TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC KINH TẾ QUỐC TẾ; NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI; SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ; KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ CÁC CHỦ THỂ TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI; PHÂN LOẠI CÁC NỀN KINH TẾ
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC KINH TẾ QUỐC TẾ
Mục tiêu của chương 1:
Giúp người học nhận thức khái quát về các quan hệ kinh tế quốc tế; phânbiệt quan hệ kinh tế quốc tế với quan hệ kinh tế đối ngoại; sự hình thành và pháttriển các quan hệ kinh tế quốc tế, từ đó xác định đối tượng và nội dung nghiêncứu của môn học Các nhận thức cơ bản này là cơ sở để người học nghiên cứucác chương sau, liên kết các vấn đề nghiên cứu theo một chuỗi lôgic và có đượccách nhìn tổng hợp về môn học Kinh tế quốc tế
Giới thiệu những nội dung cơ bản nhằm đưa ra cách tiếp cận phù hợp vớithực tiễn quan hệ kinh tế quốc tế hiện nay
1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Sự hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế
1.1.1 Quá trình hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế
Xã hội loài người phát triển gắn liền với sự trao đổi các yếu tố sản xuất và
tiêu dùng giữa các chủ thể trong xã hội, tạo nên mối quan hệ kinh tế Quan hệ
kinh tế là quan hệ trao đổi về hàng hóa, dịch vụ, vốn, sức lao động, khoa học công nghệ… giữa các chủ thể kinh tế Các chủ thể kinh tế có thể là cá nhân
người tiêu dùng, doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, các tổ chức kinh tế, chínhphủ Mỗi chủ thể kinh tế khi tham gia vào quá trình trao đổi luôn đứng trên lợiích của mình để tính toán và lựa chọn các hình thức trao đổi và đối tượng quanhệ
Xã hội phát triển theo sự thay đổi của các phương thức sản xuất, các mốiquan hệ kinh tế giữa người sản xuất với người tiêu dùng, giữa người sản xuấtvới người sản xuất, giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng ngày càng đa dạng
và phức tạp, phát triển theo chiều rộng và chiều sâu
Mối quan hệ kinh tế ban đầu diễn ra trong phạm vi một vùng lãnh thổhoặc một quốc gia, lợi ích có được thông qua các mối quan hệ kinh tế sẽ thuộc
về các chủ thể trong vùng lãnh thổ hoặc quốc gia đó Khi lực lượng sản xuất tạimỗi quốc gia phát triển đến trình độ nhất định, quan hệ kinh tế giữa các chủ thểkinh tế trong nội bộ quốc gia không đáp ứng được yêu cầu tiếp tục phát triển của
Trang 2lực lượng sản xuất, thì các mối quan hệ kinh tế đã vượt ra khỏi biên giới quốcgia hình thành các mối quan hệ kinh tế mang tính quốc tế
Trên góc độ một quốc gia đã có hai loại quan hệ kinh tế khác nhau: quan
hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong phạm vi một quốc gia hay vùng lãnhthổ, gọi là quan hệ kinh tế đối nội; quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế trong
một quốc gia với bên ngoài, gọi là quan hệ kinh tế đối ngoại Quan hệ kinh tế
đối ngoại là quan hệ kinh tế của một nước với các nước khác hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế, được nghiên cứu từ góc độ nền kinh tế của nước đó.
Đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế thế giới, xem xét toàn bộ mối quan
hệ kinh tế bên ngoài các quốc gia, bao gồm: quan hệ kinh tế giữa các nước, giữacác nước với các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, gọi là
quan hệ kinh tế quốc tế Quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ kinh tế giữa các
nước và giữa các nước với các tổ chức kinh tế quốc tế, được nghiên cứu từ góc
độ nền kinh tế thế giới
Có thể hiểu, quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tếđối ngoại của các nước Ngược lại, quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước làmột bộ phận cấu thành quan hệ kinh tế quốc tế Như vậy, quan hệ kinh tế đốingoại và quan hệ kinh tế quốc tế cùng biểu hiện dưới hình thức quan hệ kinh tế
cụ thể kết nối quá trình tái sản xuất giữa các nước với nhau Tuy nhiên, giữaquan hệ kinh tế đối ngoại và quan hệ kinh tế quốc tế có sự khác nhau về phạm vi
và góc độ nghiên cứu, từ đó ảnh hưởng của các mối quan hệ này đến quá trìnhphát triển cũng khác nhau
Sự phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế dẫn đến xuất hiện quá trìnhquốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế thế giới Sự phát triển các quan hệkinh tế quốc tế sẽ có tác động trở lại đối với sự phát triển lực lượng sản xuất củamỗi quốc gia và sự phát triển phân công lao động quốc tế Quan hệ kinh tế quốc
tế tạo nên mối liên hệ ràng buộc giữa các nền kinh tế dân tộc khi tham gia vàonền kinh tế thế giới, bởi vậy tính chất của các quan hệ kinh tế quốc tế hết sứcphức tạp, các hoạt động của nó diễn ra trên một phạm vi khá rộng
Quá trình hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế ban đầu có tínhkhách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất, sau đó là những tác động cótính chủ quan của các chủ thể tham gia vào mối quan hệ, đã tạo nên sự phát triểntheo cả chiều rộng và chiều sâu của các mối quan hệ kinh tế quốc tế
Trang 31.1.2 Các hình thức quan hệ kinh tế quốc tế
Các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra dưới những hình thức cụ thể và thể
hiện rõ quá trình trao đổi kinh tế giữa các quốc gia trên cơ sở của quá trình phâncông lao động quốc tế, bao gồm:
- Trao đổi quốc tế về hàng hóa - dịch vụ
Trao đổi quốc tế về hàng hóa - dịch vụ được gọi là thương mại quốc tế(bao gồm cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) là hình thức quan hệ kinh
tế quốc tế xuất hiện sớm nhất, cho đến nay vẫn giữ vị trí quan trọng trong traođổi quốc tế Hiện nay, tốc độ phát triển của thương mại quốc tế nhanh hơn tốc độtăng trưởng của sản xuất (đặc biệt là sự tăng lên nhanh chóng của thương mạiquốc tế trao đổi hàng hóa vô hình) Điều này đã lôi cuốn tất cả các nước thamgia vào thương mại quốc tế, nhất là các hoạt động dịch vụ quốc tế
