1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự chủ đại học: Nghiên cứu đối sánh giữa Trung Quốc và Việt Nam

16 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 464,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này thực hiện nghiên cứu so sánh về tự chủ đại học giữa hai quốc gia theo cùng mô hình nhà nước quản trị giáo dục đại học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển khác nhau về hệ thống giáo dục đại học cũng như những thành quả đạt được từ hai quốc gia có cách hiểu khác nhau về tự chủ đại học, đặc biệt là tự chủ tài chính.

Trang 1

TỰ CHỦ ĐẠI HỌC: NGHIÊN CỨU ĐỐI SÁNH GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

Mai Ngọc Anh

Trường Đại học KTQD

Tóm tắt: Bài viết này thực hiện nghiên cứu so sánh về tự chủ đại học giữa hai quốc gia theo cùng mô hình nhà nước quản trị giáo dục đại học Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển khác nhau về hệ thống giáo dục đại học cũng như những thành quả đạt được từ hai quốc gia có cách hiểu khác nhau về tự chủ đại học, đặc biệt là tự chủ tài chính Từ nghiên cứu đối sánh, bài viết đưa ra một số quan điểm trong việc hoàn thiện hệ thống chính sách tự chủ đại học ở Việt Nam sau khi Luật 34 về sửa đổi một số điều của luật giáo dục đại học chính thức đi vào cuộc sống từ 1/7/2019

Từ khóa: đại học, tự chủ, tài chính, bộ máy, học thuật, nhân sự

1 Đặt vấn đề

Tự chủ là xu hướng tất yếu và là điều kiện quan trọng nhằm thúc đẩy cơ sở giáo dục đại học công lập chủ động trong nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên cũng như trang thiết bị giảng dạy và nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Sau giai đoạn triển khai thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập theo Nghị quyết số 77/NQ-CP; đến thời điểm hiện nay có 23 cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc các Bộ, ngành Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện Đề án Những đơn vị này được cho phép kéo dài thời gian thực hiện thí điểm đề án đổi mới cơ chế hoạt động của nhà trường theo Nghị quyết 117/NQ-CP tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2017: ‘Đối với các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã được giao thực hiện thí điểm theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ tiếp tục thực hiện cho tới khi có Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của cơ sở giáo dục đại học công lập và Nghị định của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của cơ

sở giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực thi hành’

Tự chủ cho phép các cơ sở giáo dục đại học đẩy mạnh quá trình xã hội hóa giáo dục, huy động các khoản đóng góp tự nguyện từ người học, từ cộng đồng xã hội nhằm nâng cấp hạ tầng cơ sở và trang thiết bị phục vụ giảng dạy … Cơ sở giáo dục đại học thực hiện thí điểm triển khai thực hiện tự chủ đã nỗ lực gia tăng tiết kiệm, tăng cường kiểm soát các khoản chi, thực hiện trách nhiệm giải trình, Bên cạnh đó, trách nhiệm

xã hội của các cơ sở giáo dục đại học được đẩy mạnh thông qua các nội dung như miễn giảm học phí đối với nhóm đối tượng chính sách; tăng nguồn học bổng cho học sinh có thành tích xuất sắc trong học tập Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, nhưng tự chủ đại học của Việt Nam đang trong giai đoạn thí điểm, cần phải được đánh giá, so sánh với việc thực hiện tự chủ đại học ở một số nền giáo dục có thể chế chính trị tương đồng Bài việt này dựa trên nghiên cứu đối sánh về tự chủ đại học của Trung Quốc với Việt Nam để đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam về thực hiện tự chủ đại học, đặc biệt là sau khi Nghị định 99 về hướng dẫn thi hành một số điều của luật giáo dục đại học có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 02 năm 2020

