1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN tìm HIỂU về đất nước và CON NGƯỜI NHẬT bản

24 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 317,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Suốt trong nhiều năm, số cá Nhật Bản đánh bắt được lớn hơn bất kỳ một quốc gianào trên thế giới.. Tuy nhiên,trong những năm gần đây, Nhật Bản cũng như các quốc gia có ngành ngư nghiệp ph

Trang 2

I Địa lý Nhật Bản

1.1 Vị trí

Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốnquần đảo độc lập hợp thành Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quầnđảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara.Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, HànQuốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam làPhilippines và quần đảo Bắc Mariana

Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển Nhật Bản không tiếpgiáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảoSakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km

Trên biển, Nhật Bản có vùng đặc quyền kinh tế với đường viền danh nghĩa cách

bờ biển 200 hải lý, song trên thực tế ở các vùng biển Nhật Bản và biển Đông Hải thìphạm vi hẹp hơn nhiều do đây là các biển chung Tương tự, vùng lãnh hải của Nhật Bảnkhông phải hoàn toàn có đường viền cách bờ biển 12 hải lý Đường bờ biển của Nhật Bản

có tổng chiều dài là 33.889 km

Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nước này nổi tiếng thế giới đó lànhiều núi lửa, lắm động đất

Mỗi năm Nhật Bản chịu vào khoảng 1000 trận động đất lớn nhỏ

Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt động trong đó có núi Phú Sĩ Đi kèm với núi lửa

là các suối nước nóng cũng có rất nhiều ở Nhật Bản

1.2 Địa hình

Trang 3

Địa hình Nhật Bản

Địa hình núi chiếm 73% diện tích tựnhiên của Nhật Bản Giữa các núi cónhững bồn địa nhỏ, các cao nguyên và cụmcao nguyên Số lượng sông suối nhiều,nhưng độ dài của sông không lớn Ven biển

có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi tậptrung dân cư và các cơ sở kinh tế nhất làphía bờ Thái Bình Dương

Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m Điểm thấpnhất ở Nhật Bản là một hầm khai thác than đá ở Hachinohe, -135m

1.3 Khí hậu

Nhật Bản có khí hậu gió mùa, mưa nhiều

Thay đồi theo chiều Bắc-Nam:

+Bắc:ôn đới, mùa đông dài lạnh, có tuyết rơi

+Nam: cận nhiệt đới, mùa đông không lạnh lắm, mùa hạ nóng, có mưa to

và bão

Mùa hè và mùa đông tại Nhật Bản là hai thái cực trong khi mùa xuân và mùathu có thời tiết tương đối dịu hơn, với ít mưa và các ngày quang đãng Thủ đô Tokyo củaNhật Bản nằm trên cùng vĩ độ với các thành phố Athens của HyLạp, Tehran của Iran và Los Angeles của Hoa Kỳ Vào mùa đông tại Tokyo, trời lạnh vừavới độ ẩm thấp và đôi khi có tuyết, trái với mùa hè có nhiệt độ và độ ẩm cao

Trang 4

Mặc dù lúa nước rõ ràng là cây trồng quan trọng nhất ở Nhật Bản, nhưng ngườiNhật canh tác cả các loại ngũ cốc khác, như là lúa mạch để cung cấp rượu bia Rất nhiềuloại rau quả, như cà chua, dưa chuột, khoai lang, rau diếp, táo, củ cải và quả anh đào cũngđược gieo trồng Chè cũng được trồng nhiều ở Nhật Bản, đặc biệt là ở các thửa ruộng bậcthang trên sườn núi Sản phẩm chính từ chè là trà xanh hay ocha, được người dân khắpnơi trong nước sử dụng Chè được trồng chủ yếu ở phía nam đảo Honshu.