- Trao đổi quốc tế các yếu tố sản xuất, bao gồm:
+ Trao đổi quốc tế về vốn Dưới chủ nghĩa tư bản độc quyền, trao đổiquốc tế về vốn là hình thức xuất khẩu tư bản (thực chất là xuất khẩu vốn) Tronglịch sử, dòng xuất khẩu tư bản dưới chủ nghĩa tư bản từ các nước phát triển sangcác nước đang phát triển (các nước thuộc địa) nhằm bóc lột người dân ở cácnước này Quan hệ kinh tế giữa các nước tư bản với các nước thuộc địa là bấtbình đẳng về kinh tế Hiện nay, quá trình trao đổi quốc tế về vốn là một tất yếu,đảm bảo sự bình đẳng hơn về kinh tế giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩuvốn, bởi hầu hết các nước nhập khẩu vốn có chủ quyền độc lập quốc gia
+ Trao đổi quốc tế về sức lao động Dưới thời kì chủ nghĩa tư bản độcquyền, sự di chuyển quốc tế về sức lao động được coi là sự di chuyển quốc tếmột hàng hóa đặc biệt, trong đó các nước tư bản phát triển bóc lột sức lao động
rẻ mạt của các nước thuộc địa Hiện nay, quá trình trao đổi quốc tế về sức laođộng là tất yếu khách quan giữa các nước có khả năng cung lao động và cácnước có nhu cầu sử dụng lao động
+ Trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ Đó là sự trao đổi giữa cácnước về các yếu tố có liên quan đến khoa học công nghệ như: chuyển giao côngnghệ quốc tế, hợp tác quốc tế trong việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựukhoa học công nghệ, hợp tác quốc tế trong việc đào tạo cán bộ, chuyên gia Hiệnnay, khi khoa học công nghệ phát triển với tốc độ nhanh, trở thành yếu tố quantrọng của lực lượng sản xuất, sự chênh lệch về trình độ khoa học công nghệ giữa
Trang 4các quốc gia ngày càng lớn, thì sự trao đổi quốc tế về khoa học công nghệ là tấtyếu khách quan và diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn, qui mô ngày càng lớnhơn.
1.1.3 Các yếu tố tác động đến sự hình thành quan hệ kinh tế quốc tế
Các quan hệ kinh tế quốc tế ra đời là một tất yếu khách quan từ thực tiễnphát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong hệ thống phân công lao động quốc tế.Phân công lao động quốc tế là quá trình chuyên môn hóa sản xuất của nhữngngười sản xuất ở những nước khác nhau để sản xuất ra sản phẩm (hoặc nhómsản phẩm) nhất định phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật của từngnước
Tiền đề của phân công lao động quốc tế là do sự khác biệt về điều kiện tựnhiên như: tài nguyên thiên nhiên, đất đai, thời tiết, khí hậu… tạo cho mỗi quốcgia có những lợi thế trong việc sản xuất ra một số loại sản phẩm nào đó, họ phảitrao đổi với nhau để giải quyết sự thiếu hụt sản phẩm này với phần dư thừa sảnphẩm khác Đây chính là cơ sở của việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia vàhình thành nên quan hệ kinh tế quốc tế đơn giản nhất
Trong quá trình phát triển, sự phát triển không đều về kinh tế - xã hội vàkhoa học - kỹ thuật tạo nên sự khác nhau về các yếu tố sản xuất giữa các quốcgia, như: khác nhau về nguồn vốn, về trình độ kỹ thuật, bí quyết công nghệ,trình độ quản lý, nguồn nhân lực đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng đối tượngtrao đổi, tạo nên sự di chuyển quốc tế về vốn, công nghệ, sức lao động Quátrình trao đổi quốc tế tác động đến phân công lao động vượt khỏi biên giới mộtquốc gia, hình thành phân công lao động quốc tế Khi phân công lao động quốc
tế phát triển, tạo điều kiện cho mỗi quốc gia sử dụng có hiệu quả hơn những lợithế về tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, kĩ thuật, vị trí địa lí…, dẫn đến tăngnăng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và có thể khai thác tối đa những nguồnlực có lợi thế so sánh của mình
Cơ sở kinh tế của phân công lao động quốc tế do trình độ phát triển củalực lượng sản xuất và tính chất của quan hệ sản xuất ở mỗi quốc gia, cũng nhưtrên phạm vi toàn thế giới quyết định Các yếu tố này sẽ quyết định nền kinh tếcủa mỗi nước có thể quan hệ kinh tế với các nước khác như thế nào, quyết địnhtới sự tham gia của mỗi nước vào quá trình phân công lao động quốc tế Trong
đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ quyết định qui mô và phạm vi
Trang 5tham gia của một nước trong phân công lao động quốc tế, còn tính chất của quan
hệ sản xuất quyết định đến tính chất của phân công lao động quốc tế Tất cả cácvấn đề đó sẽ được thể hiện cụ thể trong qui mô và tính chất của các mối quan hệkinh tế quốc tế
Quá trình tham gia vào phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến sựchuyên môn hóa sản xuất tại mỗi quốc gia nhằm đạt qui mô tối ưu cho từngngành sản xuất trong khuôn khổ của dung lượng thị trường thế giới Trong khi
đó, nhu cầu tiêu dùng tại mỗi quốc gia lại luôn đa dạng, tác động đến sự pháttriển các quan hệ kinh tế quốc tế theo cả chiều rộng và chiều sâu Phân công laođộng quốc tế phát triển dẫn đến sự chuyên môn hóa sản xuất quốc tế ngày càngsâu sắc, tỉ mỉ và đòi hỏi quá trình hợp tác quốc tế trong sản xuất ở trình độ ngàycàng cao hơn Mặt khác, đời sống kinh tế càng phong phú thì càng tăng tính đadạng về thị hiếu và khả năng thanh toán, càng thúc đẩy sự phát triển của cácquan hệ kinh tế quốc tế
Để thực hiện phân công lao động quốc tế, các nước đưa ra hệ thống cáccam kết về quan hệ kinh tế nhằm mục đích chuyên môn hóa sản xuất từng loại,từng nhóm sản phẩm hàng hóa để cung cấp cho thị trường thế giới Điều này sẽtừng bước tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước
Quá trình phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế còn chịu tác động bởi tiến
bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và tác động bởi sự pháttriển của vận tải quốc tế Đây là các nhân tố quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tếquốc tế phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu
Sự phát triển của khoa học công nghệ với trình độ càng cao thì vai trò củađiều kiện tự nhiên với tư cách là cơ sở tự nhiên của phân công lao động quốc tếngày càng giảm đi Tuy vậy, trên thực tế, ở mỗi quốc gia trình độ phát triển củakhoa học công nghệ có sự khác nhau và đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫnđến sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế Những thành tựu của sự pháttriển khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của phân cônglao động quốc tế, mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, khoa họccông nghệ của các nước Điều này có nghĩa là, sự phát triển của khoa học côngnghệ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các quan hệ kinh tế quốc tế Khoa họccông nghệ đã và đang phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, khoa họccông nghệ đã trở thành yếu tố quan trọng và là động lực thúc đẩy sự phát triển
Trang 6của lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế.
Với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, cuộc cách mạng về thông tin trêntoàn cầu phát triển nhanh chóng đã tạo ra những thuận lợi cho giao lưu kinh tế
và khoa học - công nghệ giữa các quốc gia Công nghệ thông tin hiện đại đã vàđang tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển với phạm vi, qui
mô ngày càng rộng hơn và trình độ ngày càng cao hơn
Giao thông vận tải quốc tế phát triển sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợicho sự ra đời, phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế Bởi lẽ, các hoạt độngmua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ hay sự hợp tác quốc tế trong sản xuất sẽkhông thể phát triển được nếu giao thông vận tải quốc tế không phát triển tươngứng Mặt khác, sự phát triển của giao thông vận tải quốc tế còn tạo điều kiệnthuận lợi cho các quốc gia có điều kiện xích lại gần nhau, giúp cho các quan hệkinh tế quốc tế phát triển nhanh hơn
1.2 Sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế
1.2.1 Sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế theo chiều rộng
Biểu hiện của sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế theo chiều rộng làngày càng có nhiều nước, nhiều chủ thể tham gia vào các mối quan hệ kinh tếquốc tế; mặt khác, các hình thức quan hệ kinh tế quốc tế cũng ngày càng phongphú và đa dạng
Quá trình phát triển lực lượng sản xuất tại các nước là nhân tố khách quanthúc đẩy từng nước tham gia vào phân công lao động quốc tế Theo đó, quan sátbiểu hiện bên ngoài cho thấy, các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển về khônggian địa lý do sự xuất hiện của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại tại mỗi quốcgia, ngày càng có nhiều nước tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế
Tại mỗi quốc gia, ngày càng có nhiều chủ thể kinh tế tham gia vào cácmối quan hệ kinh tế quốc tế; đồng thời dưới tác động của phân công lao độngquốc tế ngày càng sâu hơn, rộng hơn đã làm cho các quan hệ kinh tế quốc tếngày càng đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung
Thương mại quốc tế là hình thức ra đời sớm nhất của các quan hệ kinh tếquốc tế dựa trên cơ sở phân công lao động quốc tế có tính tự nhiên (do lợi thếcủa điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia khác nhau), khi đó mới chỉ là việc traođổi những hàng hóa thông thường Sau đó, do sự tác động của cuộc cách mạng
Trang 7khoa học công nghệ và sự phát triển của phân công lao động quốc tế mà trongquá trình trao đổi giữa các quốc gia, những hàng hóa đặc biệt xuất hiện như: traođổi vốn quốc tế, khoa học công nghệ, sức lao động…
1.2.2 Sự phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo chiều sâu
Biểu hiện của các mối quan hệ kinh tế quốc tế phát triển theo chiều sâu là
sự phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế với trình độ chuyên môn hóa ngàycàng cao
Theo qui luật, các mối quan hệ kinh tế quốc tế phát triển theo trình tựlogic từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Điều này thể hiện rất rõ khiquan hệ kinh tế quốc tế đầu tiên ra đời dựa trên sự khác nhau của các điều kiện
tự nhiên Sau đó, do sự phát triển của phân công lao động quốc tế ở trình độngày càng cao và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, các mốiquan hệ kinh tế quốc tế diễn ra ở trình độ cao hơn, mối quan hệ ràng buộc giữacác chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng chặt chẽ hơn
Quá trình phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế đòi hỏi phải hìnhthành các tổ chức kinh tế quốc tế, một trung gian quan trọng chi phối các mốiquan hệ kinh tế và điều hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào mối quan hệkinh tế cụ thể Đây là một nhân tố thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế quốc tế pháttriển theo cả chiều rộng và chiều sâu
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU MÔN HỌC KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế
Đối tượng nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tếgiữa các quốc gia trong nền kinh tế thế giới Mối quan hệ kinh tế giữa các quốcgia được biểu hiện cụ thể qua việc di chuyển nguồn lực giữa các quốc gia thôngqua trao đổi quốc tế, hướng tới cân đối cung - cầu các nguồn lực này trong nềnkinh tế thế giới Các nguồn lực trong nền kinh tế thế giới tồn tại dưới dạng hànghóa, dịch vụ, vốn, sức lao động, khoa học công nghệ Quá trình trao đổi quốc tếcác nguồn lực, tạo nên sự phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia và sự ràngbuộc về lợi ích giữa các chủ thể kinh tế Để đảm bảo lợi ích của mình, các chủthể kinh tế phải nghiên cứu qui luật vận động của các dòng chảy nguồn lực giữacác quốc gia, tìm hiểu các chính sách tác động đến các dòng chảy, từ đó đưa ra
Trang 8biện pháp để điều chỉnh quá trình trao đổi nhằm đạt tới mục tiêu đã được xácđịnh.
