông cho thấy rằng môi trường của người di dân càng bị xáo trộn, càng vô trật tự (do ảnh hưởng của việc nhập cư, do thất bại trong việc thích ứng với những điều kiện mới), thì xem ra có nhiều khả năng cá nhân những người di cư càng có những hành vi mang tính chất chống lại xã hội
Một quan điểm nghiên cứu khác của trường phái Chicago này là quan điểm tương tác biểu tượng (symbolic interactionism), nghiên cứu xem cơ cấu xã hội hiện nay được hình thành như thế nào trong quá trình tác động hỗ tương của con người Hai tác giả điển hình của mô hình lý thuyết này là G.H.Mead (1863-1931) và E.Goffman Mead chú trọng mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, ông cho rằng cái tôi (self) là sản phẩm của tương tác xã hội Và chính thông qua những tương tác này mà các cơ cấu xã hội lớn hơn được hình thành Ví như, trường học thường có một số qui tắc thành văn và bất thành văn, chính thức và phi chính thức mà mọi học sinh sẽ học hỏi hay kinh nghiệm thấy khi trao đổi, khi tương tác với những học sinh các lớp trên Và chính qua các tương tác này mà các quy tắc của tổ chức được "xây dựng" và thay đổi Việc nghiên cứu quá trình này được gọi là lối tiếp cận tương tác biểu tượng Goffman áp dụng lối tiếp cận này trong việc nghiên cứu sự tương tác trong đời sống hằng ngày, như việc chào hỏi, nghiên cứu đời sống trong các viện cứu tế, các lối ứng xử trên
đường phố, tại những nơi công cộng
Trên cơ sở của lý thuyết này đã hình thành một số lối tiếp cận khác như phân tích tâm kịch (dramaturgical analysis) của E.Goffman (1922-82), phân tích trao đổi xã hội
(social exchange analysis) của G.Homans và P.Blau
Mô hình lý thuyết này cho phép chúng ta nhìn xã hội một cách cụ thể hơn, không còn bị chi phối bởi những cơ cấu xã hội trừu tượng Và xã hội là một tổng hoà các mối tương tác xã hội của cá nhân Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng các mối tương tác cụ thể thường ngày, có nguy cơ sẽ bỏ qua ảnh hưởng của những cơ cấu xã hội lớn hơn như các yếu tố văn hoá, chủng tộc, giai cấp, giới tính
Mô hình lý thuyết cơ cấu - chức năng (Structuro-functionalist approach)
Những người tiên phong trong mô hình lý thuyết này là H.Spencer và É.Durkheim Durkheim cho rằng mỗi yếu tố của xã hội giữ vai trò của một bộ phận trong việc giúp
xã hội tồn tại, ví như tôn giáo giúp cho việc hội nhập xã hội Sau này, ở Mỹ, Talcott Parsons (1902-1979) tiếp tục tư tưởng của Spencer và của Durkheim Ở các đại học
Trang 27Colombia, Harward và Yale, các nhà xã hội học đầu đàn quan tâm trước tiên đến những cấu trúc xã hội ở cấp độ vĩ mô Mô hình lý thuyết cơ cấu - chức năng do họ đề xướng nghiên cứu xã hội vận hành như thế nào để thực hiện các chức năng cơ bản trong đời sống con người
Mô hình lý thuyết này quan niệm xã hội là một hệ thống có nhiều bộ phận khác nhau, chúng liên kết với nhau nhằm đưa đến cố kết xã hội và ổn định xã hội Mô hình
lý thuyết này dựa trên hai tiền đề:
Trước hết, nó giả định xã hội bao gồm những cơ cấu xã hội, thường được định nghĩa như là những khuôn mẫu hành vi khá ổn định Những cơ cấu xã hội quan trọng nhất là những bộ phận chính yếu của xã hội, đó là gia đình, hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế và những định chế văn hoá (giải trí, nghệ thuật, tôn giáo ); Thứ đến, mỗi yếu tố của cơ cấu xã hội phải được hiểu dưới góc độ chức năng xã hội, xét như là các kết quả của sự vận hành xã hội với tính cách là một toàn thể Như vậy mỗi bộ phận xã hội có một hay nhiều chức năng để xã hội tồn tại