Trang 2

2 Khung nghiên cứu

Tự chủ đại học được xem như một công cụ quan trọng trong việc tạo nguồn lực

để phục vụ các hoạt động cần thiết của một trường đại học và đảm bảo cho trường đại học hoàn thành sứ mệnh của nó đối với xã hội Trên thế giới thuật ngữ “tự chủ đại học” (university autonomy) được hình thành từ khá sớm và có nguồn gốc từ việc nhận thức vai trò của “tự do học thuật” (academic autonomy) Hội nghị quốc tế về quyền tự

do học tập và tự chủ đại học do UNESCO tổ chức tại Rumani năm 1992 nhận định: Tự chủ là quyền của các trường đại học được tự mình điều hành mà không chịu sự can thiệp từ bên ngoài (UNESCO, 1992) Nhận định này được hai tác giả Anderson and Johnson tiếp tục kế thừa và khẳng định tự chủ đại học (university autonomy) được hiểu

là sự tự do của một cơ sở giáo dục đại học trong việc điều hành các công việc của

trường mà không có sự chỉ đạo hoặc tác động từ bất cứ cấp chính quyền nào (Don Anderson và Richard Johnson, 1998) Tapper và Salter (1995) cho rằng, tự chủ là một vấn đề được xác định theo bối cảnh và thể chế chính trị Chính vì thế, Zgaga (2007) khẳng định tự chủ đại học phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý do cơ quan công quyền công bố Mức độ tự chủ đại học của các cơ sở giáo dục đại học công lập ở các quốc gia, với các thể chế khác nhau do đó cũng không đồng nhất

Tự chủ đại học không chỉ được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa hệ giữa nhà nước và nhà trường thông qua mối quan hệ kiểm soát và mức độ kiểm soát, thể hiện mức độ tự chủ của nhà trường; tự chủ đại học còn được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa nhà trường với các đơn vị trực thuộc tùy theo mô hình cấp độ của cơ sở giáo dục đại học đó Ở Việt Nam, nói đến tự chủ là nói đến mối quan hệ giữa Nhà nước và cơ

sở giáo dục đại học, tự chủ cao đồng nghĩa với mức độ can thiệp thấp của Nhà nước vào các công việc của cơ sở giáo dục đại học Và, điều cần lưu ý là, tự chủ là quyền lợi của cơ sở do đó phải đi đôi với tự chịu trách nhiệm và tính giải trình cao sao cho đạt được các mục tiêu của nhà trường một cách có hiệu quả và minh bạch (Nguyễn Đông Phong, Nguyễn Huy Nhựt 2013)

Các trụ cột của tự chủ đại học liên quan đến 4 vấn đề (i) bộ máy, (ii) tài chính, (iii) học thuật và (iv) nhân sự, các hợp phần của chính sách tự chủ đối với cơ sở giáo dục công lập thể hiện thông qua các văn bản quy định của pháp luật cũng hướng đến khía cạnh này

Tự chủ về bộ máy của cơ sở giáo dục đại học công lập Mặc dù quy định về bộ

máy quản trị cơ sở giáo dục đại học rất khác nhau giữa các cơ sở giáo dục đại học, tuy

Trang 3

mức học phí, xác định các nguồn sản sinh tài chính của nhà trường (Anh Ngoc Mai, et

al 2020)

Tự chủ học thuật thể hiện mức độ mà cơ sở giáo dục đại học tự mở và đóng các

chương trình đào tạo theo các cấp độ đào tạo bậc đại học; tự quyết định nội dung các chương trình đào tạo và lựa chọn ngôn ngữ giảng dạy Cơ sở giáo dục đại học còn tự chủ trong quyết định về cơ chế tuyển sinh và số lượng sinh viên được tuyển hàng năm

và bên cạnh đó, việc liên kết đào tạo quốc tế cũng nằm trong quyền tự quyết của nhà trường