Kinh tế quốc tế là môn khoa học nhằm trang bị những kiến thức cơ bản đểhiểu biết được các quan hệ kinh tế xảy ra trong nền kinh tế thế giới và ảnhhưởng của chúng đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Trong xu thế vậnđộng mới, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự vận động chungcủa nền kinh tế thế giới Vì vậy, những kiến thức cơ bản trong môn học kinh tếquốc tế sẽ giúp người học có được tầm nhìn phù hợp với thời đại hội nhập kinh tếquốc tế
2.2 Nội dung nghiên cứu môn học kinh tế quốc tế
Mục đích quan trọng của môn học là làm rõ các vấn đề lý luận và thựctiễn của các quan hệ kinh tế quốc tế
Phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu đã được xác định, nộidung nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế sẽ xoay xung quanh những vấn đềliên quan đến các quan hệ kinh tế quốc tế, cụ thể:
- Nghiên cứu các quan hệ kinh tế diễn ra trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa,dịch vụ, vốn, sức lao động, khoa học - công nghệ… giữa các nước trong nềnkinh tế thế giới, hướng tới cân đối cung – cầu các nguồn lực, phân bổ và sử dụngcác nguồn lực sản xuất có hiệu quả giữa các quốc gia;
- Nghiên cứu xu hướng vận động, các đặc điểm phát triển, các nhân tố tácđộng đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới và thị trường thế giới, tác độngảnh hưởng của những biến động trong nền kinh tế thế giới và trên thị trường thếgiới đến kinh tế từng quốc gia;
- Nghiên cứu chính sách và biện pháp, hành động liên kết và hội nhập củacác chủ thể tham gia hoạt động trong nền kinh tế thế giới và trên thị trường thếgiới nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã xác định
Thông qua các nội dung nghiên cứu trên, sẽ hình thành nên một tư duykinh tế mới trong việc nhìn nhận và phân tích các hiện tượng kinh tế xã hội theolôgic khoa học
Khi nghiên cứu, thường đứng trên góc độ của một nền kinh tế quốc gia thamgia vào trao đổi quốc tế với phần còn lại của nền kinh tế thế giới, có lưu ý đếntrường hợp nước nhỏ và trường hợp nước lớn Nếu đứng trên góc độ nghiên cứu
Trang 9của nền kinh tế nước nhỏ, các quan hệ kinh tế quốc tế giữa quốc gia này với phầncòn lại của thế giới hầu như không làm thay đổi mặt bằng chung về giá cả và cácchỉ số kinh tế quốc tế khác; ngược lại, mặt bằng chung về các chỉ số kinh tế quốc tế
sẽ tác động lớn đến các chỉ số kinh tế nội địa Nếu đứng trên góc độ nghiên cứu củanền kinh tế nước lớn, chúng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới vàgây ảnh hưởng lớn đến các quan hệ kinh tế quốc tế, do đó tác động của các quan hệkinh tế quốc tế giữa quốc gia ấy với phần còn lại của thế giới sẽ gây ra những thayđổi đáng kể đến mặt bằng chung của các chỉ số kinh tế quốc tế
Vận dụng những kiến thức chung để phân tích tác động của các quan hệkinh tế quốc tế đến kinh tế Việt Nam luôn được đặt trong trường hợp của nềnkinh tế nhỏ Trong điều kiện hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thếgiới, các chỉ số kinh tế quốc tế sẽ có tác động lớn đến các chỉ số kinh tế của ViệtNam Hiểu biết sự vận động có tính qui luật để có những biện pháp phù hợp chophát triển kinh tế quốc gia, cũng như mở rộng hoạt động của các chủ thể kinh tếtrong nước với các chủ thể kinh tế nước ngoài
2.3 Những kiến thức có liên quan đến môn học
Khoa học kinh tế quốc tế là một bộ phận của kinh tế học, với cơ sở lý luận
là các lý thuyết kinh tế trong trao đổi quốc tế Các nhà kinh tế học nổi tiếng,như: Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mill, Alfred Marshall, EliHeckscher, Bertil Ohlin, John Maynard Keynes, Paul Samuelson đã có nhữngđóng góp rất lớn cho khoa học kinh tế quốc tế Cùng với sự phát triển của xãhội, khoa học kinh tế quốc tế được nghiên cứu và phát triển thành một môn khoahọc độc lập Các lý thuyết hiện đại về kinh tế quốc tế đã bổ sung thêm những lýluận về quan hệ kinh tế quốc tế trong điều kiện mới làm cơ sở khoa học luận giảicác vấn đề của thực tiễn hiện nay
Những kiến thức của kinh tế học được sử dụng để phân tích các quan hệkinh tế quốc tế; những lý luận cơ bản của nguyên lý Mac - Lê Nin được vậndụng là kiến thức nền tảng trong những suy luận, tổng hợp và minh chứng chonhững sự vận động có tính qui luật của nền kinh tế thế giới và thị trường thế giới
- môi trường của các hoạt động kinh tế quốc tế Môn học kinh tế quốc tế cùngvới những kiến thức của các khoa học kinh tế khác sẽ tạo nên tri thức tổng hợpgiúp cho việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong thực tế và đưa ranhững quyết định tốt nhất, mang lại lợi ích cao trong điều kiện vừa hợp tác vừa
Trang 10cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thếgiới mới
CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 1
1 Phân biệt quan hệ kinh tế quốc tế với quan hệ kinh tế đối ngoại
2 Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành và phát triển cácquan hệ kinh tế quốc tế
3 Nội dung các quan hệ kinh tế quốc tế là gì? Nêu biểu hiện của sự phát triểnquan hệ kinh tế quốc tế theo chiều rộng và chiều sâu
4 Thông qua đối tượng và nội dung nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế,hãy xác định vị trí và mục tiêu của môn học trong chương trình đào tạo?