Một nhà xã hội học Mỹ khác có nhiều đóng góp cho mô hình lý thuyết này là R.K Merton, học trò của T Parsons Ông bổ túc thêm, bất cứ một bộ phận nào của xã hội cũng có hơn một chức năng và có những chức năng dễ được nhận ra hơn những chức năng khác Vì vậy, ông phân biệt hai loại chức năng: chức năng công khai (manifest)
và chức năng tiềm ẩn (latent) Chức năng công khai là chức năng mà mọi thành viên trong xã hội đều biết, trong khi chức năng tiềm ẩn là những kết quả không được nhận biết, không ý thức được Thí dụ, xe ôtô là một phương tiện để đi lại, nhưng nó cũng có những chức năng tiềm ẩn: khi buồn người ta lái xe đi chơi; trong xã hội Mỹ, nó củng
cố giá trị của người Mỹ về sự độc lập của cá nhân; nó cũng có thể là biểu tượng của địa vị xã hội Mô hình lý thuyết này còn có xu hướng cho rằng mọi kết cấu xã hội đều
có ích đối với mọi xã hội Nhưng Merton cho rằng không phải mọi yếu tố của kết cấu
xã hội đều thực sự cần thiết, mà đôi lúc nó phản chức năng (dysfunctionnal), nghĩa là
nó có thể gây những kết quả bất lợi cho sự vận hành của xã hội Ví như xe hơi có thể gây ô nhiễm Hay lòng yêu nước có chức năng thúc đẩy đoàn kết trong một quốc gia, nhưng cũng có thể đẩy một quốc gia vào một cuộc chiến tranh huỷ diệt và tốn kém (ví như trường hợp của Irak trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh) Theo mô hình lý thuyết này, những khuôn mẫu xã hội có tính phản chức năng có thể thay đổi với thời gian Ví
dụ, do ô nhiễm, người ta phải cải tiến xe hơi để bớt thải khí độc hại
Mô hình lý thuyết cơ cấu-chức năng là một mô hình lý thuyết lớn trong xã hội học, nét nổi bật nhất của mô hình này cho ta một cái nhìn về xã hội như là một toàn thể trật
tự, ổn định và dễ hiểu Từ những năm 1960 mô hình lý thuyết này được sử dụng rộng rãi trong xã hội học, nhưng trong những thập kỷ vừa qua nó bị phê phán gắt gao Tại sao có thể giả định xã hội có một trật tự “tự nhiên”, trong khi các khuôn mẫu xã hội thay đổi theo không gian và thời gian? Mô hình này phản ánh một ý thức hệ bảo thủ, biện minh cho hiện trạng khi quan niệm rằng mọi kết cấu xã hội đều hữu ích Nó cũng
Trang 28đề cao thái quá sự thống nhất xã hội, hội nhập xã hội và như vậy đã giảm thiểu những khác biệt do các yếu tố bất bình đẳng như giai cấp, chủng tộc, giới tính Thêm vào đó
nó nhấn mạnh sự ổn định xã hội nên đã không giải thích được những xung đột xã hội hoặc biến chuyển xã hội
Mô hình lý thuyết mâu thuẫn xã hội (social-conflict paradigm)
Từ sau thế chiến thứ hai, mô hình lý thuyết chức năng bị đặt thành vấn đề và cũng
từ đó người ta tìm đến mô hình lý thuyết mâu thuẫn xã hội (social-conflict paradigm), nhấn mạnh đến vai trò của xung đột và quyền lực trong việc giải thích không chỉ chuyển biến xã hội mà cả tính liên kết của xã hội
Mô hình lý thuyết này quan niệm rằng xã hội là một hệ thống có những bất bình đẳng xã hội và xung đột, chúng tạo nên những chuyển biến xã hội Trong khi mô hình