Tự chủ về nhân sự đó là việc cơ sở giáo dục đại học được quyền tự quyết về

hoạt động tuyển dụng cán bộ, giảng viên phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu cũng như mức thù lao chi trả hàng tháng cho đội ngũ công nhân viên nhà trường Ngoài ra việc quyết định về vị trí quản lý cũng như xét phong học hàm, học vị cũng do cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn đảm nhận

Để tiến hành nghiên cứu đối sánh về tự chủ đại học giữa Trung Quốc và Việt Nam, nghiên cứu này trước tiên làm rõ bức tranh giáo dục đại học ở Trung Quốc và Việt Nam Theo đó, sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học theo khu vực địa kinh

tế sẽ được rà soát; sự phát triển của hệ thống giáo dục còn được đo lường thông qua sự ghi nhận của thế giới với hệ thống các cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng toàn cầu, đặc biệt đó là cách thức mà chính phủ sử dụng tự chủ đại học để phát triển những cơ

sở giáo dục đại học hàng đầu này Nghiên cứu thực hiện so sánh các trụ cột liên quan đến tự chủ đại học để tiến hành so sánh những điểm tương đồng, khác biệt, từ đó đưa

ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách tự chủ đại học của Việt Nam

3 Nghiên cứu đối sánh tự chủ đại học giữa Trung Quốc và Việt Nam 3.1 Bức tranh giáo dục đại học giữa Trung Quốc và Việt Nam

Hệ thống cơ sở giáo dục đại học công lập của Trung Quốc

Báo cáo của Bộ Giáo dục về thực trạng cơ sở giáo dục đại học ở Trung Quốc năm 2017 cho hay, trên toàn lãnh thổ có tổng cộng 2631 cơ sở giáo dục cao đẳng và đại học Trong đó, 1243 cơ sở thực hiện chức năng đào tạo bậc đại học, 1388 tham gia đào tạo bậc cao đẳng Trong 1243 cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo bậc đại học

có 76 cơ sở trực thuộc sự quản lý của Bộ Giáo dục, 38 cơ sở giáo dục đại học trực thuộc sự quản lý của bộ ngành khác ở trung ương, 703 cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sự quản lý hành chính của chính quyền địa phương, trong đó 630 cơ sở giáo dục đại học (newly-built) chịu sự kiểm soát về chất lượng của Bộ Giáo dục; ngoài ra trên toàn lãnh thổ Trung Quốc hiện có 426 cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập

Trang 4

Bảng 1: Thực trạng hệ thống giáo dục đại học của Trung Quốc giai đoạn 2005-2017

200

5

200

6

200

7

200

8

200

9

201

0

201

1

201

2

201

3

201

4

201

5

2017

Đại học 701 720 740 107

9

109

0

111

2

112

9

114

5

117

0

120

2

121

9

1243

Trong đó

Hệ

thống

newly-built

- - - 291 314 347 382 403 630

Ngoài

công

lập

27 29 30 369 370 371 388 390 392 417 423 426

Cao

đẳng

109

1

114

7

116

8

118

4

121

5

124

6

128

0

129

7

132

1

132

7

134

1

1420

Nguồn: Mai Ngọc Anh 2020, trang 182

Trong khi các cơ sở giáo dục đại học tập trung đông ở khu vực miền Trung và khu vực phía Đông Trung Quốc; ở khu vực phía Tây với các tỉnh như Ninh Hải, Tây Tạng và Nội Mông… mật độ tập trung của các cơ sở giáo dục đại học lại tương đối rời rạc, trung bình không quá 53 cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn mỗi tỉnh với diện tích bình quân mỗi tỉnh ở khu vực phía Tây rộng hơn nhiều lần so với diện tích bình quân các tỉnh ở 2 khu vực còn lại