Trang 11Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI
Mục tiêu của chương 2:
Chương này giúp người học nhận thức về quá trình hình thành và pháttriển kinh tế thế giới, các chủ thể trong nền kinh tế thế giới, đặc điểm kinh tế thếgiới trong giai đoạn hiện nay, một số tiêu thức phân loại các nền kinh tế thường
sử dụng trong quá trình nghiên cứu Thông qua phân tích các xu thế phát triểnchủ yếu của nền kinh tế thế giới, để thấy rõ tác động của các xu thế này đến kinh
tế các nước, trong đó có Việt Nam
1 KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ CÁC CHỦ THỂ TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI 1.1 Sự hình thành và phát triển kinh tế thế giới
1.1.1 Sự hình thành kinh tế thế giới
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tế diễn
ra với quy mô ngày càng lớn, phạm vi các quan hệ kinh tế ngày càng rộng, tínhchất của chúng ngày càng phức tạp, trình độ phát triển của chúng ngày càng cao
Sự phát triển của quan hệ kinh tế gắn liền với sự phát triển của phân công laođộng Phân công lao động phát triển từ thấp đến cao làm cho quan hệ kinh tếcũng phát triển theo Phân công lao động phát triển vượt ra khỏi biên giới quốcgia và mang tính quốc tế làm cho quan hệ kinh tế cũng mang tính quốc tế
Phân công lao động quốc tế khi mới xuất hiện chủ yếu dựa trên những ưuthế và sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia Từ khi phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) ra đời, khoa học - kỹ thuật phát triển nhanh
và ngày càng nổi lên như một yếu tố quyết định của phân công lao động quốc tế
Phân công lao động quốc tế phát triển ngày càng sâu, rộng làm cho cácquan hệ kinh tế quốc tế diễn ra không chỉ trên lĩnh vực thương mại mà cả cáclĩnh vực: đầu tư, chuyển giao công nghệ, trao đổi quốc tế về sức lao động…Ngày càng nhiều quốc gia tham gia vào phân công lao động quốc tế, dẫn đếntrao đổi giữa các quốc gia không ngừng tăng lên Trên cơ sở đó, thị trường thếgiới được hình thành Nhưng không phải khi hình thành thị trường thế giới là đãxuất hiện khái niệm kinh tế thế giới
Trang 12Kinh tế thế giới hình thành khi có hai điều kiện:
Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội Đó là sự phát triển của phân công lao
động quốc tế dựa trên khoa học - công nghệ ở một trình độ nhất định Điều kiệnnày tác động đến nhu cầu trao đổi giữa các quốc gia ngày càng tăng, dẫn đếnhình thành các quan hệ kinh tế quốc tế
Thứ hai, điều kiện kinh tế - kỹ thuật Đó là sự phát triển của giao thông
vận tải và phương tiện thông tin đạt đến một trình độ nhất định Điều kiện nàythúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển nhanh bởi vì các quan hệ kinh tếquốc tế chỉ có thể phát triển nhanh khi giao thông vận tải và phương tiện thôngtin đạt đến một trình độ nhất định, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho phân cônglao động xã hội vượt ra khỏi biên giới quốc gia Sự phát triển của các điều kiệnvật chất - kỹ thuật về giao thông vận tải, thông tin đã làm cho quan hệ kinh tếgiữa các quốc gia, các khu vực, các vùng lãnh thổ trên thế giới mở rộng khôngngừng, từ đó hình thành kinh tế thế giới
Kinh tế thế giới bao gồm toàn bộ các nền kinh tế dân tộc thông qua các mối quan hệ kinh tế quốc tế dựa trên phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Kinh tế thế giới không phải là phép cộng số học đơn giản các nền kinh tếdân tộc Các bộ phận cấu thành kinh tế thế giới gồm các nền kinh tế dân tộc cótham gia hoạt động kinh tế quốc tế (KTQT) Trên thế giới có khoảng trên 220nền kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ được coi là các nền kinh tế dântộc, các nền kinh tế này tham gia vào kinh tế thế giới vào các thời điểm lịch sửkhác nhau, tùy thuộc sự tham gia vào phân công lao động quốc tế Mối quan hệgiữa các chủ thể kinh tế của các quốc gia và giữa các quốc gia với các tổ chứckinh tế quốc tế (gọi là quan hệ kinh tế quốc tế) đã tạo sự liên kết các nền kinh tếdân tộc vào thể thống nhất của nền kinh tế thế giới Các chủ thể kinh tế tham giakinh tế thế giới bao gồm: các công ty quốc gia, công ty quốc tế, chính phủ cácnước và các tổ chức kinh tế quốc tế có hoạt động kinh tế quốc tế Các mối quan
hệ KTQT hình thành khi lực lượng sản xuất và phân công lao động phát triểnvượt ra khỏi phạm vi quốc gia và thị trường thế giới dần được hình thành, ngàycàng mở rộng
Kinh tế thế giới không chỉ là một phạm trù kinh tế mà còn là một phạmtrù lịch sử Bởi vì, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, quan hệ kinh
tế quốc tế xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản
Trang 13(CNTB); chỉ đến thời điểm đó lực lượng sản xuất xã hội phát triển thúc đẩy cácquan hệ kinh tế - xã hội phát triển vượt ra khỏi phạm vi một nước, ngày càngnhiều nền kinh tế dân tộc của các nước gia nhập vào nền kinh tế thế giới
