1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh tế vĩ mô sự hình thành và phát triển ngân hàng thế giới và ngân hàng nhà nước việt nam

39 695 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 403 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Đối tượng nghiên cứu Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng nhà nước ViệtNam, cơ cấu tổ chức, các hoạt động, chính sách của Ngân hàng thế giới và Ngân hàngnhà

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3

TỔNG QUAN 4

CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI 5

1.1 Lịch sử ra đời của Ngân hàng 5

1.2 Quá trình phát triển hệ thống Ngân hàng 5

1.3 Vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế 6

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB) 8

2.1 Lược sử hình thành 8

2.2 Quá trình phát triển 9

2.2.1 Giai đoạn 1929-1944 9

2.2.2 Giai đoạn 1944-1968 10

2.2.3 Giai đoạn 1968-1980 10

2.2.4 Giai đoạn 1980-1989 11

2.2.5 Giai đoạn 1989 đến nay 11

2.3 Cơ cấu tổ chức 13

2.4 Hoạt động của WB 13

2.4.1 Hoạt động chung 13

2.4.2 Hoạt động của các cơ quan thành viên 15

2.4.3 Hoạt động của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam 20

CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (THE STATE BANK OF VIET NAM-SBV) 26

3.1 Sự hình thành 26

3.2 Sự phát triển 27

3.2.1 Thời kỳ 1951-1954 27

3.2.2 Thời kỳ 1955-1975 27

Trang 2

3.2.3 Thời kỳ 1975-1985 27

3.2.4 Thời kỳ 1986 đến nay 28

3.3 Hoạt động của SBV 29

3.3.1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia 29

3.3.2 Phát hành tiền 29

3.3.3 Hoạt động tín dụng 30

3.3.4 Mở tài khoản, hoạt động thanh toán và ngân quỹ 30

3.3.5 Quản lí ngoại hối và hoạt động ngoại hối 30

3.3.6 Thanh tra ngân hàng 31

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ 32

4.1 Giải pháp cho WB 32

4.1.1 Các giải pháp chính sách của WB 32

4.1.2 Kiến nghị 33

4.2 Giải pháp cho SBV 34

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay nền kinh tế thị trường đã ngày càng chứng minh được vai trò của nótrong việc phát triển kinh tế các quốc gia, nâng cao đời sống, đẩy lùi nạn đói, Kinh tếthị trường tạo ra nhiều “sản phẩm”như thị trường chứng khoán, thị trường tài chính, Mỗi thứ đều có một vai trò quan trọng nhất định đối với nền kinh tế của chúng ta Xéttrên bình diện vĩ mô thì chúng em nhận xét là các vấn đề về thị trường tài chính làquan trọng hơn cả Chúng đảm bảo sự lưu thông và phân phối tiền tệ trong các nước vàgiữa các quốc gia với nhau nhằm tạo ra một vòng lưu chuyển của tiền tệ Quan trọnghơn trong đó có bàn tay của con nguời tham gia vào chu trình vận động đó nhằm điềutiết khách quan lượng tiền tệ chống lại “bàn tay vô hình” của thị trường, cố gắng làmcho quá trình sản xuất có hiệu quả hơn Từ thực tiễn nghiên cứu cho thấy vai trò quantrọng của thị trường tài chính tiền tệ, quan trọng vai trò của các chủ thể của “bàn tayhữu hình” điều tiết Ngoài nhà nước ra thì hệ thống ngân hàng cũng là một trong số đó.Trong môn học kinh tế vĩ mô này, nhóm may mắn chọn được đề tài nghiên cứu

về sự hình thành hai hệ thống ngân hàng của thế giới và ngân hàng nhà nước ViệtNam Qua đó có cơ hội tìm hiểu kĩ hơn và làm cơ sở để học tốt hơn bộ môn kinh tế vĩ

mô và biết đâu còn giúp ích được nhiều cho công việc sau này của chúng em

Nhờ sự chỉ dẫn chi tiết của giảng viên hướng dẫn, nên chúng em có thể nhanhchóng lập được một dàn ý tốt và chi tiết, hoàn thành nhanh chóng được bài tiểu luận.Tuy nhiên dẫu đã cố gắng nhưng con người vẫn là con người, không thể tránh khỏithiếu sót hoặc sai lầm Do vậy mọi thiếu sót, hạn chế vô ý, mong được cô bỏ qua vàđánh giá trên cơ sở khách quan nhất

Cuối cùng xin được cảm ơn cô

Nhóm Hội ngộ

Trang 4

TỔNG QUAN

Giới thiệu đề tài và lí do chọn đề tài

Trong môn học Kinh tế vĩ mô nhóm may mắn chọn được đề tài tìm hiểu về Ngânhàng thế giới World Bank (WB) và Ngân hàng nhà nước Việt Nam (SBV) Thiết nghĩđây là một đề tài hay và bổ ích vì nó giúp các thành viên trong nhóm có hiểu biết hơnkhi tìm hiểu về hai hệ thống ngân hàng giúp cho việc học tập bộ môn và kiến thứcchuyên ngành được tốt hơn

Đối tượng nghiên cứu

Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng nhà nước ViệtNam, cơ cấu tổ chức, các hoạt động, chính sách của Ngân hàng thế giới và Ngân hàngnhà nước Việt Nam trong thời gian qua và cuối cùng là các giải pháp đề xuất để nângcao hiệu quả hoạt động của hai hệ thống ngân hàng

Phạm vi nghiên cứu

Bám sát giáo trình Kinh tế vĩ mô đang học ở trên lớp, ngoài ra nhóm còn thamkhảo nhiều tư liệu trên nhiều nguồn khác nhau, sẽ được liệt kê trong mục Tài liệu thamkhảo

Phương pháp nghiên cứu

1 Xác định chủ thể cần nghiên cứu, khảo sát vấn đề trước khi lập dàn bài đềcương chi tiết

2 Phân tích chủ đề thành các phần nhỏ để nghiên cứu

3 Tổng hợp và thống nhất ý kiến từ các thành viên nhóm

4 Sử dụng nguồn tài liệu từ mọi phương tiện trong đó không thể không kể đếninternet là một phương tiên hiệu quả nhất

Trang 5

CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI

1.1 Lịch sử ra đời của Ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng là một tổ chức quan trọng nhất của nềnkinh tế, là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ tập trung, phânphối lại vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài chính tiền tệ khác trongnền kinh tế quốc dân

Là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, cho nên lịch sử hình thành và pháttriển của Ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá Tiềnthân của các nghiệp vụ hiện đại bắt nguồn từ nghề đổi tiền và đúc tiền của các thợvàng Người làm nghề đúc tiền, đổi tiền thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổingoại tệ lấy bản tệ và ngược lại Lợi nhuận thu được từ chênh lệch giá mua và giá bán

Do yêu cất trữ tiền của lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề đổi tiềnthực hiện luôn cả nghiệp vụ cất trữ hộ Dần dần do có uy tín, những người giữ hộ tiềnbạc của các nhà buôn, thanh toán hộ và do tích luỹ được nhiều tiền họ kiêm luôn cảnghề cho vay Trong một thời gian dài, từ nghề đổi tiền đã phát triển thành nghề Ngânhàng Nghề Ngân hàng thời kì đầu chỉ bao gồm các nghiệp vụ đơn giản như: đổi tiền,nhận tiền gửi, bảo quản hộ tiền, thanh toán, chuyển tiền cho vay; nghiệp vụ cho vaymang tính chất cho vay nặng lãi, cho nên các Ngân hàng thời kì này gọi là Ngân hàngcho vay nặng lãi

Trong lịch sử phát triển, nghề Ngân hàng đã trải qua nhiều bước thăng trầm.Nghề này được phát triển từ thời thượng cổ đến thời kì trung cổ, nghề Ngân hàng bịđình đốn do sự sụp đổ của đế quốc La Mã Đến thời kì phục hưng, nghề này được phụchồi và phát triển khá mạnh Số lượng các tổ chức kinh doanh tiền tăng thêm, nhiềunghiệp vụ mới được áp dụng, như nghiệp vụ thanh toán bằng thương phiếu, thanh toán

bù trừ, nghiệp vụ bảo lãnh cho vay và thanh toán Một số tổ chức kinh doanh tiềnxuất hiện trong thời kì này đã mang dáng dấp kiểu Ngân hàng hiện đại, như Banco dibarcelone thành lập năm 1401 và Banco di Valencia thành lập năm 1409 ở Tây BanNha, Banco di Realto thành lập năm 1587 ở Vơnidoq (Italia)

Loại hình Ngân hàng hiện đại thực sự xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 17, vớiviệc thành lập những Ngân hàng: Ngân hàng Amxtécđam năm 1609 ở Hà Lan, Ngânhàng Hamburg năm 1619 ở Đức, Ngân hàng Anh quốc năm 1694

1.2 Quá trình phát triển hệ thống Ngân hàng

Từ thế kỷ 15 dến cuối thế kỷ 18, ở các nước Tây Âu, ngân hàng hiện đại lần lượtđược thành lập do chuyển hoá từ các ngân hàng cho vay nặng lãi, hoặc được thiết lậpmới

Trang 6

Hoạt động của các ngân hàng này, nhìn chung tương tự nhau Chúng đều là loạiNgân hàng đa năng, tiến hành các nghiệp vụ tiền gửi, chiết khấu, cho vay, phát hànhgiấy bạc, đổi tièn, chuyển tiền Mỗi ngân hàng là một “vương quốc”riêng, chưa tạothành một hệ thống có mối liên kết chặt chẽ.

Trong thế kỷ 18 và nhất là thế kỷ 19, sự mở rộng nhanh chóng kinh tế hàng hoá ởcác nước Tây Âu và Bắc Mỹ đã thúc đẩy sự hình thành hệ thống Ngân hàng 2 cấp.Một mặt, hình thành ngân hàng phát hành tiền thống nhất cho cả nước, xoá bỏtình trạng phát hành tiền phân tán Ban đầu người ta ban hành các đạo luật hạn chế sốlưọng ngân hàng được phép phát hành tiền, giành quyền này cho một số ngân hànglớn Dần dần, trong thế kỷ 19, các nước Tây Âu đã giành quyền phát hành tiền chomột ngân hàng duy nhất

Mặt khác, ở các nước này xuất hiện ngày một nhiều các tổ chức kinh doanh tiền

tệ với nhiều tính năng, tên gọi, quy mô hoạt dộng khác nhau, như ngân hàng thươngmại, công ty tài chính, hợp tác xã tín dụng

Sang đầu thế kỷ 20, nền kinh tế ở các nước Âu-Mỹ khủng hoảng sâu sắc, đòi hỏi

sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là sựphát huy vai trò điều tiết vĩ mô, nhằm khắc phục khủng hoảng, duy trì chủ nghĩa tưbản

Một trong những công cụ điều chỉnh vĩ mô quan trọng hàng đầu Nhà nước phảinắm là hệ thống Ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng phát hành, biến nó thành cơ quanNhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán của đất nước Trongbối cảnh như vậy, ngân hàng phát hành đã chuyên thành ngân hàng trung ương Đâykhông chỉ thuần tuý là sự thay đổi cơ bản về chức năng hoạt động của loại ngân hàngnày Nếu như chức năng cơ bản của ngân hàng phát hành tiền còn thực hiện chức năngquản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán, điều tiết khối lượng tiền lưu thôngnhằm đảm bảo sự ổn định về tiền tệ, góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế.Thời kỳ này, các ngân hàng kinh doanh phát triển mạnh ở các nước Âu Mỹ cũngnhư các nước thuộc địa, bán thuộc địa thuộc châu lục Á, Phi và Mỹ la tinh

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, với xu thế quốc tế hoá và nhất thể hoá về kinh tế –tài chính, hệ thống ngân hàng ở mỗi nước được hoàn chỉnh thêm một buớc, đồng thờitrên phạm vi khu vực và trên phạm vi toàn cầu đã xuất hiện các tổ chức Ngân hàngquốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển khu vực,bên cạnh Ngân hàng thương mại siêu quốc gia Những ngân hàng này tạo điều kiệnthuận lợi cho việc phối hợp chính sách tài chính - tiền tệ giữa các nước và của cộngđồng các quốc gia trên thế giới

Trang 7

1.3 Vai trò của Ngân hàng trong nền kinh tế

Ngân hàng với hoạt động của mình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nềnkinh tế; Ngân hàng phải thực hiện nhiều vai trò để có thể duy trì khả năng cạnh tranh

và đáp ứng nhu cầu xã hội Ngân hàng có những vai trò cơ bản sau:

Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành cáckhoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào nhàcửa thiết bị và tài sản khác

Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hànghoá và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toánđiện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc)

Vai trò bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năngthanh toán (chẳng hạn phát hành thư tín dụng)

Vai trò đại lý: Thay mặt kháhc hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ phát hànhhoặc chuộc lại chứng khoán(thường được thực hiện tại phòng uỷ thác)

Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ,góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội

Trang 8

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THẾ GIỚI (WB)

2.1 Lược sử hình thành

1944 Thành lập Ngân hàng tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) và Quỹ tiền tệ

uốc tế (IMF) tại Bretton Woods

1946 Eugene Meyer được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch Ngân hàng và từ chức

cũng trong năm này Ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động

1947 John McCloy từ chức chủ tịch Ngân hàng, Eugene R.Black được bổ nhiệm

thay thế và ông là người giữ vị trí này với nhiệm kì dài nhất trong số cácChủ tịch Ngân hàng thế giới

1952 Nhật bản và Cộng hòa Liên bang Đức gia nhập Ngân hàng thế giới

1956 Thành lập Công ty tài chính Quốc tế (IFC)

1960 Thành lập Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA)

1962 Khoản vay đầu tiên dành cho giáo dục đã được cấp cho Tunisie để xây

dựng các trường học

1966 Thành lập Trung tâm Quốc tế Giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID)

1980 Khoản tín dụng đầu tiên để điều chỉnh cơ cấu đã được cấp cho Thổ Nhĩ Kì

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa trở thành thành viên của Ngânhàng Tái thiết và Phát triển quốc tế và Hiệp hội Phát triển Quốc tế, nhanhchóng trở thành một trong những quốc gia nợ nhiều nhất Vốn hoạt độngđược phép của Ngân hàng Quốc tế tái thiết và Phát triển tăng từ 44 triệu đô

la lên 85 triệu đô la

1982 Ngân hàng cung với Quỹ tiền tệ Quốc tế can thiệp giúp đỡ Mexico khi

quốc gia này lâm vào khủng hoảng nợ

1988 Thành lập tổ chức bão lãnh đầu tư Đa phương (hay MIGA)

1991 Trung Quốc trở thành con nợ lớn nhất của Hiệp hội phát triển Quốc tế,

vượt qua cả Ấn độ

1992 Liên bang Nga và 12 nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ trở thành thành viên

của IBRD và IDA

1996 Ngân hàng, Quỹ tiền tệ Quốc tế và các nhà tài trợ khác đã khởi xướng sáng

kiến dành cho các nước nghèo nợ ần chồng chất (HIPC)

Trang 9

1997 Ngân hàng phối hợp chặt chẽ với Quỹ tiền tệ Quốc tế để can thiệp mạnh

mẽ vào việc cứu trợ các quốc gia Châu Á sau cuộc khủng hoảng tài chính

1999 Ngân hàng và Quỹ tiền tệ Quốc tế đưa ra các chiến lược chống đói nghèo

Sáng kiếm HIPC được đẩy mạnh để thức đấy việc giảm nợ cho các nghèo

2000 Đây là lần đầu tiên sau gần 20 năm, tỷ lệ thành công các dự án của Ngân

hàngđạt 75% (trong khi năm 1996 con số này chỉ là 60%)

2001 Ngân hàng liên kết với các tổ chức khác kêu gọi giảm trợ cấp nông nghiệp

trong các nước phát triển

2006 42 quốc gia châu Phi cận Sahara và châu Mỹ Latinh đang nợ chồng chất

Ngân hàng Thế giới, IMF và Ngân hàng Phát triển châu Phi có khả năngđược hưởng chương trình sáng kiến xóa nợ Đa phương (MDRI)

2007 Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc đã phát động chiến dịch thu hồi các

khoản tiền tham nhũng của các lãnh đạo các nước đang phát triển (StAR –sáng kiến thu hồi tài sản bị đánh cắp

Trang 10

đài và Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ Trong thời kì này nền kinh tế của Mỹ pháttriển rất nhanh, trờ thành nước mạnh nhất thế giới Sau khi cuộc chiến kết thúc, nước

Mỹ bắt đầu lập ra các tổ chức tài chính quốc tế

11-1943, Mỹ đưa ra ý kiến thành lập Ngân hàng tái thiết và phát triển Liên hợpquốc Dụng ý của kiến nghị này là để nhiều nước phát triển gánh vác nguồn vốn chonhu cầu khôi phục và xây dựng kinh tế sau chiến tranh Mỹ đầu tư vào các nước thôngqua Ngân hàng tái thiết và phát triển thì có thể được Liên hợp quốc bảo trợ

4-1944, tuyên bố chung về Quỹ tiền tệ quốc tế ra đời, đề ra tôn chỉ và chính sáchthành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Tuyên ngôn này lấy kiến nghị của Mỹ về “Quỹbình ổn quốc tế làm cơ sở”

7-1944, Liên hợp quốc triệu tập hội nghị tài chính tiền tệ tại Bretton Woodsthuộc tiểu bang New Hampshire của Hoa Kỳ, quyết định thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế

và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) sau này trở thành “Ngân hàng thếgiới”

1945, pháp nhân này chính thức được biết đến với cái tên Ngân hàng thế giớitrong lần hoạt động đầu tiên của mình Lúc này Ngân hàng thế giới đã có 36 thànhviên Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều là thành viên của tổ chức này