Các cơ sở giáo dục ngoài công lập của Trung Quốc đã thâm nhập vào 30/31 tỉnh, khu tự trị và đô thị, số lượng cơ sở giáo dục ngoài công lập là khác nhau giữa 3 vùng cũng như trong từng vùng Số lượng cơ sở giáo dục ngoài công lập ở khu vực phía Tây là thấp nhất so với 2 khu vực còn lại Có 70 cơ sở giáo dục ngoài công lập đặt tại 11 tỉnh miền Tây Trung Quốc, chiếm 16,7% tổng số cơ sở giáo dục ngoài công lập của Trung Quốc năm 2015 Hầu hết các tỉnh ở khu vực phía Tây ít hơn 9 cơ sở giáo dục ngoài công lập, với ngoại lệ là Tứ Xuyên và Quảng Tây Các cơ sở giáo dục ngoài công lập của Trung Quốc chưa được thành lập tại khu tự trị Tây Tạng

Trang 5

Bảng 2: Phân bố địa lý của các cơ sở giáo dục đại học hiện hành ở Trung Quốc

Các tỉnh thuộc

miền Đông Số cơ sở giáo dục đại học

Các tỉnh thuộc miền Trung

Số cơ sở giáo dục đại học

Các tỉnh thuộc miền Tây

Số cơ sở giáo dục đại học

Công lập

Ngoài công lập

Đại học

211

Đại học

985

Công lập Ngoài

công lập

Đại học

211

Đại học

985

Công lập

Ngoài công lập

Đại học

211

Đại học

985 Hắc Long

Khu tự trị

Nguồn: Mai Ngọc Anh, 2020

Trang 6

Theo phân bổ địa lý 85% cơ sở giáo dục đại học tham gia Dự án 211 tập trung

ở khu vực Trung và Đông của Trung Quốc, số còn lại nằm rải rác ở khu vực phía Tây Xét theo mức độ tham gia vào các dự án xây dựng đại học trọng điểm, ngành trọng

điểm (Dự án 211), dự án xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế (Dự án 985), thì miền

Đông là khu vực có số cơ sở giáo dục đại học nhiều nhất được Chính phủ Trung Quốc lựa chọn để tham gia dự án phát triển giáo dục đại học, kế đến là khu vực miền Trung,

số lượng các đại học ở khu vực phía Tây được lựa chọn tham gia vào 2 dự án này

không nhiều Tỷ lệ các cơ sở được lựa chọn tham gia Dự án 985 ở khu vực phía Đông

và miền Trung Trung Quốc còn cao hơn, khi có đến 90% số cơ sở được tham gia nhóm dự án này Mặc dù chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối trong số các cơ sở giáo dục tham gia hai dự án trọng điểm của quốc gia thời gian qua, tuy nhiên việc phân bổ cũng không đồng đều giữa các tỉnh thành Bắc Kinh, Giang Tô, Thượng Hải, Thiểm Tây và

Hồ Bắc là những tỉnh mà có số cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn tham gia vào 2 nhóm dự án này nhiều nhất Một số tỉnh thành còn lại ở 2 khu vực này, số cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn tham gia là không nhiều, thậm chí còn thấp hơn so với Tứ Xuyên, một tỉnh thuộc khu vực miền Tây Chỉ có 5/20 tỉnh thành không có cơ sở giáo dục được lựa chọn tham gia Dự án 985 ở khu vực miền Đông và miền Trung Trong khi đó chỉ có 3/11 tỉnh thành có cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn tham gia dự án

985 ở khu vực miền Tây

Đến thời điểm hiện nay, hai cơ sở giáo dục đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được xếp hạng trong top 30 đại học hàng đầu toàn cầu 5 cơ sở giáo dục đại học còn lại trong hệ thống Ivy League được xếp hạng từ 90 đến 200 cơ sở giáo dục hàng đầu

thế giới; 7 cơ sở giáo dục đại học được đầu tư từ Dự án 985 và Dự án 211 đã trở thành

những cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng từ 300-500 đại học đẳng cấp thế giới; 24

cơ sở giáo dục đại học tham gia Dự án 211 được xếp hạng từ 500 đến 1000

Trang 7

Bảng 3: Xếp hạng một số cơ sở giáo dục đại học đẳng cấp thế giới của Trung Quốc

University rankings

THE world University rankings

Đại học Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc 104 98 153 93

Đại học Công nghệ Cáp Nhĩ Tân 278 285 501-600 401-500

Đại học Công nghệ Bắc Kinh 389 464 601-800 601-800

Đại học Khoa học kỹ thuật Hoa Đông 441-450 415 401-500 351-400

Đại học Công nghệ Hoa Đông 471-480 531-540 501-600 601-800

Đại học Công nghệ Đại Liên 481-490 571-580 601-800 601-800

Đại học Sư phạm Hoa Đông 551-600 501-510 501-600 501-600

Đại học Công nghệ Hoa Nam 551-600 541-550 601-800 501-600

Đại học Khoa học kỹ thuật Bắc Kinh 551-600 751-800 - 801-1000

Đại học Công nghiệp Bắc Kinh 651-700 751-800 - -

Đại học Giao thông Bắc Kinh 701+ 751-800 - 801-1000

Nguồn: Mai Ngọc Anh 2020, trang 206-207

Trang 8

Đối với Việt Nam, đến năm 2019, trên cả nước có 236 cơ sở giáo dục đại học trong đó có 5 đại học, 90 trường đại học trực thuộc bộ và các cơ quan ngang bộ (không

kể các học viện, đại học, trường đại học trực thuộc hệ thống quân đội, cảnh sát), 22 trường đại học công lập do tỉnh quản lý, 65 cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập gồm

cả một số cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài như Đại học RMIT, Trường Đại học Fulbright, Trường Đại học Anh quốc tại Việt Nam, Trường Đại học Y khoa Tokyo…

Bảng 4: Thực trạng cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2019

Số liệu báo cáo ở năm học 2017 - 2018 Mục tiêu

theo Quyết định 37

Tổng số Công lập Tư thục

Trường đại học trực thuộc

bộ, cơ quan ngang bộ

90

Cơ sở giáo dục Đại học

công lập thuộc tỉnh

22

Nguồn: Mai Ngọc Anh, 2020, trang 325

Đến thời điểm hiện tại, ngoại trừ vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Vùng Tây Nguyên và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ tiêu phát triển cơ sở giáo dục đại học đã được hoàn thành ở tất cả Vùng kinh tế còn lại theo Quyết định 37 Trong đó, Vùng Đồng bằng Sông Hồng và Vùng Đông Nam Bộ là hai khu vực có số cơ sở giáo dục đại học nhiều nhất trong cả nước Tây Nguyên là khu vực kinh tế có ít cơ sở giáo dục đại học nhất; báo cáo hiện hành cho của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho hay, số cơ sở giáo dục đại học hiện hành không thay đổi so với số cơ sở đã tồn tại ở năm 2004 Mặc

dù số cơ sở giáo dục được thành lập mới ở Vùng Đồng bằng Sông Hồng là nhiều nhất khi so sánh thời điểm hiện tại với khi xác định mục tiêu cần phải đạt được ở năm 2020 của Quyết định số 121/2007/QĐ-TTG; tuy nhiên Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung mới là khu vực mà có tỷ lệ tăng trưởng số cơ sở giáo dục đại học nhiều nhất khi số cơ sở giáo dục đại học hiện hành cao hơn 3 lần so với số cơ sở giáo dục đại học từng hoạt động ở năm 2004, thời kỳ trước khi xây dựng mục tiêu phát triển của

Trang 9

Vùng kinh tế

Mục tiêu đến 2020

(Quyết định số 121/2007/QĐ-TTG)

Vùng kinh tế

Mục tiêu đến

2020

(Quyết định 37)

Hiện tại

Vùng Tây Bắc 3 cơ sở GDĐH Vùng Trung du và

Vùng Đông Bắc 10 cơ sở GDĐH

Vùng Đồng bằng

Sông Hồng

125 cơ sở GDĐH

(năm 2004 có 61 đại học, 43 cao đẳng)

Vùng Đồng bằng

Bắc Trung Bộ

45 cơ sở GDĐH

(năm 2004 có 11 đại học, 11 cao đẳng) Vùng Bắc Trung

bộ và Duyên hải miền Trung

Duyên hải Nam

Trung Bộ

60 cơ sở GDĐ

(năm 2004 có 10 đại học, 21 cao đẳng)

Vùng Tây

Nguyên

15 cơ sở GDĐH

(năm 2004 có 4 đại học, 6 cao đẳng)

Vùng Đông Nam

Bộ

105 cơ sở GDĐH

(năm 2004 có 47 đại học, 43 cao đẳng)

Vùng Đông Nam

Vùng Đồng bằng

sông Cửu Long

70 cơ sở GDĐH

(năm 2004 có 6 đại học, 18 cao đẳng)

Vùng Đồng bằng

Nguồn: Mai Ngọc Anh, 2020, trang 326

Trong quá trình hội nhập quốc tế, cùng với mục tiêu định hướng đại chúng hóa giáo dục đại học, Chính phủ Việt Nam cũng khuyến khích, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học vươn tầm quốc tế Đến năm 2020, Việt Nam đã có 8 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng trong top 500 các cơ sở giáo dục đại học hàng đầu Châu Á, 7 trong số đó là các cơ sở giáo dục đại học công lập, và 1 cơ sở còn lại là cơ sở giáo dục đại học tư thục Cũng theo xếp hạng của QS thì đến năm 2020 Việt Nam có 2 cơ sở giáo dục đại học nằm trong top 1000 đại học hàng đầu thế giới; ít hơn so với bảng xếp hạng của THE (có thêm trường đại học Bách Khoa); còn theo bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải, Việt Nam còn có thể Đại học Tôn Đức Thắng trong top

1000 đại học uy tín hàng đầu thế giới

Trang 10

Bảng 6: Xếp hạng đại học đẳng cấp quốc tế của Việt Nam theo QS

Tên trường

Châu

á

Toàn cầu

Châu

á

Toàn cầu

Châu

á

Toàn cầu

Châu

á

Toàn cầu Đại học Quốc gia Thành

phố Hồ Chí Minh

701-750

143

701-750 Đại học Quốc gia Hà

Nội

801-1000

147

801-1000 Trường Đại học Tôn

Đức Thắng

291-300

Trường Đại học Bách

Khoa

301-350

-

291-300

-

261-270

-

261-270

-

Trường Đại học Cần

Thơ

251-300

-

301-350

-

351-400

-

401-450

-

451-500

-

401-450

-

451-500

-

301-350

-

351-400

-

451-500

-

451-500

- Nguồn: QS world ranking 2020

3.2 So sánh tự chủ đại học giữa Trung Quốc và Việt Nam

Về tổ chức bộ máy: mặc dù cả Trung Quốc và Việt Nam hiện nay, bộ máy quản

trị đại học được xây dựng theo cấu trúc (i) có bộ phận thực thi điều hành nhà trường (ii) và có bộ phận quản trị nhà trường Tuy nhiên bản chất bộ máy điều hành nhà trường trong giai đoạn tới sẽ có nhiều khác biệt giữa hai quốc gia đang cùng theo một thể chế chính trị Nếu như ở Trung Quốc, mô hình quản trị đơn bộ máy với Đảng ủy đại học giữ vai trò, trách nhiệm về quản trị cơ sở giáo dục đại học; toàn bộ thành phần

là đội ngũ đảng viên trong Đảng ủy đại học, không có sự tham gia của đại diện ngoài trường Ở Việt Nam, sau khi Luật giáo dục đại học sửa đổi có hiệu lực từ 1/7/2019, mô

Ngày đăng: 21/07/2021, 07:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w