Quá trình phát triển kinh tế thế giới liên tục song song với sự hình thành
và thay đổi của các phương thức sản xuất Trong một thời kỳ, có thể đồng thờitồn tại phương thức sản xuất thống trị và các phương thức sản xuất khác, nhưngbản chất của nền kinh tế thế giới do phương thức sản xuất thống trị quyết định,các phương thức sản xuất khác có ảnh hưởng không lớn tới bản chất kinh tế thếgiới Sự thay đổi của phương thức sản xuất thống trị là minh chứng về sự thayđổi về chất của nền kinh tế thế giới, có thể coi nền kinh tế thế giới đã chuyểnsang một giai đoạn phát triển mới
1.1.2 Các giai đoạn phát triển kinh tế thế giới
Căn cứ vào sự tồn tại và vận động của các phương thức sản xuất xã hộitrên phạm vi thế giới, có thể chia qua trình phát triển của kinh tế thế giới thànhcác giai đoạn sau:
* Giai đoạn ra đời của kinh tế thế giới ở vào thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh (từ 1760 đến 1850)
Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là:
- Phân công lao động quốc tế còn ở trình độ thấp và có tính tự phát, chủyếu là khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên của các nước và được thực hiệnthông qua buôn bán quốc tế
- Kinh tế thế giới chưa mang tính chất thế giới một cách đầy đủ Một sốnước tư bản, lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, thị trường hàng hóađược mở rộng đã trở nên giàu có nhanh Đa số các nước trên thế giới, lực lượngsản xuất còn trong tình trạng kém phát triển
* Giai đoạn tồn tại kinh tế thế giới TBCN thống nhất trên toàn thế giới ở vào thời kỳ chủ nghĩa đế quốc (từ 1850 đến 1917).
Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là:
- Phân công lao động quốc tế phát triển đạt đến trình độ cao hơn và cótính tự giác được thể hiện bằng sự thống trị thị trường trong nước và ngoài nướccủa các liên minh độc quyền tư bản quốc tế
Trang 14- Phát triển mạnh hình thức xuất khẩu tư bản, đặc biệt là xuất khẩu tư bản
từ chính quốc vào thuộc địa
- Mâu thuẫn cơ bản của kinh tế thế giới thời kỳ này là mâu thuẫn giữa cácnước chính quốc công nghiệp phát triển và các nước thuộc địa lạc hậu về kinhtế
* Giai đoạn kinh tế thế giới TBCN thống nhất bị phá vỡ do sự xuất hiện nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới (từ 1917 đến 1945)
Giai đoạn này bắt đầu từ sau cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
và sự ra đời Liên bang cộng hòa XHCN Xô Viết đến khi kết thúc chiến tranh thếgiới lần II
Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là:
- Kinh tế thế giới với phương thức sản xuất TBCN thống nhất bắt đầu bịphá vỡ Trên thế giới cùng tồn tại với hệ thống kinh tế thế giới TBCN có kinh tếmới XHCN
- Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc lâm vào tình trạng khủnghoảng
- Trong quan hệ kinh tế thế giới, ngoài phần quan hệ giữa các nước trong
hệ thống kinh tế thế giới TBCN, còn tồn tại quan hệ kinh tế giữa một bên là Liên
Xô và bên kia là thế giới TBCN với quy mô hạn chế Các quan hệ này được xáclập trên cơ sở quan hệ hàng hóa - tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng củakinh tế thế giới
* Giai đoạn tồn tại hai hệ thống kinh tế - xã hội đối lập XHCN và TBCN (bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ II (1945) đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX)
Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là:
- Ngày càng củng cố và phát triển hệ thống kinh tế thế giới XHCN
- Trong hệ thống kinh tế thế giới TBCN, hệ thống thuộc địa dần dần đượcxoá bỏ và hình thành ngày càng nhiều các quốc gia độc lập
- Kinh tế thế giới tồn tại hai hệ thống kinh tế XHCN và TBCN Mỗi hệthống kinh tế phát triển theo những quy luật phát triển riêng và có cơ cấu kinhtế- xã hội bên trong của nó hoàn toàn khác nhau
Trang 15- Các mối quan hệ kinh tế thế giới phát triển rất phức tạp Mỗi hệ thốngkinh tế có kiểu quan hệ riêng Song, giữa hai hệ thống cũng có quan hệ kinh tếlẫn nhau nhưng rất hạn chế và cả hai hệ thống kinh tế đều tham gia vào phâncông lao động quốc tế một cách bình đẳng.
* Giai đoạn các nước XHCN tiến hành cải tổ nền kinh tế (từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay)
Đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là:
- Các nước XHCN đứng trước nhiều khó khăn, phải chuyển đổi nền kinh
tế theo mô hình kinh tế thị trường
- Các nước XHCN vẫn tồn tại và phát triển theo hướng cải cách mở cửanhưng hệ thống kinh tế XHCN không còn tồn tại
- Các tổ chức kinh tế quốc tế, các liên kết kinh tế hình thành ngày càngnhiều, thu hút hầu hết các nước tham gia để tăng cường hợp tác cùng có lợi
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, kinh
tế thế giới phát triển theo những xu thế mới và có những đặc điểm mới
1.1.3 Những đặc điểm của kinh tế thế giới hiện nay
* Kinh tế thế giới chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu nhờ tác động của tiến bộ khoa học công nghệ.