1.4.2 Ngư nghiệp

Trang 5

Suốt trong nhiều năm, số cá Nhật Bản đánh bắt được lớn hơn bất kỳ một quốc gianào trên thế giới Người Nhật cũng tiêu thụ một lượng lớn cá và các hải sản Tuy nhiên,trong những năm gần đây, Nhật Bản cũng như các quốc gia có ngành ngư nghiệp pháttriển khác đều phải chứng kiến tình trạng cạn kiệt của các ngư trường ven biển và xa bờ.

1.4.3 Công nghiệp

Ô tô, một trong những sản phẩm chính trong công nghiệp của Nhật Bản

Công nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất Nhật Bản.Trong công nghiệp, các ngành được ưa chuộng và phát triển nhất bao gồm: đóng tàu, điện

tử, sản xuất đồ gia dụng, sản xuất ô tô và kim loại màu

1.4.4 Thương mại và dịch vụ

Trang 6

Thương mại và dịch vụ là hai ngành quan trọng của Nhật Bản, riêng ngành dịch

vụ chiếm 73,3% GDP của nước này

-Thương mại

Nhật Bản là một trong những quốc gia thương mại lớn nhất trên thế giới Từ năm

1945, thương mại xuất khẩu tăng trưởng đáng kể và đến năm 2003 đạt giá trị 54,55 nghìn

tỷ yên Hiện nay lợi nhuận mà Nhật Bản thu được từ xuất khẩu đã lớn hơn chi tiêu chonhập khẩu và thặng dư thương mại vào năm 2003 đạt 10,19 nghìn tỷ yên

-Dịch vụ

Một khu trung tâm mua sắm ở Yokohama

Lao động trong các ngành bán lẻ và dịch vụ của Nhật tăng rất nhanh Trong khi

đó, số người làm việc trong ngành công nghiệp chế tạo và nông nghiệp giảm xuống Sựchuyển dịch về lực lượng lao động nói trên một phần là do những tiến bộ về công nghệ.Giờ đây ở các nông trang và trong các nhà máy, các loại máy móc tinh vi và robot đảmnhiệm một cách nhanh chóng và hiệu quả những công việc có tính lặp đi lặp lại, đơn giản

và nguy hiểm Đồng nghĩa với những công việc như vậy ngày càng giảm Tốc độ đô thịhoá tăng kéo theo sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ hỗ trợ như giao thông, viễn thông vànhững ngành dịch vụ công cộng Ngành giải trí và du lịch tăng trưởng mạnh mẽ

-Mua sắm

Trang 7

Số lượng lớn những người làm việc trong các ngành dịch vụ là sự phản ánh về xãhội tiêu dùng của Nhật Bản Người Nhật rất thích mua sắm; trên thực tế, việc mua sắmđang được xem như một thứ tôn giáo hiện đại của nước này Vào mỗi Chủ nhật, tạinhiều đại lộ, ô tô không được lưu thông để những đoàn người mua sắm có thể đi lại dễdàng hơn Dù vậy, vào giờ nghỉ trưa của các ngày chủ nhật, việc mua bán tại siêu thị cóthể bị chậm lại.

-Ngành du lịch

Người Nhật là một trong những dân tộc ưa thích du lịch nhất trên thế giới và dànhmột phần đáng kể trong thu nhập khả dụng của họ cho các kỳ nghỉ ở nước ngoài Thếnhưng ngành du lịch trong nước của Nhật Bản lại không mấy thu hút khách nước ngoài.Năm 2003, có đến 13,30 triệu lượt người Nhật đi du lịch nước ngoài trong khi chỉ có 5,21triệu du khách đến Nhật Bản Năm 2002, nước này xếp thứ 32 trên thế giới về du lịch nộiđịa, thấp hơn so với nhiều quốc gia láng giềng ở Đông Nam

Á như Singapore và Malaysia Hiện nay, hầu hết khách du lịch tới Nhật Bản là người ĐàiLoan, Mỹ, Hàn Quốc và Anh

1.5 Văn hóa –Xã hội Nhật Bản

-Văn hóa, giao tiếp, tập quán trong giao tiếp

Người Nhật rất coi trọng sự chào hỏi, cho dù là ở bất cứ đâu, bất cứ hoàn cảnhhay đối với bất cư ai họ cũng đều tỏ rõ mình là người lịch sự và tôn trọng lễ nghi Đây làmột tập quán tốt đẹp của người Nhật Không chỉ vậy, người Nhật còn rất coi trọng cácmối quan hệ có liên quan đến thứ bậc, địa vị như bố mẹ – con cái, vợ – chồng, chủ –tớ…

Cũng giống như tất cả các nước trên thế giới, Nhật bản cũng có Quốc phục, đóchính là Kimono Tùy theo độ tuổi, giới tính và địa vị mà màu sắc của Kimono được

Trang 8

kiểm soát rất nghiêm ngặt Nhưng về cơ bản thì đó phải là những màu có gốc sáng, dịunhẹ, tươi mới mà không quá sặc sỡ.

Môn thể thao truyền thống của Nhật Bản là Sumo, nhưng đại đa số người dânNhật Bản lại yêu thích môn Bóng chày hơn Ngoài ra, những môn võ như: Karate, Judo,Kendo, Aikido cũng được xuất phát từ Nhật Bản

Tặng quà là một phần trung tâm trong văn hoá của người Nhật Đối với người

Nhật, tặng quà đã trở thành một thói quen, một lễ nghi không thể thiếu được trong đờisống thường ngày của họ Tặng quà được xem như một cách thể hiện sự yêu mến và kínhtrọng lẫn nhau và để xác định các mối quan hệ xã hội Do đó, nếu họ tặng bạn quà thìđừng từ chối mà hãy vui vẻ đón nhận và tặng lại học một món

Người Nhật rất coi trong những lễ nghi truyền thống, việc chào hỏi, ăn uống, cách

để giày dép, xin lỗi, cảm ơn, hay uống trà,…cũng đều phát tuân theo lễ nghi và nguyêntắc Tuy nhiên, điều này không gò bó với khách nước ngoài, nhưng bạn vẫn phải chú ý đểkhông làm mất lòng người dân Nhật Bản nhé

Trong giao tiếp , người Nhật thường có những kiểu như :Kiểu khẽ cúi chào , Kiểucúi chào bình thường , Kiểu Saikeirei, Sự im lặng, Giao tiếp mắt, Gián tiếp và nhậpnhằng, Ngón trỏ và ngón cái tạo thành hình tròn

-Lễ hội

Nhật Bản là quốc gia có nhiều lễ hội Các lễ hội được gọi là Matsuri và được tổ

chức quanh năm Các lễ hội tổ chức theo các nghi lễ cổ của Thần đạo hay tái hiện lại lịch

sử với đầy màu sắc, các nhạc cụ như chuông, trống và các chiếc xe Mikoshi được rước đi

cùng đoàn người nườm nượp

Lễ hội duy nhất về tình yêu ở Nhật Bản, được gọi là Tanabata, được tổ chức vàongày mồng 7 tháng 7 âm lịch

-Văn học, nghệ thuật và ẩm thực

Trang 9

Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học lâu đời và giàu có bậc nhất thếgiới Các tác phẩm văn học đầu tiên có thể đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 7 thậm chí sớm hơn.Lịch sử văn học Nhật Bản chia làm ba giai đoạn chính: Cổ đại, Trung cổ (hay Trung đại)

và Hiện đại, trên nhiều thể loại khác nhau

Thơ Nhật Bản, mà điển hình là thơ haiku, với đặc trưng là các câu ngắn và việc sửdụng nhuần nhuyễn các từ chỉ mùa

Nhật Bản nổi tiếng thế giới với thể loại truyện tranh manga và thể loại phim hoạthình anime

Về Nghệ thuật Nhật Bản nổi tiếng với Trà đạo, Thư đạo, Kiếm đạo, Nhu đạo….Còn nói về ẩm thực có lẽ sushi là món ăn không thể không nhắc đến bên cạch đó

là rượu sake và đậu nành cũng là đặc trưng của Nhật Bản

II QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21/9/1973, đến nayđúng tròn 45 năm Trong 45 năm đó, đặc biệt là từ kể từ khi Việt Nam bắt đầu sự nghiệpđổi mới toàn diện năm 1986 đến nay, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã có

sự phát triển vượt bậc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực

2.1 Về kinh tế

Ngay sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007, ViệtNam và Nhật Bản đã đàm phán và tiến tới ký kết Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản vào năm 2008, đây cũng là hiệp định tự do hóa thương mại song phương đầutiên của Việt Nam

Trang 10

Hai nước cùng là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế thế giới, điển hình như:TPP, WTO…, nhờ đó mối quan hệ thương mại giữa hai quốc gia liên tục được cải thiện

và phát triển

Trong nhiều năm, Nhật Bản là đối tác đầu tư FDI lớn nhất và quốc gia cung cấpnguồn vốn ODA hàng đầu cho Việt Nam, do đó Nhật Bản có vai trò rất quan trọng đốivới quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Quan hệ hợp tác thương mại giữa hai nướckhông ngừng phát triển và toàn diện trên nhiều lĩnh vực Hiện nay, Nhật Bản là thị trườngxuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam sau Mỹ và Trung Quốc và là thị trường tiêu thụ đặcbiệt về các mặt hàng nông sản, thủy sản và các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng như: dệtmay, giày da, thực phẩm chế biến… Nhật Bản là đối tác nhập khẩu hàng đầu của ViệtNam, đứng thứ 3 về kim ngạch sau Trung Quốc và Hàn Quốc, cung cấp những mặt hàngrất cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam như máy móc,thiết bị, phương tiện vận chuyển, các nguồn nguyên liệu quan trọng phục vụ đối với hoạtđộng sản xuất trong nước

Theo số liệu thống kê, hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bảntrong tháng 5/2017 đạt trị giá 1,49 tỷ USD, tăng 17,5 so với tháng tháng 4/2017; nângtổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2017 lên 6,51 tỷ USD, tăng trưởng19,5% so với cùng kỳ năm 2016

Trong 5 tháng đầu năm 2017, dệt may là nhóm hàng có kim ngach xuất khẩu lớnnhất, đạt 1,13 tỷ USD, chiếm 17,4% tổng trị giá xuất khẩu, tăng trưởng 10,3% so vớicùng kỳ năm ngoái

Xếp thứ hai trong bảng xuất khẩu là nhóm hàng phương tiện vận tải và phụ tùng,kim ngạch đạt 833,77 triệu USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 13,8%tổng kim ngạch xuất khẩu

Đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụtùng khác, đạt 683,79 triệu USD, tăng trưởng 15,9% so với cùng kỳ năm 2016, chiếm10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu

Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm 2017, hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu sangthị trường Nhật Bản đều có mức tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng năm ngoái,

Trang 11

một số nhóm hàng có kim ngạch tăng trưởng cao gồm: sắt thép các loại tăng 179,3%;điện thoại các loại và linh kiện tăng 157,7%; xơ, sợi dệt các loại tăng 57,5%; hàng rauquả tăng 56,1%.

Tuy nhiên, một số nhóm hàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản lại có kimngạch sụt giảm so với cùng kỳ như: hạt tiêu giảm 21,1%; thức ăn gia súc và nguyên liệugiảm 17,2%; kim loại thường khác và sản phẩm giảm 15,7%

Cụ thể, 5 năm gần đây (từ năm 2012 đến 2016), Việt Nam duy trì mức xuất siêu sangNhật Bản trong 3 năm đầu (2012, 2013, 2014), những 2 năm sau đó mức thặng dư thươngmại đảo chiều sang nước bạn

Trong đó, năm 2012 Việt Nam xuất siêu được 1,462 tỷ USD; năm 2013 xuất siêu2,016 tỷ USD; năm 2014 xuất siêu 1,767 tỷ USD Bước sang năm 2015, Việt Nam nhậpsiêu từ Nhật Bản 218 triệu USD; năm 2016 nhập siêu 393 triệu USD

2.2 Về hợp tác khoa học, công nghệ

Kể từ khi Hiệp định giữa Chính phủ hai nước Việt Nam-Nhật Bản về khoa học vàcông nghệ được ký năm 2006 đến nay, Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Nhật Bản về hợp táckhoa học và công nghệ đã tổ chức họp 3 lần Số lượng các nhà khoa học Việt Nam sangNhật Bản và các nhà khoa học Nhật Bản sang Việt Nam tiến hành các hoạt động nghiêncứu chung ngày càng tăng Hiện tại, Nhật Bản đang tích cực hỗ trợ ta phát triển điện hạtnhân và an toàn bức xạ và hạt nhân; khai thác và chế biến đất hiếm; hợp tác về tiêuchuẩn, đo lường, chất lượng và sở hữu trí tuệ

Hai bên đang triển khai một số dự án quan trọng trong lĩnh vực này dưới hình thứcNhật Bản hỗ trợ vốn vay ODA cho Việt Nam: Dự án phát triển cơ sở hạ tầng Khu côngnghệ cao Hòa Lạc; Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam của Viện Khoa học và Công nghệViệt Nam

2.3 Về hợp tác lao động và giáo dục đào tạo

Trang 12

Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước đã phát triển dưới nhiềuhình thức: Hợp tác giữa hai Chính phủ, giữa các trường học, giữa các tổ chức, giữa các cánhân Những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những nước viện trợ không hoàn lạilớn nhất cho ngành giáo dục đào tạo của Việt Nam như thiết bị học ngoại ngữ, thiết bịbảo quản tư liệu Việt Hán-Nôm, Bảo tàng Lịch sử, xưởng phim hoạt hình.

Việt Nam cũng đã mời nhiều giáo sư, chuyên gia Nhật Bản sang giảng dạy, tiếpnhận các học giả Nhật Bản sang tìm hiểu về văn hoá, lịch sử Việt Nam Chính phủ NhậtBản tiếp nhận khoảng trên 100 học sinh sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản đào tạo hàngnăm Ngoài ra còn có nhiều học sinh du học tự túc Với sự trợ giúp của chính phủ NhậtBản, Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn thí điểm dạy tiếng Nhật tại một số trường phổthông cơ sở tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 2003-2013

Năm 2012, tổng số người Việt Nam tại Nhật Bản là hơn 50.000 người, tới cuối

2017 con số đó đã lên tới 262.000 và đến giữa 2018 đã lên tới khoảng 300.000 người, tức

là đã tăng gấp 6 lần trong 6 năm qua Trong số đó, số du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản

là hơn 75.000, và số thực tập sinh kỹ năng là trên 140.000 Người Việt Nam đã có mặtsinh sống, lao động và học tập tại tất cả các tỉnh, thành của Nhật Bản

Với việc dân số Nhật Bản đang bị già hóa và giảm về số lượng thì nguồn lao động thựctập sinh nước ngoài, nhất là từ Việt Nam, đang là nguồn bổ sung quan trọng cho sự thiếuhụt nhân lực của Nhật Bản trong hầu hết các ngành nghề Tôi đi đến địa phương nào thìThống đốc và doanh nghiệp các tỉnh đều đánh giá rất cao chất lượng lao động của cácthực tập sinh kỹ năng và những người lao động Việt Nam; hiệu trưởng các trường họcnghề, trường đại học đều đánh giá cao học lực của các du học sinh Việt Nam

Con số hàng trăm nghìn lượt người sang Nhật Bản học tập và lao động thực sự làbiểu tượng sinh động của mối quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi đang ngày càng pháttriển giữa hai nước Đây cũng là nguồn tài sản quí giá, là cầu nối vun đắp cho quan hệ hainước trong nhiều thập kỷ tới

2.4 Về văn hóa

Ngày đăng: 29/07/2021, 07:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w