1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tràng Giang

11 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 574,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tràng Giang Huy CậnTràng giang là bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ nhất phong cách nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận. Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo được những vang hưởng kì lạ, mang đậm phong vị Đường thi. Chất Đường thi thấm đượm từ thi đề, thi tứ đến thi liệu và những thủ pháp nghệ thuật. Huy Cận rất nhạy cảm trước các cảnh tượng thiên nhiên bát ngát, trước không gian vô tận, trước thời gian vĩnh hằng, tìm về cảnh xưa để khơi dậy mạch sầu nghìn năm, để khẳng định cái tôi bé nhỏ. Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ được diễn tả bằng một hệ thống hình ảnh sinh động, đầy sáng tạo. Tác giả chỉ miêu tả một vài hình ảnh thơ gần gũi đời thường: một dòng sông, một con thuyền xuôi mái, một cành củi bồng bềnh, một cánh bèo lênh đênh, một chợ chiều của làng quê Việt Nam, một cánh chim trong buổi chiều tà nhưng tất cả đều chứa chan tình cảm dân tộc, tình yêu quê hương sâu sắc.

Trang 1

Group 3

TRÀNG GIANG

Trang 2

1/ Tác giả: Huy Cận (1919-2005)

- Tên khai sinh: Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh

Xuất thân từ một gia đình nhà nho nghèo, tham gia cách mạng sớm từ năm 23 tuổi

- Trước Cách mạng tháng Tám: là một trong những tác giả xuất sắc của phong trào thơ mới

- Sau Cách mạng tháng Tám: sáng tác có nhiều đổi mới, tìm thấy

sự hòa điệu giữa con người và xã hội

- Thơ Huy Cận mang tính hàm súc, giàu chất duy tưởng, triết lí

- Tác phẩm tiêu biểu:

+Trước Cách mạng tháng Tám: in tập thơ đầu Lửa thiêng năm

1940, Kinh cầu tự (1942), Vũ trụ ca (1940 – 1942).

+ Sau Cách mạng tháng Tám: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất

nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi

(1968),

I/ TÁC GIẢ - TÁC PHẨM:

Trang 3

1/ Tác phẩm:

- Xuất xứ : nằm trong tập thơ Lửa thiêng (1940)

- Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ này được viết vào mùa thu năm

1939 và cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sông nước

- Bố cục :

+ Khổ 1: bức tranh sông nước buồn vắng

+ Khổ 2: cảnh cồn bến hoang vắng

+ Khổ 3: cảnh bãi bờ quạnh quẽ

+ Khổ 4: bức tranh không gian tầng bậc

Trang 4

Nhan đề và lời đề:

Nhan đề:

* “Tràng Giang”: sông dài

+ Cách đọc “Tràng Giang”: điệp

vần “ang” + âm mở

→ Gợi cảm giác mênh mông,

rộng lớn

+ Từ Hán Việt : cổ kính, trang

trọng

+ Sử dụng tên chung mang tính

khái quát: chở những nỗi niềm

tâm tư của cả dân tộc

Lời đề:

*Thâu tóm được cả tình (bâng

khuân, nhớ) và cảnh (trời rộng, sông dài) của bài thơ → cảm hứng chủ đạo: nỗi buồn trước cảnh sông nước bao la, bát ngát

Trang 5

Khổ 1: Cảnh cồn bến hoang vắng.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.”

- “Sóng gợn”: chuyển động nhẹ nhàng trên mặt dòng nước-> gợi lên sự tĩnh

lặng

- “Điệp điệp”: từ láy gợi nên nỗi buồn chồng chất tầng tầng lớp lớp, triền miên vô

hạn

- “Con thuyền xuôi mái”:hình ảnh con người lênh đênh,buông xuôi theo dòng

nước

 thể hiện sự nhỏ bé, đơn độc

- Từ láy “điệp điệp”, “song song” được đặt cuối câu nhằm tạo nên sự lan tỏa

thêm nỗi buồn trong câu thơ

- Hình ảnh “thuyền về nước lại” :gợi sự chia lìa

- “Củi một cành khô”: đảo ngữ, nhấn mạnh từ củi: sự vật nhỏ bé, tầm thường,

bơ vơ

 “Củi một cành khô lạc mấy dòng” : kiếp người nhỏ bé trôi dạt trong dòng đời.

Trang 6

Khổ 2: Cảnh cồn bến hoang vắng:

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

-Từ láy: + “lơ thơ”: gợi sự thưa thớt, ít ỏi

+ “đìu hiu”: gợi sự vắng lặng, lạnh lẽo

-“Đâu”: → đâu đó: âm thanh mơ hồ, không rõ.

→ đâu rồi: câu hỏi → sự tìm kiếm

-> Niềm khao khát, mong mỏi về một chút hoạt động âm thanh sự sống con người

-Hình ảnh “cồn nhỏ” >< “sông dài”, “trời rộng” >< “bến cô liêu” : không gian

mênh mông, con người nhỏ bé ,gợi sự buồn vắng, cô quạnh, hiu hắt

-“ Xuống, lên, dài, rộng”: sự kết hợp các từ chỉ phương hướng, tạo không gian nhiều

chiều, rợn ngợp, làm con người cảm thấy nhỏ bé, lạc loài giữa vũ trụ bao la

Trang 7

Khổ 3: Cảnh bãi bờ quạnh quẽ:

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

-“cánh bèo”: hình ảnh ước lệ →sự trôi dạt, bấp bênh, long đong của kiếp người nhỏ bé →ở khổ thơ này hình ảnh đó được nhân lên nhiều lần

- Cấu trúc phủ định: “không cầu”, “không một chuyến đò ngang” không có bất cứ thứ gì gắn kết đôi bờ với nhau; nó thiếu đi dấu vết của sự sống, sự kết nối, giao lưu giữa người với người

- Điệp từ “ không”: nhấn mạnh sự trống vắng, buồn bả của cảnh vật

- Cảnh “tràng giang” chỉ còn “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Câu thơ đã vẽ lên được một bức tranh thật đẹp, tĩnh lặng nhưng rất buồn

=> Bốn câu thơ, bốn hình ảnh, tất cả đều gợi buồn Chúng “cộng hưởng” với nhau tạo thành bức tranh gợi về số phận nổi trôi, bơ vơ, bất hạnh, cô đơn của kiếp người trong xã hội cũ Nghệ thuật sử dụng thủ pháp quen thuộc của thơ cổ điển: lấy “không” để nói “có”

Trang 8

Khổ 4:Bức tranh không gian tầng bậc:

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chìm nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

* Hai câu thơ đầu:

-“ lớp lớp”: rất nhiều lớp mây

-“đùn”: khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi

- Hình ảnh cánh chim trong bóng chiều tàn: sự sống xuất hiện một cách nhỏ nhoi, cô độc.

Vẽ nên một bức tranh thiên nhiên chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ qua đó

thể hiện nỗi buồn vô bờ của tác giả.

* Hai câu thơ cuối: thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng của tác giả

- “Dợn dợn”: nghĩa là mặt nước bị xao động liên tục.

- Lòng nhớ quê hương cứ xao động trong tâm hồn trước cảnh sông nước hoang vắng đìu hiu, trống trải khiến nhà thơ phải bộc bạch: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Trang 9

1.Giá trị nội dung:

- Bức tranh Tràng giang hiện lên với tất cả sự đối lập, tương

phản giữa thiên nhiên, không gian vũ trụ mênh mông với sự sống nhỏ bé đơn chiếc, lạc lõng, mong manh…( không gian với 2 sắc thái rõ nét: mênh mông vô biên và hoang sơ hiu quạnh)

- Thể hiện nỗi cô đơn, nỗi sầu vô tận của kẻ lữ thứ- cái “Tôi” bơ

vơ trước thiên nhiên vũ trụ rộng lớn, bao la, mênh mông rợn

ngợp

=> Thể hiện niềm khát khao hòa hợp giữa những con người và tình yêu quê hương đất nước kín đáo của nhà thơ.( Con người sống trên quê hương mà vẫn thấy thiếu quê hương, thấy bơ vơ ngay trên quê hương của mình Cho nên ẩn trong nỗi bơ vơ của một cá thể trước trời đất vũ trụ là nỗi bơ vơ của một người dân mất nước và thiết tha với tạo vật ở đây cũng chính là thiết tha với chính giang sơn tổ quốc mình.)

III/ TỔNG KẾT:

Trang 10

2.Giá trị nghệ thuật

Tràng giang là bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ nhất phong cách nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo được những vang hưởng kì lạ, mang đậm phong vị Đường thi Chất Đường thi thấm đượm từ thi đề, thi tứ đến thi liệu và những thủ pháp nghệ thuật Huy Cận rất nhạy cảm trước các cảnh tượng thiên nhiên bát ngát, trước không gian vô tận, trước thời gian vĩnh hằng, tìm về cảnh xưa để khơi dậy mạch sầu nghìn năm, để khẳng định cái tôi bé nhỏ Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ được diễn tả bằng một hệ thống hình ảnh sinh động, đầy sáng tạo Tác giả chỉ miêu tả một vài hình ảnh thơ gần gũi đời thường: một dòng sông, một con thuyền xuôi mái, một cành củi bồng bềnh, một cánh bèo lênh đênh, một chợ chiều của làng quê Việt Nam, một cánh chim trong buổi chiều tà nhưng tất cả đều chứa chan tình cảm dân tộc, tình yêu quê hương sâu sắc.

Trang 11

Thank you !

Ngày đăng: 04/08/2021, 17:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w