Từ giữa những năm 40 của thế kỷ XX, thế giới thực hiện cuộc cách mạngkhoa học - kỹ thuật hiện đại Những thành tựu to lớn về khoa học - kỹ thuật đạtđược tạo ra sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất làm chuyển biếnkinh tế thế giới Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại được chia làm haigiai đoạn:
- Giai đoạn 1 bắt đầu từ giữa những năm 40 đến đầu những năm 70 củathế kỷ XX Giai đoạn này có đặc điểm là đẩy mạnh quá trình cải tiến các trangthiết bị hiện có nhằm mở rộng sản xuất, đẩy mạnh tăng trưởng theo chiều rộng.Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng có nghĩa là tăng trưởng kinh tế kéo theo sựtăng tương ứng về các yếu tố kinh tế như năng lượng, nguyên vật liệu, laođộng Ở thời kỳ này, khoa học - kỹ thuật chưa phát triển đến trình độ cao,những yếu tố phát triển kinh tế theo chiều rộng còn nhiều tiềm năng Vì thế, pháttriển kinh tế theo chiều rộng đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, sự pháttriển kinh tế theo chiều rộng gặp phải giới hạn không vượt qua được, đó là các
Trang 16giới hạn về tài nguyên, môi trường, sự gia tăng dân số Ngay từ năm 1972, Câulạc bộ Roma đã báo động tình trạng tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt Sau đó, cácbáo cáo của Liên hợp quốc cũng đã vạch ra những giới hạn của sự phát triểnkinh tế theo chiều rộng.
- Giai đoạn 2 từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây Trong giaiđoạn này, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật có đặc điểm là bằng biện phápkhoa học - công nghệ vừa cải tiến các trang thiết bị hiện có, vừa tạo ra trangthiết bị mới hoàn toàn theo hướng tiết kiệm chi phí về nguyên liệu, năng lượng,nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản xuất và hiệu quả sản xuất
Việc chuyển trọng tâm phát triển kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu làmột tất yếu Thực tế kinh tế thế giới từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX trở lạiđây đã chứng minh nhận thức đúng đắn đó Nhiều nước (đặc biệt là các nướcphát triển) đã xác định hướng ưu tiên chủ yếu là công nghệ điện tử, tin học, côngnghệ phần mềm, tự động hoá, năng lượng, vật liệu mới, công nghệ sinh học.Trong đó công nghệ điện tử, tin học và công nghệ phần mềm được triển khaitrước tiên và đang tác động rất mạnh đến các lĩnh vực khác
* Phân công lao động và hợp tác quốc tế phát triển thông qua các cam kết song phương và đa phương, tạo nên sự ràng buộc về quan hệ kinh tế giữa các nước.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đã thúc đẩy sự pháttriển của phân công lao động quốc tế Thực chất của phân công lao động quốc tế
là chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất phát triển cao dẫn đến tình trạng cácnước ngày càng phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau về tài nguyên, vốn, công nghệ,thị trường Càng tham gia nhiều vào phân công quốc tế, các nước càng phải hợptác chặt chẽ với nhau để tận dụng lợi thế của nhau
Hiện nay, xuất phát từ lợi ích của mình, các nước đều tích cực và chủđộng tham gia các liên kết kinh tế quốc tế, các tổ chức kinh tế quốc tế, cùng thựchiện các cam kết song phương và đa phương Như vậy, các nước đã tham giavào sân chơi chung có luật chơi chung, trong đó các bên phải dành cho nhaunhững nhượng bộ, ưu đãi, được hưởng các quyền lợi đi đôi với việc thực hiệncác nghĩa vụ Điều này càng làm cho phân công và hợp tác lao động quốc tếphát triển, các nước ngày càng ràng buộc chặt chẽ với nhau về quan hệ kinh tế
* Hình thành các trung tâm kinh tế mang tính chất toàn cầu và khu vực.
Trang 17Kinh tế thế giới phát triển không đều giữa các quốc gia, các khu vực vàgiữa các thời kỳ Sau những năm trì trệ đầu thập kỷ 90, kinh tế thế giới tăngtrưởng khá cao trong 2 năm 1995 - 1996 (3,8%) song lại bị suy giảm nhẹ vàonăm 1997 (3,5%); năm 2006, 2007 kinh tế thế tăng trưởng ở mức khá 5% Từcuối năm 2007, kinh tế Mỹ, EU và nhiều nước khác suy giảm, làm cho kinh tế
toàn cầu tăng trưởng chậm lại, năm 2008 chỉ đạt 3,7%, năm 2009 giảm 1,1%
Những thập kỷ gần đây, các nước phát triển chiếm phần nhỏ về diện tích
và dân số thế giới có nhiều lợi thế trong việc vận dụng nền văn minh trí tuệ nênphát triển kinh tế nhanh Trên thế giới hình thành 3 trung tâm kinh tế lớn của cácnước phát triển: Bắc Mỹ, Đông bắc Á và Liên minh châu Âu (European Union -EU) Ba trung tâm kinh tế lớn này chiếm vị trí kinh tế cao trong kinh tế thế thếgiới trên các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, xuất khẩu, đầu tư và công nghệ
Gần đây, xuất hiện một số nền kinh tế mới nổi trong từng khu vực, điểnhình là Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng bình quân trong suốt hơn 30 năm cảicách là 9%; Ấn Độ, ASEAN có tốc độ tăng trưởng bình quân trong nhiều nămgần đây là 6,5% và 6% Một số trung tâm kinh tế khác cũng đang có dấu hiệutăng trưởng tích cực như khu vực Mỹ- Latinh (tốc độ tăng trưởng bình quân3,3% giai đoạn 2000-2004, đã tăng lên 5,5% năm 2007), khu vực châu Phi (tốc
độ tăng trưởng bình quân 3% giai đoạn 2000-2004, đạt 6% năm 2007), khu vựcĐông Âu đã thoát khỏi thời kỳ suy thoái tăng trưởng âm và đã bắt đầu tăngtrưởng (1,7% giai đoạn 2000-2004 và đạt 5,8% năm 2007) Tuy nhiên, từ năm
2008, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nướcđều chậm lại
Nhìn chung, kinh tế các khu vực trên thế giới đều có sự phát triển nhưngkhông đồng đều Vẫn còn khoảng cách khá xa giữa các nước phát triển với cácnước đang phát triển Các nước đang phát triển còn gặp nhiều khó khăn và bị đối
xử không công bằng Những năm gần đây, các nước đang phát triển đã lợi dụngcác diễn đàn kinh tế quốc tế để đòi lập lại trật tự kinh tế thế giới mới Đó là conđường duy nhất để các nước đang phát triển hạn chế, tiến tới xoá bỏ được sự bóclột kinh tế tinh vi từ bên ngoài, đồng thời vẫn tham gia hợp tác kinh tế quốc tế,lợi dụng được các lợi thế để phát triển kinh tế quốc gia
1.2 Các chủ thể tham gia kinh tế thế giới
1.2.1 Các doanh nghiệp (hoặc công ty, tập đoàn kinh tế)
Trang 18Chủ thể này tham gia kinh tế thế giới thông qua các hoạt động kinh tếquốc tế dựa trên những hợp đồng thương mại hoặc đầu tư được thoả thuận giữacác bên trong khuôn khổ của những hiệp định ký kết giữa các quốc gia.