2.2.2 Giai đoạn 1944-1968

Chủ tịch ngân hàng John McCloy lựa chọn Pháp là nước đầu tiên nhận viện trợcủa Ngân hàng Thế giới, hai ứng dụng khác từ Ba Lan và Chile nhưng đã bị từchối Khoản vay 250 triệu USD, một nửa số tiền yêu cầu và đi kèm với điều kiệnnghiêm ngặt Nhân viên của Ngân hàng Thế giới theo dõi việc sử dụng các quỹ, đảmbảo rằng chính phủ Pháp sẽ kiểm soát một ngân sách cân bằng và ưu tiên trả nợ choNgân hàng Thế giới với các chính phủ khác Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói với chính phủPháp rằng các phần tử cộng sản trong nội các cần phải được loại bỏ Chính phủ Pháptuân thủ điều kiện này và loại bỏ các liên minh chính phủ Cộng sản Trong vòng vàigiờ Pháp đã được phê duyệt cho vay

Kế hoạch Marshall của năm 1947 gây ra sự thay đổi trong hoạt động cho vaycủa ngân hàng khi nhiều nước châu Âu đã nhận được viện trợ cạnh tranh từ Mỹ vớicác khoản vay của Ngân hàng Thế giới Các khoản tín dụng của Ngân hàng Thế giớiđược chuyển sang các nước ngoài châu Âu và cho đến năm 1968, các khoản vayđược dành cho các dự án có thể cho phép một quốc gia vay để trả nợ vay (chẳng hạncác dự án như cảng, hệ thống đường cao tốc, và nhà máy điện)

2.2.3 Giai đoạn 1968-1980

Từ năm 1968 đến 1980, các ngân hàng tập trung vào việc đáp ứng các nhu cầu

cơ bản của người dân ở các nước đang phát triển Quy mô và số lượng các khoản vay

Trang 11

cho khách hàng vay được tăng lên rất nhiều; mục tiêu cho vay được mở rộng từ cơ sở

nợ thế giới tăng với tốc độ trung bình hàng năm 20%

Năm 1980, Tòa án hành chính Ngân hàng Thế giới được thành lập để giải quyếttranh chấp giữa Ngân hàng Thế giới và nhân viên của mình, nơi các cáo buộc khôngtuân thủ hợp đồng làm việc hoặc các điều khoản bổ nhiệm đã không được công khai

2.2.4 Giai đoạn 1980-1989

Năm 1980, AW Clausen thay thế McNamara sau khi được Tổng thống

Mỹ Jimmy Carter đề cử Clausen thay thế một số lượng lớn các nhân viên ngân hàng

từ thời McNamara và thiết lập một hệ tư tưởng tập trung trong ngân hàng Việc thaythế kinh tế trưởng Hollis B Chenery Anne Krueger năm 1982 đánh dấu một sự thayđổi chính sách đáng chú ý tại ngân hàng Krueger đã được biết đến với những lời chỉtrích từ các nước phát triển, cũng như của các chính phủ thế giới thứ ba là tìmkiếm các quốc gia thuê

Cho vay các khoản tín dụng với các nước thuộc thế giới thứ ba đánh dấu sựđiều chỉnh cơ cấu chính sách nhằm tinh giản nền kinh tế của các quốc gia phát triểncũng là một phần lớn trong chính sách Ngân hàng Thế giới trong thời giannày UNICEF báo cáo trong cuối thập niên 1980 các chương trình điều chỉnh cấu trúccủa Ngân hàng Thế giới chịu trách nhiệm về "sức khỏe giảm, mức độ dinh dưỡng vàgiáo dục cho hàng chục triệu trẻ em ở châu Á, châu Mỹ Latinh, và Châu Phi"

2.2.5 Giai đoạn 1989 đến nay

Từ năm 1989, chính sách của Ngân hàng Thế giới thay đổi để đáp ứng vớinhững lời chỉ trích từ nhiều nhóm Các nhóm môi trường và các tổ chức phi chính phủ

Trang 12

đã được sự chấp thuận trong việc cho vay của ngân hàng để giảm thiểu sự tác động củanhững lời chỉ trích khắc nghiệt.

Theo truyền thống, và do thỏa thuận ngầm giữa Hoa Kỳ và Châu Âu, Mỹ đãluôn luôn chọn Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Trong năm 2012, lần đầu tiên, có haiứng cử viên được đề cử cho nhiệm kỳ tổng thống của Ngân hàng Thế giới nhữngngười không phải từ Hoa Kỳ

Ngày 23 tháng ba năm 2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố rằng Hoa

Kỳ sẽ đề cử Jim Yong Kim là Chủ tịch tiếp theo của Ngân hàng

Ngân hàng Thế Giới (WB) hiện có hơn 184 quốc gia thành viên với khoảng10.020 nhân viên, trong đó khoảng 7.000 nhân viên làm việc tại trụ Sở chính tại thủ đôWashington D.C của Mỹ, còn lại làm việc tại các văn phòng đại diện các nước trênkhắp thế giới Đội ngũ nhân viên của Ngân Hàng Thế Giới đến từ hơn 160 nước baogồm các chuyên gia kinh tế, nghiên cứu chính sách, giảng viên, nhà khoa học trong cáclĩnh vực môi trường, chuyên gia y tế, tài chính, khảo cổ học cùng các kĩ sư, chuyên giatrong nhiều lĩnh vực khác Với 5 tổ chức, định chế, vừa thực hiện độc lập vừa kết hợpnhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho Ngân hàng Khách hàng hầu hết hài lòng với sựthay đổi trong các cấp dịch vụ của WB, trong sự tham gia của Ngân hàng vào hiệu quảhoạt động của khách hàng cũng như trong chuyển giao và chất lượng Hơn bao giờ hết,

WB đang giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế Ngân hàng đã gắn bó chặt chẽ vớicác đối tác và khách hàng trong các trường hợp khẩn cấp, từ việc tái thiết sau xung độtBosnia đến hỗ trợ hậu khủng hoảng Đông Á, từ cứu trợ sau thảm hoạ Trung Mỹ, độngđất ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Kosovo và Đông Timor Cùng với 187 nước thành viên hiện nay

và nhiều tổ chức khác, WB đang thực hiện mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ mới(Millennium Development Goals) cho đến năm 2015 bao gồm các vấn đề giáo dục,sức khoẻ và vệ sinh

Bên cạnh sự phát triển về quy mô, Ngân hàng đã không ngừng mở rộng vai trò

và nhiệm vụ của mình: hỗ trợ tái thiết nhanh chóng trở thành một hoạt động ngoài lề,

và giờ đây Ngân hàng chỉ tập trung hướng vào một số quốc gia vừa thoát khỏi xungđột (như Afghanistan, Irak, v.v ); trong chiều ngược lại, hỗ trợ phát triển trở nênchiếm ưu thế đến mức ngày nay, ảnh hưởng của Ngân hàng trong việc hoạch định vàthực hiện chính sách phát triển đã vượt xa số tiền khá khiêm tốn mà nó đóng góp trongluồng vốn quốc tế dành cho hỗ trợ phát triển Có được ảnh hưởng này là do Ngân hàngThế giới đồng thời can thiệp vào nhiều lĩnh vực và vì ba nhiệm vụ của tổ chức này,phần nào đó mâu thuẫn với nhau, cùng tồn tại trong định chế này

- Trước hết, Ngân hàng, như chính tên gọi của nó cho thấy, là một định chế tài chính Nếu là ngân hàng thông thường, hoạt động chính của nó là vay ở các thị trườngtài chính và cho các chính phủ, các doanh nghiệp của các nước đang phát triển vay Vả

Trang 13

lại, hầu hết các Chủ tịch Ngân hàng Thế giới đều xuất thân từ giới ngân hàng Trongkhuôn khổ của các hoạt động hướng đến khu vực kinh tế tư nhân lẫn khu vực nhànước, Ngân hàng phải tìm kiếm lợi nhuận và quan tâm đến khả năng sinh lời của các

dự án mà nó tài trợ

- Đây cũng là một ngân hàng phát triển, nó hỗ trợ các quốc gia về mặt tài chính đểphục vụ các chính sách phát triển của các nước này Như vậy, thông qua hoạt động chovay, Ngân hàng Thế giới cũng phải góp phần hỗ trợ sự phát triển của các quốc gia, vàcác khoản vay của ngân hàng, khác với những ngân hàng bình thường, không chỉnhắm đến mục tiêu duy nhất là hiệu suất tài chính; điều này càng hiển nhiên hơn nữatrong trường hợp các khoản vay ưu đãi hoặc viện trợ không hoàn lại của IDA, chủ yếuđến từ các nguồn viện trợ của các nước giàu

- Cuối cùng, với tư cách là Ngân hàng tri thức , Ngân hàng Thế giới cung cấp cáckiến thức phục vụ cho hai chức năng nói trên và cho cộng đồng phát triển nói chung.Hoạt động thứ ba này của Ngân hàng Thế giới ngày càng có tầm quan trọng, đến mứcngày nay Ngân hàng Thế giới thực sự nắm giữ vai trò lãnh đạo trong kinh tế học pháttriển Ngân hàng Thế giới tự xem mình có vai trò chủ yếu để đóng góp vào việc “hỗtrợ kỹ thuật” cho các nước đang phát triển nhờ vào những kinh nghiệm tích lũy được

về các chính sách kinh tế và bằng các kết quả nghiên cứu của mình

2.3 Cơ cấu tổ chức

Tính đến tháng 8/2011, WB có 187 nước hội viên đồng thời cũng là các cổ đônggóp vốn Đại diện các cổ đông này là Hội đồng Thống đốc và là những người hoạchđịnh chính sách của WB Hội đồng Thống đốc của Nhóm WB và IMF định kỳ họp mỗinăm một lần Do vậy, Hội đồng Thống đốc trao quyền điều hành công việc cụ thể choBan Giám đốc Điều hành gồm 25 thành viên làm việc tại trụ sở WB Năm cổ đông lớnnhất là Pháp, Đức, Nhật, Anh và Mỹ

Chủ tịch WB hiện nay là ông Robert B Zoellick, cũng là Chủ tich Hội đồngThống đốc và chịu trách nhiệm quản lý chung của WB Theo thông lệ, chủ tịch WBthường mang quốc tịch Mỹ, cổ đông lớn nhất của WB Chủ tịch Hội đồng Thống đốc

có nhiệm kỳ 5 năm

Hội đồng Thống đốc bầu ra Ban Giám đốc điều hành hỗ trợ công việc Hội đồngThống đốc tại WB Ban Giám đốc Điều hành họp ít nhất 2 lần một tuần để giám sátcác hoạt động của WB, bao gồm phê duyệt các khoản vay và bảo lãnh, các chính sáchmới, ngân sách quản trị, chiến lược hỗ trợ quốc gia và các quyết định tài chính và vayvốn

Các hoạt động hàng ngày của WB đặt dưới sự chỉ đạo và quản lý của Chủ tịch,Ban Giám đốc Điều hành và các Phó Chủ tịch phụ trách theo khu vực

Trang 14

2.4 Hoạt động của WB

2.4.1 Hoạt động chung

WB có mục đích hoạt động là hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và nângcao mức sống của người dân tại các quốc gia thành viên các nước đang phát triển bằngcách nâng cao năng suất lao động ở các nước này

Hoạt động của WB rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạchhóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng, các dự án pháttriển năng lượng và giao thông vận tải Cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điềuchỉnh chính sách ở các nước đang phát triển (IBRD và IDA) và được phân công chocác tổ chức thành viên thực hiện

Ngân hàng Thế giới là một trong các nguồn Hỗ trợ phát triển lớn nhất thế giới.Mỗi năm, Ngân hàng thế giới cho chính phủ các nước đang phát triển vay khoảng 20

tỷ USD để hộ trợ cho hơn 220 dự án Bên cạnh việc cho vay vốn, Ngân hàng Thế giưóicòn cung cấp hỗ trợ phát triển và tư vấn chính sách cho các chính phủ Các lĩnh vựcthường sử dụng vốn vay từ ngân hàng Thế giới là: Cung cấp nước sạnh; xây dựngtrường học và đào tạo giáo viên; tăng năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp;xây dựng và bảo dưỡng đường xá, đường sắt và các cảng; Quản lý rừng và các tàinguyên thiên nhiên khác; giảm tình trạng ô nhiễm không khí và các vấn đề môitrường; Mở rộng mạng lưới viễn thông; xây dựng và phân phối năng lượng; mở rộngmạng lưới y tế đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em; Hiện đại hoá cơ cấu chính quyền Ngânhàng thế giới mang một sứ mệnh lớn là đấu tranh chống đói nghèo trên toàn thế giớithông qua hình thức là cung cấp vốn và kiến thức chuyên môn cho chính phủ các nướcđang phát triển Khách hàng của Ngân hàng Thế giới là các quốc gia

Chống đói nghèolà mục tiêu của WB

Những hoạt động chính: WB thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và xã hội ở cácnước đang phát triển thông qua trợ giúp kĩ thuật, cho vay vốn dự án đối với các chínhphủ WB huy động vốn từ những thị trường tài chính quốc tế và sử dụng chúng trong

Trang 15

các dự án phát triển ở các nước đang phát triển Tất cả các khoản vay của WB đều phảihoàn trả với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường

WB có năm thể thức cho vay chủ yếu:

1) Vay vốn đầu tư: dựa trên những dự án của chính phủ các nước tiếp nhận.Khoản vốn này có lãi suất cao hơn lãi suất thị trường với thời hạn 15 - 20 năm; thờigian ân hạn tới 5 năm

2) Vay vốn điều chỉnh: trợ giúp chương trình cải cách kinh tế của các nước tiếpnhận nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế và cán cân thanh toán của nước đi vay Kể từkhi có suy thoái kinh tế toàn cầu những năm 1980, WB mở rộng phạm vi hoạt độngcho vay tới những khoản vay điều chỉnh ngành và cơ cấu

3) Đồng tài trợ: WB phối hợp với khu vực tư nhân, tổ chức song phương hoặc đaphương, và các tổ chức chính phủ tài trợ cho một số chương trình của mình

4) Quỹ tín thác: được đóng góp từ những quốc gia tài trợ, tổ chức đa phương, các

tổ chức phi chính phủ, quỹ và tổ chức tư nhân khác tập trung vào những dự án trợ giúp

kĩ thuật ở các nước đang phát triển Hiện nay, IBRD có trên 850 quỹ tín thác

5) Trợ giúp kĩ thuật: cung cấp nguồn lực và chuyên gia cho các nước đang pháttriển để xây dựng những thể chế cần thiết cho quá trình phát triển Những chương trìnhnày tập trung vào phát triển khu vực tư nhân, bảo vệ môi trường và xoá đói giảmnghèo Trợ giúp kĩ thuật chiếm khoảng 10% các khoản cho vay Chỉ cho vay đối vớicác nước thành viên; nếu là tư nhân vay thì phải được nhà nước bảo lãnh, vv Mụcđích cho vay không chỉ nhằm thăng bằng cán cân thanh toán và phát triển kinh tế, màcòn nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế về tiền tệ Việc xây dựng hệ thống thanh toán nhiềubên, tạo sự ổn định của ngân hàng căn cứ vào số cổ phần của mỗi nước thành viên Lợidụng đa số phiếu, các nước phương Tây thường lái các hoạt động của tổ chức này theohướng có lợi cho họ cả về kinh tế và chính trị

2.4.2 Hoạt động của các cơ quan thành viên

2.4.2.1 Ngân hàng Quốc tế về Tái thiết và Phát triển (IBRD)

IBRD được thành lập năm 1945, đây là tổ chức đầu tiên của nhóm ngân hàng thếgiới và là nguồn cho vay được biết đến nhiều nhất của nhóm IBRD cũng là tổ chức cónhiều quốc gia tham gia nhất, có nhiệm vụ rộng lớn và có nhiều nhân viên nhất

Khi IBRD thành lập, nhiệm vụ đầu tiên là giúp châu âu phục hồi sau chiến tranhthế giới thứ hai Ngày nay, IBRD có vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo,cungcấp vốn vay cho các nước có thu nhập trung bình và các quốc gia nghèo có uy tín tíndụng, bảo lãnh, những dịch vụ tư vấn và phân tích IBRD còn giúp các khách hàng tiếpcận được nguồn vốn theo các điều khoản thuận lợi với số lượng lớn hơn với kì hạn dàihơn và ổn định hơn nguồn vốn vay trên thị trường Cụ thể hơn IBRD còn:

Trang 16

- Hỗ trợ những nhu cầu lâu dài về phát triển xã hội và con người mà những nhàđầu tư tư nhân không tài trợ;

- Duy trì sức mạnh tại chính các nước vay thông qua việc hỗ trợ các nước ở thời

kì khủng hoảng khi các nước nghèo bị ảnh hưởng tiêu cực;

- Sử dụng đòn bẩy của tài chính để thúc đẩy cải cách chính sách và thể chế quantrọng (như mạng lưới an ninh xã hội hoặc cải cách chống tham nhũng);

- Tạo môi trường đầu tư thuận lợi để làm chất xúc tác cho nguồn vốn tư nhân

- Hỗ trợ tài chính là lĩnh vực quan trọng đối với cuộc sống của người nghèo ở cácnước

Những nước vay của IBRD điển hình là các nước có thu nhập trung bình, có khảnăng tiếp cận với thị trường tiền tệ tư nhân Một số nước có dủ điều kiện của IDA bởi

vì có thu nhập thấp nhưng có đủ điều kiện vay của IBRD bởi vì có uy tín tín dụng.Những nước này là nhưng nước vay hỗn hợp Các nước vay của IBRD chiếm tới 75%dân số thế giới sống dưới mức 1USD/ngày ngay ca khi bao gồm các khoản vay IBRDcủa các nước đi vay hỗn hợp, các nước vay của IBRD còn lại là các nước có 25% dân

số sống dưới mức 1 USD/ngày

Các nước được coi là thoát khỏi tình hình vay mượn của IBRD khi các nước naykhông đi vay vì mức thu nhập bình quân của người dân đã vượt quá mức mà ngânhàng đã phân cho mức thu nhập trung bình Mặc dù IBRD không tối đa hóa lợi ích,cũng có được mức thu nhập ròng dương hàng năm từ năm 1948 Thu nhập này lànguồn vốn cho các hoạt động phát triển và bảo đảm được sức mạnh tài chính, tạo rađược những khoản có chi phí thấp ở các thị trường vốn và có những điều kiện tốt chocác nước vay tiền Quyền bỏ phiếu của các quốc gia thành viên IBRD tỷ lệ với phầnvốn đóng góp, căn cứ trên sức mạnh kinh tế tương đối của mỗi nước

2.4.2.2 Hiệp hội quốc tế (IDA)

Sau thời kì tái chiết khấu ở Châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhóm ngânhàng thế giới chuyển hướng quan tâm đến các nước phát triển Rõ ràng là các quốcgia đang phất triển nghèo nhất mà lại không thể có khả năng tài chính để vay vốn pháttriển theo điều kiện ngân hàng đưa ra Do vậy một nhóm các nước thành viên của ngânhàng thành lập IDA, có thể cho các quốc gia rất nghèo vay theo các điều khoản dễdàng hơn Để IDA có thể hoạt động với các nguyên tắc kỉ luật của một ngân hàng, cácquốc gia này thỏa thuận rằng IDA là một bộ phận của nhóm ngân hàng thế giới và bắtđầu hoạt động từ năm 1960 IDA đã giúp các nước nghèo nhất trên thế giới xóa đóigiảm nghèo thông qua việc cung cấp các khoản vay có lãi suất bằng không với 10 năm

ân hạn và kì hạn thanh toán là 35 đến 40 năm Những khoản tín dụng này thường đượcxem như khoản vay có điều kiện Các khoản tín dụng của IDA giúp cho việc phát triểnnguồn nhân lực, các chính sách, các thể chế và cơ sở hạ tầng mà các quốc gia này đangrất cần để đạt tăng trưởng nhanh hơn và bền vững về môi trường Mục tiêu của IDA

Trang 17

chính là làm giảm sự chênh lệch giữa các nước và trong các nước, đặc biệt về tiếp cậngiáo dục tiểu học chăm sóc sức khỏe ban đầu, cung cấp nước sạch và vệ sinh, hướngcon người vào phát triển kinh tế bằng cách tăng năng suất lao động Nguồn vốn IDAphần lớn do các chính phủ của các nước công nghiệp hóa đóng góp Đại diện các quốcgia trợ họp 3 năm một lần để cung cấp vốn IDA kể từ khi thành lập đến nay đã lên tới

109 tỷ USD Nguồn vốn bổ sung là các khoản tiền trả cho các tín dụng trước đây củaIDA và từ thu nhập ròng của IBRD Các nước cũng thường tận dụng các cuộc họp bổsung vốn đề thảo luận thêm về phương hướng hoạt động của IDA Năm 2001 lần đầutiên những đại diện của các nước đi vay được tham gia cuộc thảo luận này Các chu kì

3 năm góp vốn cho IDA thường được được gọi theo những con số Ví dụ trong chu kìcho vay của năm tài chính 2003 đén 2005 cũng là góp vốn lần thứ 13 cho IDA haycòn goi là IDA-13

IDA cho các nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp vay, thường là cácnước có thu nhập dưới 875 USD và năm 2002, các nước này còn thiếu khả năng tàichính để vay nợ từ IBRD Hiện tại các nước vay tiền IDA có khoản 2.5 tỷ người,chiếm ½ dân số các nước đang phát triển Ở hầu hết các quốc gia này đại đa số dân số

có mức thu nhập dưới 2 USD/ngày, trong đó cứ 10 người lại có 4 người sống dướimức 1USD/ngày Một số nước có dủ điều kiện vay của IDA vì mức thu nhập bìnhquân đầu người của các nước này là thấp nhưng lại cũng được phép vay tiền của IBRD

vì họ có uy tín tín dụng cao Ví dụ như các nước vay hỗn hợp là Ấn Độ và Inđônêsia

2.4.2.3 Tổ chức tài chính quốc tế (IFC)

Tổ chức thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua khu vực tư nhân Hợp tác với cácđối tác kinh tế IFC đầu tư vào các doanh nghiệp tư nhân phát triển bền vững ở cácquốc gia đang phát triển mà không cần có bảo lãnh của chính phủ Việc trực tiếp chocác doanh nghiệp vay là sự đối lập cơ bản giữa IFC và nhóm ngân hàng thế giới Theovăn bản thỏa thuận IBRD và IDA chỉ có thể cho chính phủ các nước thành viên vay.IFC được thành lập nhằm gỡ bỏ hạn chế này trong hoạt động cho vay của nhóm ngânhàng thế giới IFC cung cấp vốn, các khoản vay dài hạn, bảo lãnh các khoản vay, cácsản phẩm quản lí rủi ro và các khoản dịch vụ tư vấn cho khách hàng của mình, đó lànguồn vay đa phương lớn nhất và cung cấp vốn lớn nhất cho các dự án khu vực tưnhân ở các nước đang phát triển

Trang 18

- Các công cụ dưới dạng vốn (như khoản vay phụ, cổ phiếu ưa thích, phiếu thunhập và các khoản nợ có thể chuyển đổi )

- Các khoản vay chung

- Quản trị rủi ro (như việc hòa giải tiền tệ, hoán đổi lãi suất, cung cấp các phươngtiện bảo vệ) tài trợ trung gian IFC có thể cung cấp các công cụ tài chính đơn lẻ hoặckết hợp dưới bất cứ hình thức cần thiết nào nhằm bảo đảm các dự án đều được cấp vốnđầy đủ từ khi bắt đầu Để có đủ điều kiên vay tiền của IFC, các dự án phải mang lại lợinhuận cho các nhà đầu tư và nền kinh tế của các nước chủ nhà, tuân thủ theo nhữngquy định nghiêm ngặc về xã hội và môi trường

Các dự án tài trợ của IFC bao gồm tất cả của các loại hình công nghiệp, cácngành, ví dụ: công nghiệp chế tạo, cơ sở hạ tầng, du lịch, y tế, giáo dục, các dịch vụ tàichính Các dự án dịch vụ tài chính chiếm phần lớn dự án mới được thông qua, các dự

án này bao gồm đầu tư vào thị trường thuế, bảo hiểm và các khoản tín dụng, các ngânhàng địa phương cung cấp những khoản tài trợ vi mô hoặc những khoản vay kinhdoanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Để đảm bảo có sự tham gia của các nhà đầu

tư vốn và nhưng người cho vay từ khu vực tư nhân, IFC cũng giới hạn tổng số tiền nợ

và cổ phần cung cấp cho từng dự án Với những dự án mới mức tối đa là 25% tổngước tính kinh phí của dự án hoặc có thể lên tới 35% đối với những dự án nhỏ Vớinhững dự án mở rộng, IFC còn có thể cung cấp tới 50% kinh phí của dự án, miễn là sốtiền đầu tư không quá 25% tổng vốn của công ty có dự án đó Trung bình cứ 1 USD

do IFC tài trợ thì những nhà đầu tư hoặc những bên cho vay khác phải cung cấpkhoảng 5 USD

b Huy động nguồn lực

IFC chỉ tham gia đầu tư khi có thể đống góp đặc biệt bổ sung vai trò của các nhàđiều hành thị trường Nhờ sự thành công và vị thế đặc biệt của một tổ chức đa phương,IFC cũng có khả năng đóng vai trò xúc tác cho đầu tư tư nhân

Sự tham gia của IFC trong một dự án sẽ tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư và thuhút được thêm người cho vay và các cổ đông IFC huy động tài chính trực tiếp chocác công ty hoạt động tốt ở các vùng nước đang phát triển qua các khoản cho vaychung cung với các ngân hàng thương mại quốc tế và qua nhận bảo hiểm các quỹ đầu

tư và phát hành cổ phiếu công ty IFC cũng điều hành các khoản bảo lãnh thay thế của

tư nhân

c Dịch vụ tư vấn

Trọng tâm dặc biệt của IFC là thúc đẩy phát triển kinh tế qua việc khuyến khíchtằng trưởng của các doanh nghiệp tư vấn của thị trường vốn hoạt đông có hiệu quả ởcác thành viên Trong khuôn khổ này, IFC tư vấn cho các công ty ở các nước đangphát triển nhiều vấn đề khác nhau, gồm cả cơ cấu lại vật chất và tài chính, hình thànhcác kế hoạch kinh doanh, xác định thị trường, sản phẩm công nghệ và các đối tác tài

Trang 19

chính và kỹ thuật, huy động tài chính cho dự án IFC cũng có thể cung cấp dịch vụ tưvấn bối cảnh của một dự án đầu tư hoặc có thể cung cấp dịch vụ tư vấn độc lập có thuphí phù hợp với thị trường.

2.4.2.4 Cơ quan bảo lãnh đầu tư địa phương (MIGA)

Cơ quan lãnh đạo đầu tư đa địa phương (MIGA) khuyến khích đầu tư nước ngoài

ở các nước đang phát triển bằng việc bảo lãnh cho các nhà đầu nước ngoài không bịnhững mất mát do nhứng rủi ro không mang tính chất thương mại, như bị trưng thu vàchuyển đổi tiền tệ và những hạn chế về chuyển tiền, chiến tranh và những hạn chế lộnxộn dân sự hoặc vi phạm hợp động Hơn nữa, MIGA còn hỗ trợ về kỹ thuật nhằm giúpcác nước phổ biến thông tin về cơ hội đầu tư MIGA cũng cung cấp các dịch vụ hòagiải tranh chấp đầu tư theo yêu cầu

MIGA hoat động theo nguyên tắc:

+ Tập trung theo khách hàng: Phục vụ các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các chínhphủ của nước chủ nhà bằng việc hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân và thúc đẩy đầu tưquốc tế

+ Tham gia quan hệ đối tác: Hợp tác với các công ty bảo hiểm, các cơ quan chínhphủ và tổ chức quốc tế nhằm bổ sung cho nhau về mặt dịch vụ và các tổ chức quốc tế+ Thúc đẩy tác động đối với phát triển: cố gắng cải thiện mức sống của ngườidân trong nền kinh tế đang nổi lên

+ Đảm bảo lành mạnh tài chính: Cân bằng mục tiêu phát triển và mục tiêu kinh tếthông qua bảo hiểm tốt và quản lí rủi ro vững mạnh

Tác động phát triển:

Tạo ra việc làm tại địa phương, tạo thêm ngân sách từ thuế và chuyển giao khảnăng bí quyết công nghệ, cơ sở hạ tầng được cải thiện gồm đường xá, điện, bệnh viện,trường học và nước sạch

MIGA hỗ trợ đầu tư nước ngoài (FDI), khuyến khích đầu tư trong nước và thúcđẩy doanh nghiệp địa phương cung cấp các mặt hàng và dịch vụ MIGA vừa hỗ trợvừa sử dụng các nguồn lực lớn khác khác từ nhóm ngân hàng thế giới, áp dụng tri thứcchưa từng có về nền kinh tế đang phát triển trong dự án mà mình bảo lãnh

Một trung gian bảo hộ

MIGA tác động đến việc giải quyết tranh chấp có thể xảy ra, đóng vai trò trunggian làm tăng lòng tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế đang trỗi dậy mà họ đượcbảo vệ trước những rủi ro phi thương mại

MIGA là yếu tố xúc tác quan trọng trong nền kinh tế FDI thông qua các khoảnbảo lãnh hỗ trợ kỹ thuật và dịch vụ pháp lý Từ khi bắt đầu MIGA đã bảo lãnh 500 dự

án với 78 quốc gia đang phát triển, đến 6/2001 tổng số bảo lãnh hơn 9 tỷ USD đem laigiá trị ước tính FDI tạo điều kiện từ khi MIGA hoạt động là 41 tỷ USD

Ngày đăng: 06/12/2015, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w