lý thuyết cơ cấu-chức năng xem xã hội như là một hệ thống giản đơn, liên kết, hội nhập với nhau và như vậy coi nhẹ những hậu quả do bất bình đẳng xã hội gây ra, thì ngược lại, mô hình lý thuyết mâu thuẫn mô tả xã hội như một thực thể bị phân chia bởi những bất bình đẳng xã hội liên quan đến giai cấp, chủng tộc, giới tính, tuổi tác Mô hình này xem những khuôn mẫu của bất bình đẳng là hệ luận của sự phân phối không đồng đều cho các tầng lớp dân cư khác nhau các tài nguyên trong xã hội như tiền tài, quyền lực, giáo dục, uy tín xã hội
Trong khi mô hình cơ cấu-chức năng thừa nhận có những yếu tố phản chức năng cho toàn xã hội, thì mô hình mâu thuẫn nhấn mạnh rằng có những yếu tố hữu ích cho một số người thì lại phản chức năng đối với một số người khác Ví dụ, hệ thống trường
dự bị đại học ở Mỹ chỉ có ích lợi cho con em thuộc tầng lớp trên Hay như hệ thống trắc nghiệm "khả năng đại học" chỉ dễ hiểu đối với các học sinh da trắng, con em những gia đình khá giả, ngay đối với những học sinh thông minh thuộc các tầng lớp khác thì hệ thống trắc nghiệm này cũng rất mông lung, mơ hồ
Trước bất kỳ vấn đề gì, mô hình lý thuyết mâu thuẫn thường đặt các câu hỏi như: thành phần xã hội nào hưởng lợi, thành phần nào bị thiệt hại trước biện pháp, vấn đề trên Mô hình lý thuyết này xem xã hội như một đấu trường tranh giành quyền lợi giữa các thành phần xã hội khác nhau Hơn thế nữa, các thành phần thống trị, ví như người giàu, nam giới, dân tộc chủ thể, thường cố gắng bảo vệ quyền lợi của họ bằng cách duy trì nguyên trạng
Một số nhà xã hội học sử dụng mô hình lý thuyết này không chỉ nhằm giải thích các hiện tượng xã hội mà còn nhằm biến đổi xã hội cho công bằng hơn (Macionis, 1997)
Thật ra, không mô hình lý thuyết nào độc lập với các mô hình lý thuyết khác, bởi lẽ mỗi mô hình lý thuyết nhấn mạnh các vấn đề khác nhau, và quan sát những góc độ khác nhau của đời sống xã hội Chúng ta cần kết hợp các mô hình lý thuyết này và việc
Trang 29kết hợp này gia tăng khả năng thông hiểu và giải thích các khía cạnh đa dạng của xã hội con người
Để đơn giản hoá, chúng ta tạm đưa ra những nét chính yếu nhất trong ba mô hình
lý thuyết nói trên
Tương tác
biểu tượng
Vi mô Xã hội là một tiến trình
các tương tác xã hội trong các bối cảnh cụ thể, dựa trên truyền thông biểu tượng; nhận thức của cá nhân về thực tại xã hội là khác nhau
và thay đổi
Con người kinh nghiệm về
xã hội như thế nào? Trong
sự tương tác con người đã sản sinh ra, duy trì, thay đổi các khuôn mẫu xã hội như thế nào? Cá nhân nỗ lực uốn nắn nhận thức về thực tại của kẻ khác như thế nào? Từ tình huống này đến tình huống khác, ứng xử của cá nhân đã thay đổi ra làm sao?
Những vấn đề về gia đình, về giáo dục, các loại hình trị liệu, truyền thông đã xảy ra như thế nào
mỗi bộ phận có những
hệ quả chức năng đối với sự vận hành của xã hội như một toàn thể
Xã hội được hội nhập như thế nào? Những bộ phận chủ yếu của xã hội là gì?
Chúng tương tác với nhau như thế nào? Đâu là những
hệ quả của chúng đối với sự vận hành của xã hội?
Nghiên cứu những
tổ chức chính thức; việc phát triển các chính sách xã hội; cải cách các cơ cấu
xã hội; lượng giá các luật lệ mới; nghiên cứu trong khoa học quản lý Mâu thuẫn
xã hội
Vĩ mô Là một hệ thống có
những bất bình đẳng; có một bộ phận hưởng lợi hơn bộ phận khác; sự bất bình đẳng sẽ đưa tới mâu thuẫn, đưa tới biến chuyển xã hội
Xã hội được phân chia như thế nào? Đâu là những khuôn mẫu bất bình đẳng
xã hội chủ yếu? Tại sao một vài tầng lớp xã hội cố bảo vệ quyền lợi của mình?
Bảng 1.1: Tóm tắt ba mô hình lý thuyết chính trong nghiên cứu xã hội học
Ba mô hình lý thuyết trên vẫn còn là ba mô hình chủ yếu trong nghiên cứu xã hội học, nhưng trong hai thập niên vừa qua đã xuất hiện một số quan điểm, lập trường mới Những quan điểm mới này xuất phát từ các phong trào đấu tranh nữ quyền, phong trào của những nhóm thiểu số, những dân tộc thuộc địa, những nhóm bị gạt ra
Trang 30bên lề xã hội Họ phê phán những lý thuyết xã hội học cổ điển chỉ là tiếng nói của những người da trắng, của nam giới, của phương Tây Do vậy nhiều lãnh vực, vấn đề quan trọng đối với các thành phần xã hội khác đã không được đề cập đến một cách đầy
đủ, hay được trình bày dưới những góc độ khác, đầy định kiến
1.5 CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC
Trong quan niệm của các nhà xã hội học Tây phương, xã hội học là một khoa học chứ không phải là một triết học xã hội (social philosophy) Triết học là một hệ thống các ý tưởng, các giá trị và triết học xã hội là một khoa học qui phạm (science
normative) - là một hệ thống các tư tưởng suy tư con người phải hành động với nhau như thế nào, trong khi xã hội học nghiên cứu con người ứng xử với nhau như thế nào,
và hậu quả của những lối ứng xử này thế nào (P.B Horton, C.L Hunt, 1985)
Xã hội học đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu quan hệ của con người trong xã hội Đặc biệt, chú trọng nghiên cứu sự hình thành các kết cấu trong xã hội, các phong tục, tập quán, các giá trị xuất phát từ những kết cấu xã hội này, và tác động ngược lại lên các kết cấu trên Xã hội học đi tìm những điều kiện xã hội, những lôgic đàng sau chi phối các ứng xử của con người Xã hội học cũng quan tâm đến sự tương tác giữa các đoàn thể xã hội với nhau, đến các diễn trình, đến các định chế trong đó các nhóm, các đoàn thể đã và đang phát triển
Việc ứng dụng phương pháp xã hội học và các khái niệm chính của xã hội học đại cương trong việc phân tích một số hiện tượng, lãnh vực xã hội đã hình thành nên các
bộ môn xã hội học chuyên ngành mà ta có thể nêu lên một vài bộ môn:
Xã hội học gia đình (sociology of family) Xã hội học tôn giáo (sociol of religion)
Xã hội học công nghiệp (industrial
Trang 31Xã hội học nghệ thuật (sociology of the
arts)
Xã hội học về tội phạm/lệch lạc (sociology of deviance)
Xã hội học các tổ chức phức tạp
(sociol of complex organizations)
Xã hội học về phát triển (sociology of development)
Xã hội học kinh tế (economic sociology) Xã hội học môi trường (environmental
Bảng 1.2: Các bộ môn của xã hội học
Ngoài ra, xã hội học chuyên ngành còn có những khái niệm, những lý thuyết riêng Những chủ đề, những lãnh vực trên là đối tượng của nhiều bộ môn khoa học, ví như truyền thông đại chúng cũng là đối tượng của tâm lý học, của chính trị học; tội phạm cũng là đối tượng của luật học, của tâm lý học, của khoa học chính trị Nhưng mỗi khoa học đều có đặc trưng riêng khi nghiên cứu vấn đề dưới góc độ của mình Không một khoa học nào - ít ra là trong trường hợp xã hội học - có thể tách rời các bộ môn khoa học khác Đặc biệt các lãnh vực nghiên cứu của xã hội học rất gần gũi và xen cài với tâm lý học, dân tộc học (nhân học) Điều đó càng khẳng định hơn sự kiện
xã hội là phức tạp, đa dạng, mang nhiều chiều kích khác nhau và do đó đòi hỏi những nghiên cứu liên ngành (interdisciplinary studies)
Trang 32Có hai quan niệm về đối tượng nghiên cứu của xã hội học: quan niệm của Max Weber (Đức) cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các hành động xã hội (social actions), tức những loại hành động có ý nghĩa, có động cơ và có sách lược và nhà xã hội học cần phải làm sáng tỏ những điều đó bằng phương pháp thấu hiểu và loại hình lý tưởng Quan niệm thứ hai là quan niệm của Émile Durkheim (Pháp) mà theo đó, đối tượng nghiên cứu của xã hội học là các sự kiện, hiện tượng xã hội (social facts) Những sự kiện này chỉ có thể được hiểu từ bên ngoài thông qua các phương pháp nghiên cứu định lượng
Xã hội học được hình thành do những biến đối xã hội nảy sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp ở Tây Âu dẫn tới những thay đổi trong lối sống: chuyển từ lối sống nông nghiệp sang lối sống công nghiệp, các quan hệ xã hội trở nên phức tạp, phân tầng xã hội trở nên sâu sắc hơn Bên cạnh đó, các cuộc cách mạng chính trị-xã hội ở Tây Âu
mà đỉnh cao là cuộc Đại Cách mạng Pháp (1789) đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của cấu trúc xã hội với sự thắng thế của tầng lớp tư sản trước tầng lớp phong kiến Đồng thời cuộc cách mạng của khoa học kỹ thuật vào thế kỷ 18, 19 đã nâng tư duy của con người và do đó cần phải có một cách tiếp cận mới đối với các vấn đề xã hội nảy sinh Đó là lý do cho sự ra đời của xã hội học
Xã hội học khác với những khoa học khác vì nhãn quan của nó: trước hết xã hội học chú ý đến những động lực xã hội, các lôgíc xã hội nằm bên dưới của các hiện tượng xã hội; xã hội học buộc chúng ta phải nhìn vấn đề xã hội một cách mới mẻ, tránh khuôn sáo và theo lẽ thường tình; mặt khác nó cũng yêu cầu chúng ta phải nhìn thấy được cái tổng quát trong cái đặc thù, luôn đặt vấn đề trong sự so sánh, đối chiếu
và bối cảnh toàn cầu hóa
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1 Những nhân tố nào thúc đẩy cho sự ra đời của Xã hội học?
Câu 2 Đâu là những đặc trưng của nhãn quan xã hội học so với các khoa học khác
như tâm lý học, kinh tế học?
Trang 33Câu 3 Trình bày tóm tắt và so sánh luận điểm của hai khuynh hướng về đối tượng của
xã hội học: nghiên cứu hành động xã hội và nghiên cứu sự kiện/hiện tượng xã hội?
Câu 4 Trình bày, so sánh ba lối tiếp cận lý thuyết chính trong nghiên cứu xã hội học:
tiếp cận tương tác biểu tượng, tiếp cận cấu trúc-chức năng và tiếp cận xung đột-mâu thuẫn xã hội?
Câu 5 Có bao nhiêu cấp độ trong nghiên cứu xã hội học? Cho ví dụ
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO
Câu 1: Trong các nhà khoa học sau đây, ai không phải là nhà xã hội học?
Câu 3: Xã hội học ra đời dựa trên những điều kiện:
A Tôn giáo và các cuộc đấu tranh về tôn giáo
B Sự hình thành các nền văn minh trên thế giới
C Sự biến đổi về kinh tế, xã hội, chính trị và phương pháp luận nghiên cứu
B Phải thấy cái tổng quát trong cái cụ thể
C Phải thấy các lực xã hội tác động lên hiện tượng nghiên cứu
D Phải dựa trên các lối giải thích thông thường của quần chúng
Câu 6: Theo quan điểm của E.Durkheim, kiểu đoàn kết xã hội dựa trên những mối
liên hệ tương tác giữa các cá nhân với các bộ phận cấu thành nên xã hội là:
A Đoàn kết cơ học (cơ giới)
B Đoàn kết hữu cơ
Trang 34C Đoàn kết bộ phận
D Tất cả đều đúng
Câu 7: Theo M Weber, loại hành động cảm tính bộc phát của chủ thể hành động gây
ra, có tính tự phát, chưa có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động là:
A Hành động xúc cảm
B Hành động truyền thống
C Hành động hướng tới mục đích
D Hành động hướng tới giá trị
Câu 8: Theo quan điểm của A.Comte, bộ phận xã hội học nghiên cứu về trật tự xã hội,
cơ cấu xã hội và các thành phần, các mối liên hệ của chúng được gọi là gì?
A Tĩnh học xã hội
B Động học xã hội
C Cấu trúc xã hội
D Tất cả đều đúng
Trang 35BÀI 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT
TRONG NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC
Sau khi học xong bài này, sinh viên có các kiến thức sau:
- Hiểu được cách xác định một đề tài nghiên cứu trong xã hội học
- Nắm được tiến trình thực hiện một đề tài nghiên cứu xã hội học
- Phân biệt được nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
- Hiểu được các phương pháp và kỹ thuật chủ yếu trong nghiên cứu xã hội học: phương pháp quan sát, các thử nghiệm, nghiên cứu điều tra, phân tích thứ cấp
2.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU XÃ HỘI HỌC
“Sự kiện khoa học được nhận thức, được xây dựng, được kiểm nghiệm”
Gaston Bachelard
Tương tự các khoa học khác, xã hội học đòi hỏi nhà nghiên cứu phải chọn lựa các bước đi, các phương pháp thích hợp để trả lời cho những vấn đề cụ thể được đặt ra
2.1.1 Xác định đề tài nghiên cứu và hình thành các câu hỏi cụ thể
Trước hết phải xác định mục đích của cuộc nghiên cứu, hay nói cách khác, cuộc nghiên cứu nhằm tìm hiểu cái gì Ví như, trong tác phẩm "Tự tử", É Durkheim muốn tìm xem những điều kiện xã hội nào đã thúc đẩy một vài cá nhân đi đến việc tự tử hơn những cá nhân khác
Các câu hỏi tổng quát về xã hội hay về các cách ứng xử trong xã hội - mà đề tài nghiên cứu nhằm giải đáp một phần nào - phải được chuyển thành những câu hỏi cụ thể qua đó ta có thể sử dụng các kỹ thuật quan sát và đo lường Tác phẩm "Tự tử" đã cho ta một ví dụ tốt về quá trình chuyển một câu hỏi tổng quát về biến chuyển xã hội
thành một nghiên cứu thực nghiệm (xem phần Xây dựng mô hình phân tích)
2.1.2 Các bước cụ thể để xác định vấn đề nghiên cứu
Các bước cụ thể để xác định vấn đề nghiên cứu:
- Bước 1: Xác định lĩnh vực quan tâm
- Bước 2: Liệt kê các lĩnh vực nhỏ (bằng phương pháp động não, đọc tài liệu…)
- Bước 3: Chọn một lĩnh vực nhỏ làm vấn đề nghiên cứu
- Bước 4: Đưa ra những câu hỏi nghiên cứu
Trang 36- Bước 5: Hình thành mục tiêu tổng quát và những mục tiêu cụ thể của cuộc nghiên cứu
Có thể dựa trên nguyên tắc thu hẹp dần để xác định vấn đề nghiên cứu Nếu đã chọn được một lĩnh vực cụ thể để nghiên cứu thì không cần đi qua bước 1 và bước 2 Khi thực hiện xong bước 3 là đã xác định được vấn đề nghiên cứu
2.1.3 Thăm dò và làm tổng quan tài liệu
Trước khi thu thập dữ kiện mới, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp phải xem lại thư tịch tất cả các nghiên cứu và các nguồn tài liệu về vấn đề muốn nghiên cứu, bao gồm
cả các lý thuyết và phương pháp đã được sử dụng để nghiên cứu đề tài trên Việc xem lại thư tịch này đôi lúc cung cấp những dữ kiện cần thiết để ta khám phá những vấn đề mới hơn Trong giai đoạn này, cũng có thể tiến hành những cuộc phỏng vấn thăm dò với các chuyên viên trong lãnh vực quan tâm Giai đoạn thăm dò này cũng có thể bao gồm việc tiến hành một cuộc điều tra thăm dò ở qui mô nhỏ
Giai đoạn này cũng giúp ta cách đặt vấn đề nghiên cứu như thế nào (problématique), nghĩa là giải quyết vấn đề đặt ra dưới góc độ nào Như Durkheim đã xem tự tử - một hành vi có tính riêng tư - là một triệu chứng của việc thiếu cố kết trong
xã hội, là một hiện tượng xã hội thường xuất hiện trong các xã hội thiếu sự đoàn kết và
ở đó chủ nghĩa cá nhân đang phát triển mạnh
2.1.4 Xây dựng một mô hình phân tích (xây dựng khung khái niệm)
Khi đã xác định vấn đề và góc độ nhìn vấn đề, giai đoạn kế tiếp là "thao tác hoá" vấn đề đã đặt ra bằng cách định nghĩa những khái niệm (concept) chính được sử dụng trong nghiên cứu Ví như, tự tử là gì, mại dâm là gì, trẻ em đường phố là gì, cố kết xã hội là gì, và từ đó đặt ra các giả thuyết (hypothesis) “Thao tác hóa các khái niệm” tức
là làm đơn giản hóa các khái niệm, làm cho chúng trở thành tiêu chí có thể đo lường được trong thực tế Trong một đề tài nghiên cứu, sau khi xác định hệ thống khái niệm, người ta tách các khái niệm cơ bản đối với đề tài đó Những khái niệm này sẽ được phân tích theo những phương thức cụ thể đo lường được những thông tin phù hợp Nếu như không thể vạch ra được những phương thức đó thì phải làm đơn giản hóa các khái niệm cơ bản Thao tác hóa các khái niệm có thể phân thành nhiều giai đoạn và trong mỗi một giai đoạn các khái niệm lại được đơn giản hơn một bậc Trong khi thực hiện các bước kể trên thì độ trừu tượng của các khái niệm sẽ được thu hẹp lại, khả năng thao tác hoá về kinh nghiệm sẽ tăng lên
Kết thúc quá trình này là việc xây dựng một hệ thống các biến số Hệ thống biến số
này vừa được xác định về mặt lý thuyết vừa có thể được thao tác hoá một cách trực tiếp (đặt câu hỏi để thu thập thông tin) Thông thường câu hỏi nghiên cứu được diễn tả dưới hình thức một giả thuyết - là việc đặt ra một tương quan giữa hai hay nhiều hiện
Trang 37tượng, giữa hai hay nhiều biến số Muốn kiểm chứng giả thuyết, phải định nghĩa nó bằng một số chỉ báo (indicator) - là những khía cạnh dễ quan sát của hiện tượng xã hội đang được nghiên cứu, chúng cho phép ta kiểm chứng giả thuyết Cũng có nhiều khái niệm phức tạp đòi hỏi phải được cụ thể hoá bằng những chiều kích (dimension) trước khi có thể đưa ra những chỉ báo cụ thể
Lấy tác phẩm Tự tử của É Durkheim làm thí dụ Durkeim bắt đầu nghiên cứu
những hậu quả của biến chuyển xã hội trong các quốc gia phương tây Ông tin rằng việc công nghiệp hoá và sự phát triển nhanh các đô thị làm giảm đi sự gắn bó của con người với các cộng đồng địa phương Khi con người trở nên cô đơn và vô danh thì họ lại càng dễ dấn thân vào các hành động có tính cách tự huỷ hoại mình mà một thái cực
là sự tự tử Trong quan điểm của Durkheim, hành vi tự tử có thể được giải thích bởi các biến số xã hội như tỷ lệ hôn nhân hay ly dị, cũng như bởi những biến số có tính cách tâm lý cá nhân như sự phiền muộn hay thất vọng Như vậy, đối với Durkheim việc nghiên cứu tự tử là một phương pháp để nghiên cứu một khái niệm lớn hơn, đó là
sự hội nhập hay việc thiếu hội nhập của xã hội Ông cố tìm xem có phải những người nào ít hội nhập vào xã hội thì càng dễ tự tử
Nếu quan điểm này là đúng thì tỷ lệ tự tử trong các tầng lớp xã hội sẽ biến đổi với mức độ hội nhập xã hội Từ đó ông nêu lên một vài giả thuyết sau:
- Tỷ lệ tự tử phải cao hơn ở những người chưa lập gia đình so với người có gia đình
- Tỷ lệ tự tử phải cao hơn ở những người chưa có con so với người có con
- Tỷ lệ tự tử phải cao hơn ở người có trình độ học vấn cao (vì học vấn thường nhấn mạnh sự thành đạt của cá nhân và làm yếu đi những ràng buộc tập thể )
- Tỷ lệ tự tử phải cao hơn ở những người theo đạo Tin Lành so với người Công giáo (vì đạo Tin Lành nhấn mạnh hơn vai trò của cá nhân)
Mỗi một trong các giả thuyết này chỉ rõ một tương quan giữa hai biến số mà ta có thể kiểm định qua việc thâu thập những dữ kiện cụ thể, qua quan sát thực nghiệm Trong xã hội học, các biến số là các đặc tính của cá nhân, của nhóm hoặc của toàn thể
xã hội và chúng thay đổi tuỳ theo trường hợp Các giả thuyết này đặt ra các tương quan giữa các biến số Trong phân tích xã hội học, một biến số có thể là một biến số đơn giản (tuổi, trình độ học vấn ) hay là một biến số phức tạp (tính bảo thủ, sự cố kết
xã hội, mức sống của gia đình ) Biến số lệ thuộc (dependent variable) là biến số mà
ta muốn giải thích (ví như tỷ lệ tự tử) và biến số độc lập (independent variable) là yếu
tố mà nhà nghiên cứu tin rằng đã gây nên những biến đổi trong biến số lệ thuộc (ví như tình trạng gia đình, trình độ học vấn, tôn giáo ) Phải thật cẩn thận khi đưa ra nhận định về mối liên hệ nhân quả, bởi lẽ hầu hết các hiện tượng xã hội có nguyên nhân từ nhiều biến số khác nhau
Sau khi xây dựng mô hình phân tích, phải xác định phương pháp nghiên cứu Lúc
này, nhà nghiên cứu sẽ thực hiện việc xây dựng phương án thu thập thông tin Từ
Trang 38những vấn đề đã xác lập trên, chúng ta mới có thể dự kiến những phương án thu thập thông tin Ở đây, nếu lựa chọn phương pháp nào ta sẽ có phương án thu thập thông tin tương ứng: phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp thảo luận nhóm tập trung hay quan sát Bước tiến hành này có mối quan hệ chặt chẽ với bước thao tác hoá các khái niệm, đặc biệt trong những nghiên cứu diễn dịch Cũng trong bước này, việc chọn mẫu cũng được xác định tuỳ thuộc vào việc sử dụng phương pháp thu thập thông tin nào Người ta có thể chọn mẫu đại diện cho tổng thể (đối với những nghiên cứu định lượng) hoặc chọn mẫu không đòi hỏi mức độ đại diện cao (đối với những nghiên cứu định tính, đặc biệt là những nghiên cứu trường hợp)
2.1.5 Thu thập dữ liệu
Trước khi kiểm chứng giả thuyết, một mặt phải thu thập các dữ liệu và mặt khác phải phân tích các kết quả thu thập được Một cách tổng quát, ta có thể phân các dữ liệu, các thông tin cần thu thập thành các loại như sau (Giacobbi, 1990)
Các dữ kiện có sẵn Các dữ kiện phải thâu thập
Các dữ kiện định
lượng
Các số liệu chính thức, tài liệu thư tịch, các dữ kiện thống kê do những cuộc nghiên cứu khác, các ngân hàng
Sau khi thâu thập dữ kiện, bước kế tiếp là kiểm chứng những kết quả quan sát được
có tương ứng với những kết quả được chờ đợi do giả thuyết nêu ra không Phải xử lý các dữ kiện thâu thập được thành những biến số, phân tích tương quan giữa những biến số
Trong nghiên cứu xã hội học người ta phân biệt tương quan (correlation) và mối liên hệ nhân quả (relationship of cause and effect) giữa các hiện tượng, giữa các biến
số Giữa hai biến số có mối liên hệ nhân quả khi biến đổi trong một biến số sẽ đưa đến thay đổi trong biến số kia Trong hiện tượng xã hội, có những sự kiện có đồng biến với