Các doanh nghiệp (đặc biệt là các công ty quốc tế) là chủ thể tham gia vàonhiều hoạt động trong nền kinh tế thế giới Công ty quốc tế có thể là công ty đaquốc gia hoặc xuyên quốc gia, nhưng đều có quy mô lớn, phạm vi hoạt độngrộng Các công ty quốc tế có hệ thống các công ty con phân bố ở nhiều nướctrên toàn cầu, có mạng lưới sản xuất tiêu thụ ở nhiều nơi trên thế giới Các công
ty quốc tế có tiềm lực kinh tế rất mạnh
Về số lượng, trên thế giới có khoảng 64 nghìn công ty quốc tế với khoảng
800 nghìn chi nhánh được thành lập ở các nước
Về sức mạnh kinh tế, các công ty quốc tế chiếm 2/3 xuất nhập khẩu củathế giới, chiếm 4/5 đầu tư quốc tế, nắm giữ 9/10 bí quyết công nghệ cao
Dựa vào kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà nghiên cứu, các tạp chíkinh tế có uy tín trên thế giới công bố danh sách 100 công ty quốc tế tiêu biểu.Theo kết quả bình chọn của Tạp chí Bussiness Week and Interbrand thì 10 công
ty quốc tế có giá trị thương hiệu lớn nhất năm 2008 và 2009 là:
Bảng 2.1: Xếp hạng 10 công ty quốc tế có giá trị thương hiệu lớn nhất
ST
T Tên công ty
Lĩnh vực kinh doanh
Xếp hạng năm 2008
Xếp hạng năm 2009
Trang 199 Disney (Mỹ) Dịch vụ giải trí 9 10
10 Google (Mỹ) Dịch vụ Internet,
Nguồn: trang web http://www.interbrand.com
Với tiềm lực kinh tế rất mạnh, mạng lưới sản xuất và tiêu thụ khắp toàncầu, các công ty quốc tế là một trong những chủ thể tham gia hoạt động nhiềunhất vào kinh tế thế giới
1.2.2 Chính phủ các nước
Chính phủ của một quốc gia đại diện cho quốc gia đó trong quan hệ vớiquốc tế Trên thế giới có khoảng 220 quốc gia và vùng lãnh thổ Hầu hết cácquốc gia và vùng lãnh thổ này đều tham gia vào kinh tế thế giới Các chủ thểtham gia các quan hệ kinh tế quốc tế này được coi là chủ thể đầy đủ xét về mặtchính trị, cũng như về mặt kinh tế và luật pháp Các chính phủ có vai trò quantrọng tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển thông quacác Hiệp định chính phủ trên mọi lĩnh vực, các cam kết trong việc tham gia liênkết kinh tế quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế
Chính phủ các nước phát triển với ngân sách lớn, có GDP chiếm tới trêndưới 20% GDP thế giới nên có nhiều hoạt động mua sắm, đầu tư và tham gianhiều các hoạt động kinh tế quốc tế
Bảng 2.2: GDP của một số nước trong năm 2008
Đơn vị: triệu USD
Trang 2010 10 Tây Ban Nha 1.604.174
1.2.3 Các tổ chức quốc tế
Đây là chủ thể ở cấp độ vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia, hoạt động với
tư cách là những thực thể pháp lý độc lập, địa vị pháp lý rộng hơn chủ thể làchính phủ các nước Các tổ chức quốc tế quan trọng bao gồm: WTO, IMF, WB,
EU, ASEAN, APEC Hoạt động của các chủ thể này thường đòi hỏi có sự điềutiết liên quốc gia, thậm chí điều tiết toàn cầu
Một số tổ chức kinh tế quốc tế tiêu biểu như:
- Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO)
WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995 Tiền thân của WTO làHiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (General Agreement on Tariffs andTrade - GATT) GATT tồn tại trong 47 năm (1948 - 1994) Ngày 15/4/1994, tạiMarrakesh, Bộ trưởng các nước tham gia GATT đã ký Hiệp định thành lập WTO
- Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF)
Tại hội nghị Bretton - Wood (Mỹ) vào tháng 7/1944, các nước tham gia đãnhất trí thành lập tổ chức tiền tệ tín dụng liên chính phủ với tên gọi là Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF), bắt đầu hoạt động từ ngày 27/12/1945 với 45 thành viên Đếnnăm 2010, IMF đã có 192 thành viên Trụ sở chính của IMF đóng tạiWashington (Mỹ) và có 2 chi nhánh tại Paris (Pháp) và Geneva (Thuỵ Sỹ)
- Ngân hàng thế giới (World Bank - WB), đây là tên gọi chung của các tổchức kinh doanh tài chính quốc tế, gồm 5 tổ chức chủ yếu: