1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp tác giáo dục giữa trung quốc và việt nam từ năm 1991 đến nay

122 525 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3.1 Nghiên cứu ở Trung Quốc Hiện nay nghiên cứu về giao lưu và hợp tác giáo dục của các quốc gia trong đó có quan hệ hợp giữa hai nước Trung-Việt được giới họ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN PHƯỢNG

HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA TRUNG QUỐC

VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN PHƯỢNG

HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA TRUNG QUỐC

VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thế Anh

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cảm đoan dây là công trình nghiên cứu khoa hoc cá nhân của tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì gian dối tôi xin hoan toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên cao học

Trần Phƣợng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả thầy, cô giáo

đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến các thầy, cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn Thạy sỹ này của tôi- những người sẽ nhìn nhận,đánh giá công trình nghiên cứu của tôi từ những góc độ khoa học và chắc chắn

sẽ cho tôi những nhận xét, đóng góp xác đáng nhất Đặc biệt, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Hoàng Thế Anh -người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Xin chân thành cảm ơn !

Học viên

Trần Phƣợng

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

Chương 1 CƠ SỞ HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 8

1.1 Khái quát về mối quan hệ Trung- Việt từ sau khi bình thường hóa 8

1.2 Tình hình giáo dục hai nước 10

1.2.1Tình hình giáo dục của Trung Quốc 10

1.2.2 Tình hình giáo dục của Việt Nam 16

1.3 Tầm quan trọng của việc hợp tác 24

Chương 2 THỰC TRẠNG HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 31

2.1 Chủ trương đường lối tăng cường hợp tác giáo dục giữa hai nước 31

2.1.1 Các thông cáo chung, tuyên bố chung của nhà nước 31

2.1.2 Thể hiện trong các hiệp định giữa Việt Nam và Trung Quốc ở hai cấp Trung ương và địa phương 40

2.2 Thực trạng và các loại hình hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam 45

2.2.1.Các loại hình hợp tác đào tạo 48

2.2.2 Thực trạng hợp tác giáo dục giữa Trung-Việt 53

2.2.3 Một số trường hợp tiêu biểu 63

Chương 3 ĐÁNH GIÁ VÀ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA HAI NƯỚC 73

3.1 Một vài nhận xét về hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam 73

3.1.1 Thành công 75

Trang 6

3.1.2 Hạn chế 79

3.2 Kiến nghị 86

3.3 Triển vọng hợp tác giáo dục giữa hai nước trong thời gian tới 95

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 108

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Thống kê số lượng giáo viên và sinh viên bậc đại học Việt Nam 21 Bảng1 2: Bảng thống kê trình độ học vấn và số lượng giáo viên bậc đại học Việt Nam 23 Bảng 1.3: Bảng tóm tắt xếp hạng và tổng số lưu học sinh Việt Nam đến Trung Quốc du học năm 2000- 2012 28

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng có quan hệ từ lâu đời Do đặc điểm về địa lý và lịch sử nên nền giáo dục hai nước có nhiều ảnh hưởng, giao lưu qua lại Mối quan hệ này lại được tăng cường ở mức độ cao hơn từ sau ngày 18 tháng 1 năm 1950 khi nước CHND Trung Hoa và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao Thập niên 50-70 của thế kỷ XX với sự giúp đỡ và ủng hộ của Trung Quốc, Việt Nam đã xây dựng được một số trường đại học để đào tạo cán

bộ cho sự nghiệp xây dựng đất nước Đồng thời các trường đại học Bắc Kinh, đại học Thanh hoa, đại học nhân dân Trung Quốc, đại học Vũ Hán… đã bồi dưỡng một

số lượng lớn nhân tài cho Việt Nam Những sinh viên Việt Nam sau khi tốt nghiệp

ở Trung Quốc về nước đã trở thành những cán bộ ưu tú trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước và xây dựng kinh tế, nhiều người đã trở thành những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Việt Nam

Cũng trong thời gian này trường đại học tổng hợp Hà Nội cũng đã bồi dưỡng rất nhiều nhân tài chuyên ngành tiếng Việt cho Trung Quốc Hầu hết những sinh viên này đã trở thành những cán bộ giảng dạy tiếng Việt trên khắp Trung Quốc và một số đã trở thành những nhà ngoại giao ưu tú góp phần vào sự nghiệp xây dựng quan hệ hữu nghị Trung - Việt Đây chính là những hợp tác giáo dục trong giai đoạn mới rất đáng ghi nhận

Ngày nay, hai nước đang cùng tiến hành công cuộc cải cách kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển Công cuộc đổi mới ở Việt Nam và công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc có nhiều nét tương đồng về mục tiêu cũng như tương tự

về cách làm, do vậy giáo dục hai nước cũng có nhiều vấn đề giống nhau Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Việt Nam xác định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là ―quốc sách hàng đầu‖, cũng thời gian này ở Trung Quốc đang thực hiện chiến lược ―khoa giáo hưng quốc‖ (Khoa học giáo dục chấn hưng đất nước) Từ sau khi bình thường hóa quan hệ Trung-Việt tháng 11 năm 1991 cho đến nay các

Trang 9

hình thức hợp tác giáo dục ngày càng đa dạng, nội dung ngày cang phong phú, thành tích thu được ngày càng rõ rệt Giáo dục hai nước Trung-Việt đi sâu vào rất nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất, dễ nhận thấy nhất vẫn là quan hệ hợp tác giáo dục đại học Chính vì thế luận văn nhằm mục đích tìm hiểu về hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1991 đến nay nhưng lại ưu tiên nghiên cứu kỹ hơn về hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực giáo dục đại học Đi sâu vào nghiên cứu hợp tác giáo dục hai nước thông qua tổng kết hiện trạng giáo dục từ đó tìm ra ý nghĩa quan trọng của việc hợp tác giáo dục giữa hai nước; những phương châm và quyết sách mà hai nước đã đưa ra trong phương diện giáo dục Luận văn cũng tổng kết những thành tựu trong hợp tác giáo dục

mà hai nước đã đạt được từ khi bình thường hóa quan hệ cho tới năm 2013; phân tích những thiếu sót còn tồn tại, những vấn đề cần cải thiện và định hướng tương lai hợp tác giáo dục giữa hai nước Từ đó hy vọng tìm được những ý nghĩa quan trọng để phát triển toàn diện hơn nữa quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước như hiện nay

Với tinh thần đó chúng tôi chọn Hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Viêt Nam từ năm 1991 đến nay làm đề tài của luận văn

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Từ năm 1991, sau khi Trung Quốc - Việt Nam bình thường hóa quan hệ, hợp tác giáo dục của hai nước được phát triển hơn, nội dung hợp tác càng ngày càng phong phú và đa dạng Cùng với việc xây dựng và phát triển của khu mậu dịch tự

do Trung Quốc - Đông Nam Á, kinh tế, mậu dịch, giao lưu và hợp tác văn hóa cũng

sẽ mở rộng hơn, hai bên đang rất cần nguồn nhân lực biết tiếng Trung và tiếng Việt

Hiện nay, quá trình trao đổi lưu học sinh, giáo viên sang tham quan học hỏi của các trường hợp tác rất thuận lợi, lưu học sinh hai nước tăng từng năm, đồng thời Việt Nam cũng là nước nhận được học bổng lớn nhất từ chính phủ Trung Quốc Mặc dù quan hệ giáo dục của hai nước ngày càng phát triển hơn, nhưng mức độ hợp tác vẫn còn có những vấn đề cần phải trao đổi thí dụ như: chưa toàn diện, đa số chỉ

Trang 10

là học ngôn ngữ và trao đổi lưu học sinh và giáo viên, có những lĩnh vực rất cần thiết như hợp tác nghiên cứu khoa học, giáo dục từ xa, đầu tư giáo dục và chia sẻ tài liệu vẫn còn hạn chế

Mong muốn tìm hiểu những vấn đề trên, luận văn cố gắng phân tích làm

rõ thực trạng quan hệ hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam, từ đó nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của quan hệ hợp tác giáo dục và đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Nghiên cứu ở Trung Quốc

Hiện nay nghiên cứu về giao lưu và hợp tác giáo dục của các quốc gia trong

đó có quan hệ hợp giữa hai nước Trung-Việt được giới học thuật ở Trung quốc rất quan tâm Đã có nhiều công trình được công bố trên các báo và tạp chí Có thể nêu một số công bố sau:

Tác giả Nông Lập Phu thuộc Viện KHXH Quảng Tây có bài: ―Nhìn lại và triển vọng hợp tác giáo dục hiện nay giữa Trung Quốc và Việt Nam‖ tại Diễn đàn học thuật năm 2012 Bài viết đã điểm lại sơ lược quá trình hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam để đưa ra triển vọng về tăng cường đào tạo đội ngũ giảng viên, tăng cường nghiên cứu và giao lưu nghiên cứu ngôn ngữ giữa hai nước nhất là sau khi có hiệp định công nhận văn bằng của nhau

Các tác giả Lưu Côn, Dư Minh Cửu có bài ―So sánh và thảo luận về chính sách giáo dục vùng biên giới Trung-Việt dưới góc độ giáo dục học‖ năm 2011 Bài viết đã đưa ra một số nhận định về các chính sách và ảnh hưởng của nó đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng biên

Tác giả Lê Xảo Bình trong bài ―Giao lưu hợp tác giáo dục Quảng Tây và Việt Nam‖ năm 2010 đã nêu lên những hình thức biểu hiện trong giao lưu hợp tác giáo dục giữa Quảng Tây và Việt Nam Đã khái quát 3 phương diện chủ yếu đó là trao đổi sinh viên, trao đổi giảng viên và cử các đoàn đại biểu sang giao lưu học hỏi lẫn nhau, đồng thời đưa ra những thiếu sót còn tồn tại như nguồn sinh viên không

Trang 11

cân bằng, chiêu sinh còn hạn hẹp, phương pháp dạy và học, thiếu sót trong quản lý sinh viên

Tác giả Phạm Kim Ngọc trong luận văn tốt nghiệp Đại học dân tộc Quảng Tây năm 2010 với công trình ―Lựa chọn chiến lược và phân tích SWOT hợp tác giáo dục thể chất Quảng Tây và Việt Nam‖ đã vận dụng phương pháp tổng kết tài liệu, phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra bảng hỏi, phân tích SWOT tiến hành phân tích ưu thế, yếu thế trong hiện trạng xây dựng chuyên ngành giáo dục học giữa các trường đại học của Quảng Tây và Việt Nam, đưa ra con đường lựa chọn chiến lược hợp tác giáo dục thể chất giữa các trường đại học của Quảng Tây

và Việt Nam

Ngoài ra còn có những học giả quan tâm chú ý tới giáo dục của lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc như Sát Cương với ―Nghiên cứu giáo dục lưu học sinh Việt Nam tại trường đại học Dân tộc Quảng Tây‖ năm 2011; Trần Tuyết Quân ―Bàn

về giáo dục thẩm mỹ của lưu học sinh Việt Nam tại các trường đại học‖ năm 2007 Cũng có không ít học giả đặc biệt quan tâm chú ý đến hợp tác giáo dục giữa Quảng Tây và Việt Nam như: Lý Ngọc Hoa, Mạc Thiếu Cường, Tưởng Tâm Bình, Hoàng

Hà ―Nghiên cứu cơ hội hợp tác giáo dục thể chất giữa các trường đại học Quảng Tây và Việt Nam‖ (giáo dục Quảng Tây) năm 2011 Các tác giả đã tiến hành phân tích từ 4 phương diện trong hợp tác giáo dục thể chất giữa các trường đại học của Quảng Tây và Việt Nam đó là cơ hội thuận lợi do chính sách, lợi thế địa lý, ưu thế văn hóa, cơ hội hợp tác đồng thời thông qua việc mở rộng con đường hợp tác như hợp tác giảng dạy thể chất, hợp tác rèn luyện, hợp tác nghiên cứu và hợp tác giáo dục thể chất giữa những trường đại học hang đầu của Quảng Tây và Việt Nam từ đó tận dụng hết sức nguồn tài nguyên giáo dục thực hiện bổ sung và cùng chia sẻ nguồn tài nguyên quốc tế

Có thể nhận thấy những bài viết nghiên cứu về hợp tác giáo dục Trung-Việt

ở Trung Quốc tương đối nhiều nhưng phần lớn chỉ là khái quát quá trình hợp tác hoặc là hợp tác giáo dục giữa Quảng Tây và Việt Nam Trên phương diện nghiên

Trang 12

cứu hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam từ sau khi bình thường hóa quan hệ cho đến nay rất ít và cũng chưa phân tích cụ thể những thành quả đã đạt được Cũng chưa có nhiều nhận xét về những hạn chế và dự báo khả năng tương lai trong hợp tác giáo dục giữa hai nước Đây chính là những khoảng trống mà luận văn có thể khai thác

3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Cũng như ở Trung Quốc, nghiên cứu về giáo dục nói chung và giáo dục ở Trung Quốc và các nước khác là đề tài được nhiều các nhà nghiên cứu giáo dục đầu ngành cũng như các học giả tâm huyết quan tâm Các tác giả tiêu biểu như GS Phạm Minh Hạc, GS Vũ Ngọc Hải, GS Hoàng Tụy… trong các công trình của mình đã phân tích thực trạng nhằm tìm ra phương hướng phát triển cho giáo dục Việt Nam

GS.VS Phạm Minh Hạc (chủ biên) cuốn sách ―Giáo dục thế giới đi vào thế

kỷ XXI‖ Cuốn sách tập trung trình bày xu thế phát triển giáo dục trên thế giới, giới thiệu một số nét đặc trưng về cải cách giáo dục, kinh nghiệm quản lý giáo dục…từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam

GS.TSKH Vũ Ngọc Hải trong công trình ―Về quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội của các trường đại học ở nước ta‖ đã đề cập đến một trong những vấn

đề mà ngành giáo dục & đào tạo Việt Nam lung túng khi tiến hành đổi mới, đó chính là vấn đề quản lý tập trung và phân cấp quản lý cho cơ sở giáo dục đại học, trong đó có vấn đề trao quyền tự chủ và tính trách nhiệm cho các trường

Nghiên cứu về giáo dục Trung Quốc cũng có nhiều công trình đã được công

bố Có thể nêu ra một số thí dụ:

Tác giả Nguyễn Văn Căn trong cuốn sách ―Quá trình cải cách giáo dục của CHND Trung Hoa thời kỳ 1978-2003‖ đã khái quát những diễn biến cụ thể, hệ thống hóa quá trình phát triển và cải cách giáo dục ở Trung Quốc Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu và hạn chế cuốn sách gợi mở một số bài học cho những người quan tâm đến giáo dục Trung Quốc và giáo dục việt Nam

Trang 13

Tác giả Nguyễn Văn Hồng trong bài ―Bài học Minh Trị Duy tân và Trung Quốc Khoa giáo hưng quốc chìa khóa phát triển và quản lý xã hội các nước Đông

Á‖ đã nhấn mạnh về việc chìa khóa giáo dục có ý nghĩa bắt đầu và không ngừng tác dụng đối với một quốc gia hưng thịnh Tác giả cũng đưa ra đôi điều suy nghĩ về

cải cách giáo dục và đào tạo sử dụng nhân tài ở Việt Nam

Hoặc như luận văn thạc sĩ của Trần Thu Quỳnh Nga với chủ đề ―Chiến lược khoa giáo hưng quốc và những tác động tích cực đối với vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đại học Trung Quốc‖ v.v…

Những công trình trên chủ yếu nghiên cứu về những vấn đề đang được xã hội quan tâm đối với giáo dục Việt Nam hoặc các nước khác Các tác giả đều thông qua những nghiên cứu của mình để tìm ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra những kiến nghị đối với giáo dục Việt Nam Trong các tìm hiểu chúng tôi chưa tiếp cận được với công trình nào nghiên cứu về quan hệ hợp tác giáo dục Trung -Việt

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1991 đến nay

4.2 Phạm vi và nội dung nghiên cứu:

Về phạm vi nghiên cứu hợp tác giáo dục giữa nước CHND Trung Hoa và Cộng hòa XHCN Việt Nam (không bao gồm Đài Loan, Hồng Kong, Ma Cao)

Về nội dung đề tài chủ yếu nghiên cứu về hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc

và Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2013 nhưng chú trọng hơn đến hợp tác giáo dục

ở bậc đại học

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm chủ đạo, lựa chọn nghiên cứu từ góc độ hiện thực và giao lưu hợp tác, vận dụng phương pháp so sánh, phân tích với các ví dụ cụ thể Thông qua nghiên cứu về bối cảnh, hiện trạng, các vấn đề của hợp tác và giao lưu giáo dục đại học giữa hai nước Trung-Việt để đi sâu tìm

Trang 14

hiểu những kiến thức về giao lưu và hợp tác giáo dục giữa hai nước tìm ra những vấn đề thiếu sót còn tồn tại từ đó đưa ra những kiến nghị cho sự phát triển trong hợp tác giao lưu giáo dục Trung-Việt

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được chia làm 3 chương

Chương I: Cơ sở hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam từ năm

Trang 15

Chương 1 CƠ SỞ HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA TRUNG QUỐC

VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

1.1 Khái quát về mối quan hệ Trung- Việt từ sau khi bình thường hóa

Hai nước Trung- Việt núi liền núi, sông liền sông, từ trước đến nay nhân dân hai nước Trung-Việt luôn qua lại giao lưu và học hỏi lẫn nhau Trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, Việt Nam luôn coi Trung Quốc là hậu phương tin cậy, vì thế Trung Quốc và Việt Nam có sự hợp tác lâu dài trên rất nhiều phương diện như kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, giáo dục, khoa học kĩ thuật v.v… Đảng và lãnh đạo hai nước thường xuyên thực hiện các cuộc thăm viếng và thẳng thắn trao đổi những vấn đề trọng đại của mỗi nước, của quốc tế và quan hệ giữa đôi bên Những trao đổi này đã thúc đẩy quan hệ hai nước không ngừng phát triển

Từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới nhằm đưa đất nước từ một nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các bài học kinh nghiệm của Trung Quốc trong thời kỳ cải cách luôn là những kinh nghiệm bổ ích đối với Việt Nam Có thể nói, đến năm 1992 Việt Nam đã chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường và ngày càng thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài, cổ vũ kinh doanh tư nhân, phát triển từ mô hình phát triển kinh tế phi công hữu Vì vậy không thể không thừa nhận quá trình phát triển của Việt Nam có sự tương đồng với quá trình phát triển của Trung Quốc Đây cũng là những yếu tố quan trọng để năm 1999 hai nước Trung- Việt đặt thành phương châm 16 chữ:

"Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" đưa hai nước bước vào một giai đoạn phát triển mới

Sau khi bình thường hóa quan hệ cho đến nay hai nước không ngừng đi sâu

và mở rộng giao lưu hợp tác giữa hai đảng, hai chính phủ, quân đội, các đoàn thể quần chúng và các địa phương trên mọi lĩnh vực như khoa học kĩ thuật, văn hoá quân sự và giáo dục… Hai nước đã kí kết gần 40 văn kiện hợp tác có liên quan đến ngoại giao, an ninh, kinh tế thương mại, khoa học kĩ thuật, văn hóa, tư pháp, vận tải

Trang 16

hàng không, vận tải biển, vận tải đường sắt và còn tiến hành các hội thảo nghiên

cứu lí luận chủ nghĩa xã hội

Thập niên 90 của thế kỉ 20 cho đến những năm đầu của thế kỉ 21 về tổng thể

quan hệ Trung- Việt thể hiện ở những mặt sau:

* Quan hệ Trung- Việt dần dần hồi phục và đồng thời có bước phát triển nhất định Có được bước phát triển nhanh chóng của quá trình bình thường hóa là do hai nước Trung –Việt đã có mối quan hệ giao lưu hàng ngàn năm đồng thời cũng phù hợp với bối cảnh hòa bình phát triển thế giới hiện nay Việc lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên thăm hỏi và trao đổi với nhau cũng chính là thực hiện ý nguyện của nhân dân hai nước cùng nhau phát triển

* Quan hệ của nước CHND Trung Hoa và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ những năm đầu đã được xây dựng trên nền tảng 5 nguyên tắc chung sống hòa bình và chuẩn tắc quan hệ trên phạm vị quốc tế

* Trong những chuyến thăm hữu nghị của lãnh đạo hai nước Trung- Việt hai bên đã thống nhất và ký các văn kiện hiệp thương có liên quan trên tinh thần tin tưởng cùng nhau giải quyết những vấn đề ảnh hưởng tới sự phát triển của hai nước, xây dựng cơ chế hợp tác Ngoài cơ chế viếng thăm của lãnh đạo cấp cao, các ban ngành hai nước còn tiến hành một vài cơ chế thúc đẩy quan hệ song phương với mục tiêu hòa bình phát triển bao gồm : cơ chế đối thoại hàng năm chuyên viên cao cấp về ngoại giao, những vấn đề biên giới trên bộ, trên biển, cơ chế liên quan khác, v.v Việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế này là nền tảng vững chắc cho quan hệ hữu nghị hai nước

* Trong những năm qua quan hệ hai nước phục hồi và phát triển tương đối toàn diện, liên quan đến kinh tế, văn hóa, chính trị nhưng quan hệ chính trị luôn chiếm vị trí nòng cốt chủ đạo Quan hệ chính trị cùng với sự phát triển về văn hóa, kinh tế có sự tác động qua lại lẫn nhau rất rõ rệt Trong quá trình phát triển chúng ta

có thể nhận thấy sự giao lưu về phương diện văn hóa và kinh tế thương mại giữa nhân dân hai nước đóng vai trò vô cùng quan trọng nhưng dù sao các quan hệ văn

Trang 17

hóa và quan hệ kinh tế vẫn dưới sự chỉ đạo của chính trị, thể hiện rõ nhất từ thập niên 90 thế kỷ XX đến nay

* Quan hệ giữa hai nước Trung- Việt ngày càng mật thiết từ đó sự tác động qua lại ngày càng nhiều, hợp tác của hai Đảng cho đến quan hệ hữu nghị luôn tuân theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp nội bộ, độc lập tự chủ, tiến hành giao lưu trên cơ sở này phấn đấu vì mục tiêu của mỗi bên Hai Đảng cũng sẽ thường xuyên trao đổi về những vấn đề liên quan để củng cố quan hệ tạo cơ hội giao lưu về văn hóa kinh tế giữa hai nước

Trong giai đoạn mới, thế kỉ mới xu thế phát triển quan hệ hai nước sẽ được thể hiện với những đặc trưng chủ yếu sau:

* Trung Quốc và Việt Nam đã có lịch sử quan hệ giao lưu hàng ngàn năm nhất là quan hệ giữa nhân dân hai nước Vì vậy quan hệ hữu nghị Việt- Trung không gì có thể ngăn cản được đúng theo tinh thần đồng chí tốt, láng giềng tốt

* Cùng hợp tác phát triển đôi bên cùng có lợi Xuất phát từ lợi ích lâu dài không ngừng thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước Xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện, láng giềng thân thiện, bổ sung cho nhau để đôi bên cùng có lợi, thực hiện tốt mục tiêu phát triển của mỗi bên chính là cùng nhau phát triển và phồn vinh

* Luôn kiên định tính nhất quán trong chính trị Về mặt tính chất của nhà nước Trung Quốc và Việt Nam đều thuộc chế độ xã hội chủ nghĩa, không chỉ cùng nhau gánh vác sứ mệnh lịch sử mà còn có cùng lí tưởng và phương hướng phấn đấu Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hai nước học hỏi lẫn nhau, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của quốc gia, làm phong phú thêm nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin, đẩy mạnh cải cách và phát triển chủ nghĩa xã hội trên thế giới trong hoàn cảnh mới, thời kì lịch sử mới

1.2 Tình hình giáo dục hai nước

1.2.1Tình hình giáo dục của Trung Quốc

Nghị quyết của Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (10 năm 1992), với

Trang 18

những chủ trương chính sách quan trọng đã mở đầu cho giai đoạn mới của cải cách

mở cửa ở Trung Quốc Về phát triển giáo dục, Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Giang Trạch Dân trình bày xác định rõ:

Khoa học tiến bộ, kinh tế phồn vinh, xã hội phát triển về căn bản được quyết định bởi chất lượng lao động và vấn đề đặt ra trước mắt là phải bồi dưỡng được một lượng lớn nhân tài Trung Quốc phải dốc sức phát triển giáo dục, phải đặt sự nghiệp giáo dục vào vị trí chiến lược, ưu tiên phát triển trong nền kinh tế quốc dân Hy vọng chấn hưng đất nước đặt vào giáo dục Chỉ có giáo dục mới có thể nâng cao được tố chất con người và đào tạo ra những người lao động hiện đại mới

Với tinh thần đó, trải qua hơn 10 năm thực hiện cải cách nền giáo dục Trung Quốc đã thay đổi rất nhiều cả số lượng và chất lượng nhất là ở bậc đại học Có thể nói sự thay đổi trong giáo dục đại học của Trung Quốc là sự thay đổi sâu sắc và rộng lớn thể hiện qua các phương diện như quy mô, đổi mới ngành học, phát triển chức năng và nâng cao chất lượng Về mở rộng quy mô, chỉ trong một thời gian ngắn tiến hành tuyển sinh với quy mô lớn đã đưa giáo nền giáo dục đại học Trung Quốc bước vào giai đoạn đại chúng hóa Về các ngành học, không chỉ cải cách mà Trung Quốc còn quan tâm khôi phục những chuyên ngành bị bỏ không hợp lí trước kia như kinh tế học, chính trị học, luật, giáo dục học v.v… Về phát triển chức năng, chú trọng cải cách mô hình đào tạo nhân tài, mở rộng hình thức kết hợp vừa học vừa nghiên cứu, tăng cường bồi dưỡng toàn diện Về nâng cao chất lượng Trung Quốc thể hiện rõ quyết tâm xây dựng trường đại học đạt tầm cỡ quốc tế v.v… Nhìn chung, những tiến bộ to lớn mà nền giáo dục Trung Quốc dành được từ những năm

90 thế kỉ 20 cho đến năm 2013 biểu hiện ở những mặt sau: mở rộng quy mô nhanh chóng; chất lượng giáo dục có được sự quan tâm đúng mức; cải cách thể chế mang tính đột phá, tiến triển tích cực; thành quả nghiên cứu khoa học phong phú

Với mục đích nghiên cứu Hợp tác giáo dục Trung Quốc và Viêt Nam từ năm

1991 đến năm 2013 trong chương này chủ yếu là tìm hiểu sự thay đổi trong nền

giáo dục bậc đại học của Trung Quốc thông qua những phương diện sau : cơ chế

Trang 19

giáo dục đại học; mô hình bồi dưỡng nhân tài; xây dựng đội ngũ giáo viên, cải cách phương pháp dạy và giao lưu với bên ngoài

1.2.1.1 Cơ chế giáo dục đại học

Từ sau thập niên 90 của thế kỉ 20 nền giáo dục đại học Trung Quốc đã phát triển và dành được những thành tựu to lớn, chủ yếu là trên những phương diện sau:

cơ chế tuyển sinh, cơ chế đầu tư kinh phí, cơ chế thu học phí, cơ chế quản lí vĩ mô,

cơ chế nhập học, cơ chế quản lí nội bộ và tìm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp

Cơ chế nhập học giáo dục đại học Trung Quốc đã có bước đột phá Trong nền kinh tế bao cấp cơ chế nhập học giáo dục đại học tương đối đơn giản, quyền lực của chính quyền nhà nước cho đến các cơ quan quản lí giáo dục rất tập trung Cơ chế nhập học này lấy nhà nước làm chủ thể, nhà nước và chính quyền các cấp có vai trò quyết định, vừa là người thực hiện vừa là người quản lí Đến nay số lượng các trường dân lập tương đối nhiều và cũng có nhiều cống hiến cho nền giáo dục Trung Quốc Cơ chế nhập học và đa dạng hình thức nhập học là một trong những thành quả trong cải cách giáo dục đại học Trung Quốc

Cơ chế đầu tư kinh phí giáo dục đại học cũng rất đa dạng Từ thập niên 90 của thế kỉ 20 cho đến nay nguồn kinh phí dành cho giáo dục đại học đã hoàn toàn không phải là do nhà nước cung cấp mà trở thành cơ chế đầu tư giáo dục mới với nhiều con đường khác nhau Cơ chế đầu tư cho giáo dục đại học trải qua quá trình phát triển từ chỉ đơn nhất chính phủ đầu tư đến nay là cá nhân, chính phủ và xã hội đều có thể đầu tư

Cơ chế tìm việc làm sau khi cơ chế kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường, chế độ tìm việc làm của sinh viên Trung Quốc có sự thay đổi rất lớn Từ cơ chế nhà nước phân bổ chuyển thành tự bản thân sinh viên căn cứ theo chuyên ngành và nguyện vọng của mình để tìm việc làm Vì thế hiện nay sinh viên Trung Quốc sau khi tốt nghiệp sẽ tự chủ tìm việc, coi thị trường lao động là nền tảng, lấy chính sách của nhà trường và quốc gia làm phương hướng, sinh viên tự lựa chọn ngành nghề

mà mình muốn Quyết sách này một khi thực hiện không chỉ tạo cơ sở thay đổi chế

Trang 20

độ tìm việc làm cho sinh viên mà còn tăng sự lựa chọn cho cả sinh viên và đơn vị tuyển dụng Thông qua hình thức lựa chọn đôi bên này có lợi cho cơ chế cạnh tranh thị trường và lưu chuyển nhân tài

Cơ chế quản lí nội bộ từ sau thập niên 90 của thế kỉ 20 cải cách giáo dục đại học cho đến nay xuyên suốt quá trình cải cách giáo dục đại học Có thể chia thành hai giai đoạn quan trọng sau: năm 1993 đến năm 1997, đây là giai đoạn giáo dục đại học Trung Quốc đi vào cải cách; từ năm 1997 đến năm 2013 cả nước Trung Quốc thực thi công cuộc cải cách và đã đạt được những thành tựu nhất định Trải qua hai giai đoạn công cuộc cải cách cơ chế quản lí nội bộ đã đạt được rất nhiều thành tựu, giảm biên chế nhân viên quản lí và cơ cấu nội bộ, bắt đầu xây dựng chế độ viên chức giáo dục, điều chỉnh tổ chức dạy học, điều chỉnh chế độ trợ cấp chức vụ phổ biến trong các trường đại học v.v…

1.2.1.2 Mô hình bồi dưỡng nhân tài

Mở rộng quy mô giáo dục, sau thập niên 90 của thế kỉ 20 quy mô giáo dục đại học của Trung Quốc không ngừng được mở rộng, thể hiện ở số lượng trường học, sinh viên, nghiên cứu sinh không ngừng gia tăng Đầu tiên quy mô nhà trường của giáo dục đại học có bước phát triển đặc biệt là về số lượng Năm 2009 các trường đại học phổ thông đã đạt tới 1.778 [21] trường Số lượng sinh viên cũng dần dần tăng lên,

ví dụ năm 1980 cả nước có 1.140.000 sinh viên, đến năm 1996 đã là 5.680.000, tăng gấp 4 lần; Năm 1998 số lượng sinh viên đang theo học tại các trường khoảng 3,4 triệu sinh viên đến năm 2009 đã tăng lên đến khoảng 4,3 triệu sinh viên, con số này có thể

sẽ tăng lên mang tính đột phá Số lượng sinh viên trong các trường đại học thông thường tăng nhiều hơn so với số lượng số lượng nghiên cứu sinh Năm 1996 số nghiên cứu sinh là 160.000 tăng gấp 8 lần [22] so với năm 1980 Không những tăng lên về số lượng nghiên cứu sinh mà chất lượng bồi dưỡng cũng phải dần dần nâng cao Năm 1998 quy mô bồi dưỡng nghiên cứu sinh trong nước đạt 198.000 [28] Cho đến cuối năm 2013 số lượng nghiên cứu sinh đạt 819.000, trong đó tiến sĩ là 165.000, thạc sĩ là 650.000 Không tính 200.000 nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp thì số lượng

Trang 21

nghiên cứu sinh đã vượt qua con số 900.000 Có thể nói sự tăng trưởng số lượng sinh viên thực sự khiến mọi người khó có thể dự đoán trước

Từ sau năm 2000 Trung Quốc cũng xây dựng các trường dành cho người lớn tuổi và hiện có khoảng 297 trường đại học dạng này với số người theo học khoảng gần 4,19 triệu Trong hệ thống giáo dục Trung Quốc cũng xuất hiện một loại trường mang tính chất độc lập Sự hình thành của các trường này là do giáo dục đại học mở rộng quá nhanh nhà nước không đủ kinh phí, hoặc có một số nơi tuy tiến hành mở rộng nhưng kinh phí lại bị thu hẹp Để giải quyết được những vấn đề này Trung Quốc quyết định lấy khu vực Giang Tô đến Triết Giang thí điểm thành lập các trường đại học độc lập mang tính chất dân dân lập Những trường đại học này có đặc thù riêng là có thể tự ban hành các qui định mà không cần phải xem xét ảnh hưởng với các trường khác nhưng lại là những trường thu học phí cao Năm 2010 số lượng các trường này đạt tới con số 290

Mở rộng quy mô giáo dục đại học, một mặt là nâng cao khả năng đào tạo của

hệ thống giáo dục đại học, bồi dưỡng nhân tài, tăng thêm quan hệ mật thiết và trực tiếp giữa nhà trường và xã hội; một mặt thúc đẩy phát triển giáo dục phổ thông giảm bớt áp lực đối với giáo dục cơ sở Mặt khác mở rộng quy mô giáo dục đại học làm cho tỉ lệ nhập học tăng lên rõ rệt Sau thập niên 90 của thế kỉ 20 giáo dục đại học Trung Quốc bước vào giai đoạn đại chúng hóa, tỉ lệ học sinh nhập học đạt mức 15% Đến năm 2013 tổng quy mô học sinh đang theo học ở tất cả các loại hình đại học đạt 34,6 triệu nâng tỉ lệ nhập học lên 34,5% Vào thời gian này Trung Quốc có 2.788 trường đại học dành cho sinh viên và trường đại học phổ thông

Đối với nhiệm vụ đào tạo sau đại học, ngay từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc đã có sự quan tâm thích đáng Chế độ học vị của Trung Quốc được xây dựng từ năm 1981 đã qui định sau khi tốt nghiệp đại học sinh viên có thể tiếp tục được đào tạo sau đại học bao gồm 2 bậc, học viên đều gọi là nghiên cứu sinh, NCS thạc sĩ và NCS tiến sĩ Nếu như trước đây số lượng cơ sở được đào tạo sau đại học và số người có trình độ sau đại học là rất ít thì đến giai đoạn này Trung Quốc

Trang 22

có chủ trương đẩy mạnh chế độ đào tạo và cũng tạo điều kiện thuận lợi để cho nhiều trường đại học có khả năng đảm nhận được nhiệm vụ này Tính đến hết năm 1997 tức

là sau 16 năm thực hiện điều lệ học vị, Trung Quốc đã đào tạo được trên 349.600 thạc

sĩ và 27.500 tiến sĩ Trong năm học 1997 đang có 150 ngàn NCS trong đó có 30 ngàn NCS làm luận án tiến sĩ Từ sau năm 1985 Trung Quốc bắt đầu có chế độ đào tạo sau tiến sĩ theo chương trình tập trung 2 năm [2, tr.224]

Bước vào giai đoạn mới, theo yêu cầu chung của tốc độ phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là để đón nhận nền kinh tế tri thức mà theo các nhà khoa học sẽ xuất hiện ở thế kỷ mới, nhiệm vụ đào tạo đại học và sau đại học lại càng được quan tâm hơn nữa Chính vì vậy, đến năm 2002 Trung Quốc đã có 728 đơn vị đào tạo NCS, trong đó

có 408 trường đại học, 320 cơ sở nghiên cứu khoa học Cũng năm 2002 số NCS học tại các cơ sở đào tạo là 501.000 người trong đó có 108.700 NCS tiến sĩ và 392.300 NCS thạc sĩ Ngoài ra, kể từ khi có chế độ đào tạo sau tiến sĩ cho đến năm 2001 là 16 năm Trung Quốc đã có 14 ngàn tiến sĩ tham gia các khoá đào tạo tập trung 2 năm [2, tr.225]

Có thể nhận thấy rằng tỉ lệ bình quân tăng lên rõ rệt so với một vài năm trước Trước đây đối với giáo dục bậc đại học mà nói cơ hội nhập học tương đối thấp bởi

cơ sở giáo dục bậc đại học lúc đó còn nhiều hạn chế thậm chí là thiếu thốn Từ khi nước CHND Trung Hoa ra đời tỉ lệ nhập học mới không ngừng nâng cao, chỉ trong thời gian vài năm số lượng sinh viên nhập học đã tăng lên vượt qua khả năng tiếp nhận Đối với đại đa số các nước đang phát triển và các nước phát triển mà nói tăng cao tỉ lệ nhập học bậc đại học không phải là vấn đề đơn giản Việc Trung Quốc chỉ dùng khoảng thời gian vài năm đã giải quyết thành công cũng là một kì tích trong nền giáo dục đại học Trung Quốc muốn giáo dục đại học ngày càng phổ cập

1.2.1.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên

Từ thập niên 90 của thế kỉ 20 cho đến nay quy mô đội ngũ giáo viên bậc đại học tăng tương đối lớn Căn cứ theo thống kê có liên quan số lượng giáo viên bậc đại học của Trung Quốc tính đến năm 2005 là gần 950.000 nhưng đến tháng 8 năm 2013

đã đạt gần 2.350.000 người [28] Trong đó số lượng giáo viên đại học là 2.296.200,

Trang 23

số lượng giáo viên các trường đại học dành cho người lớn tuổi là 56.417 người [12]

1.2.1.4 Cải cách phương pháp dạy học, thay đổi hình thức dạy học

Phương pháp dạy học truyền thống là ―dạy đối phó‖ Dạy học theo ―dạy đối phó‖ là phương pháp dạy một phía, giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh mà không cần quan tâm học sinh có tiếp thu được hay không Từ thập niên 90 của thế

kỉ 20 cho đến nay nhà nước đã nhiều lần ban hành những qui chế nhấn mạnh đổi mới phương pháp dạy học Mặt khác thực tiễn giảng dạy cũng có rất nhiều giáo viên sáng tạo phương pháp dạy học mới như kết hợp khéo léo các phương pháp phấn trắng bảng đen truyền thống với phương pháp dạy Slide, những khái niệm và hình ảnh không thể biểu đạt trực tiếp bằng phương pháp dạy truyền thống thì phương pháp dạy Slide sinh động có thể làm được, từ đó tạo được ấn tượng sâu sắc, tính trực quan, tính tích cực cho học sinh Có thể nói từ thập niên 90 của thế kỉ 20 đã bắt đầu mở rộng sử dụng máy tính làm phương tiện trợ giảng Cho đến năm 2013 máy tính đã được phổ cập đến hầu hết các trường đai học lớn [12]

Giáo dục bậc đại học đối với giao lưu đối ngoại cũng phát triển nhanh chóng, con đường giao lưu hợp tác càng ngày càng có nhiều hình thức, quy mô càng ngày càng lớn, mức độ giao lưu càng ngày càng cao Từ thập niên 90 của thế kỉ 20 cho đến nay đã có một lượng lớn giáo viên được cử đi nước ngoài du học và tham gia các hội nghị quốc tế, bên cạnh đó cũng có nhiều giáo viên của gần 150 quốc gia đến Trung Quốc du học

1.2.2 Tình hình giáo dục của Việt Nam

Để đáp ứng yêu cẩu phát triển kinh tế và xã hội trong quá trình đổi mới, từ những năm 80, 90 của thế kỉ 20 giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua những cải cách rộng lớn Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng 6 năm 1991 đã khẳng định 6 nghị quyết lớn tiếp tục cải cách cơ chế quan lieu bao cấp về căn bản, chuyển biến từ mô hình tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường, phát triển nhiều hình thức khác nhau của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường Trên cơ sở ― Đổi mới tư duy giáo dục‖ giáo dục đại học, Việt Nam đã đưa ra kế hoạch phát triển, nhấn mạnh

Trang 24

giáo dục đại học phải gắn bó mật thiết với nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất; mở rộng quy mô, đa dạng hóa hình thức đào tạo; cải thiện điều kiện học, thực hiện phân cấp hóa và dân chủ hóa trong quản lí Từ khi bước vào thế kỉ mới cùng với việc chính phủ coi trọng giáo dục đại học cao đẳng thì cải cách giáo dục bậc đại học cũng phát triển sâu và rộng hơn Chương này tìm hiểu về những biến đổi của giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn từ thập niên 90 của thế kỉ 20 đến năm 2013 trên những phương diện sau : thể chế giáo dục; mô hình đào tạo; xây dựng đội ngũ giáo viên và giao lưu đối ngoại

1.2.2.1 Thể chế giáo dục đại học

Trọng điểm của chính sách cải cách mở cửa Việt Nam năm 1986 chính là sự nghiệp cải cách giáo dục, giáo dục ngay lập tực được xác định là ―quốc sách hàng đầu‖ Trong thập niên 90 cải cách thể chế giáo dục đại học với vai trò là trọng tâm của sự nghiệp cải cách giáo dục với mục tiêu cuối cùng là làm cho giáo dục đại học Việt Nam phù hợp hơn với nhu cầu phát triển của xã hội và đất nước

Thứ nhất, hệ thống giáo dục Từ sau thập niên 90 của thế kỉ 20 hệ thống giáo dục giáo dục đại học Việt Nam đã có những chuyển biến rất lớn, cụ thể biểu hiện ở những mặt sau :

Thực thi chế độ phân cấp quản lí tài chính và hành chính; Mặc dù chính phủ tăng cường đầu tư cho giáo dục nhưng hệ thống giáo dục đại học lại có xu hướng phổ biến và dân chủ hóa hơn Thời kì này xuất hiện các trường dân lập, đưa giáo dục đến gần hơn với xã hội Phương thức đào tạo cũng đa dạng hóa đến gần hơn với nền giáo dục thế giới, với mục tiêu cung cấp nhân tài cho thị trường lao động

Có thể nói hình thức đào tạo giáo dục của Việt Nam rất đa dạng và mức độ xã hội hóa, dân chủ hóa rất cao Điều này làm cho quan hệ giữa xã hội và các trường đại học cao đẳng ngày càng mật thiết, không những thúc đẩy tính công bằng xã hội trong giáo dục mà còn nâng cao ý thức phục vụ và ý thức chủ thể của các trường Ngành giáo dục cũng không ngừng hoàn thiện hệ thống giáo dục đại học, làm

Trang 25

phong phú thêm hệ thống giáo dục với phương thức tiêu chuẩn hóa và đa nguyên hóa, đồng thời kiên trì kết hợp ứng dụng và giáo dục, nghiên cứu khoa học và giảng dạy với nhau, ưu tiên phát triển giáo dục đại học ở khu vực dân tộc thiểu số

và vùng sâu vùng xa

Thứ hai, thành lập và củng cố cơ cấu giáo dục đại học Sau thập niên 90 của thế kỉ 20 giáo dục đại học Việt Nam đã có những thay đổi rất lớn Trong đó thể hiện rõ nét nhất chính là kết hợp những học viện mang tính chất đơn lẻ quy mô nhỏ lại với nhau thành trường đại học mang tính tổng hợp, ví dụ đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, đại học quốc gia Hà Nội, đại học Huế đều do nhà nước quản lí Đây là 3 trường đại học có quy mô lớn nhất hiện nay và cũng là 3 trường đại học trọng điểm của 3 vùng Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ Các trường này trở thành trung tâm nghiên cứu và giảng dạy lớn ở Việt Nam Ngoài ra chính phủ Việt Nam cũng chủ trương chuyển một số trường cao đẳng lên đại học, một số trường cao dẳng khác thì mở rộng quy mô và chuyên ngành sau đó mới lên đại học, ví dụ : đại học Hùng Vương ( trước đó là cao đẳng sư phạm Phú Thọ, căn cứ theo nghị quyết số 81/2003/ĐQ-TTg của chính phủ, thời gian chuyển lên đại học năm 2003), đại học công nghiệp Hà Nội ( trước đó là cao đẳng công nghiệp Hà Nội, căn cứ theo nghị quyết số 315/2005/ĐQ-TTg của chính phủ, thời gian chuyển lên đại học năm 2005), đại học ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh ( trước đó là cao đẳng ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, cứ theo nghị quyết số 174/2003/ĐQ-TTg của chính phủ, thời gian chuyển lên đại học năm 2003) Do đó có thể nói hình thức chủ yếu

để mở rộng cơ cấu giáo dục đại học Việt Nam chủ yếu là: nâng cấp cao đẳng lên đại học, xây dựng cơ cấu giáo dục đại học mới, kết hợp các trường lại thành trường qui mô lớn hơn

Như vậy, thông qua cơ cấu lại các trường đại học, củng cố và chuyển đổi làm cho nền giáo dục đại học Việt Nam từ chỗ phân bố rời rạc đã được giải quyết rất tốt, đồng thời cũng làm cho các trường cao đẳng đại học phát triển theo hướng tổng hợp

Trang 26

Tuy vậy cho đến nay nhiều trường đai học Việt Nam vẫn còn mang tính đơn khoa như : Đại học điện lực, Đại học kiến trúc, Đại học thủy lợi, Đại học sư phạm và một

số trường đại học khác

Thứ ba, thể chế quản lí giáo dục đại học Chuyển từ cơ chế quản lí do chính phủ quản lí trực tiếp sang quản lí vĩ mô thông qua thực thi chính sách thích hợp Xây dựng hàng loạt kế hoạch để điều chỉnh khả năng tự chủ của các trường đại học, giao quyền cho các trường tự quản lí Các trường đại học của Việt Nam có thể chia thành hai loại: Một loại là chịu sự quản lí của bộ giáo dục và các bộ ngành có liên quan; còn một loại là dưới sự quản lí của bộ giáo dục và cấp tỉnh Hai trường đại học quốc gia của Việt Nam ( Đại học quốc gia Hà Nội và Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) quyền tự chủ của nhà trường dần được mở rộng nhằm phát huy tính chủ động và tính sáng tạo của nhà trường

Thứ tư, thể chế xây dựng giáo dục đại học, từ sau thập niên 90 của thế kỉ 20 chính phủ Việt Nam động viên xây dựng các trường đại học dân lập, đại học mang tính xã hội Trong thời gian 1 năm đã xây dựng được 7 trường dân lập, 7 trường này phân bố ở các khu vực sau : Bắc bộ ( thủ đô Hà Nội), Trung bộ (thành phố Đà Nẵng), Nam bộ ( thành phố Hồ Chí Minh) Quy mô các trường đại học dân lập ở Việt Nam tương đối nhỏ không như các trường công lập, kinh phí hoạt động chủ yếu là lấy từ tiền học phí của sinh viên Có nghiên cứu đã chỉ ra nguồn kinh phí của các trường dân lập có đến 94% là do sinh viên đóng góp

Thứ năm, đổi mới thể chế đầu tư giáo dục Từ sau khi tiến hành cải cách mở cửa thập niên 90 của thế kỉ 20 giáo dục được coi là chiến lược phát triển quốc gia, ngân sách nhà nước cấp cho giáo dục tăng lên rất nhiều Năm 1990 ngân sách dành cho giáo dục là 8,3% đến năm 1995 đã tăng lên 12% Trong đó chế độ đãi ngộ dành cho giáo viên cũng được cải thiện, lương của giáo viên cũng được ưu tiên tăng hơn

so với các công nhân viên chức khác, ngoài ra còn được hưởng trợ cấp nghề nghiệp Ngân sách kinh phí dành cho giáo dục đại học tăng còn bao gồm cả xây dựng cơ sở

hạ tầng Ngoài ra chính phủ Việt Nam cũng đa dạng hóa hình thức đầu tư cho giáo

Trang 27

dục đại học như cổ vũ sự đầu tư của các lực lượng xã hội, động viên và thúc đẩy phát triển các trường dân lập Công tác đào tạo và quản lí của các trường dân lập đều chịu sự giám sát của bộ giáo dục đào tạo Việt Nam, nhưng kinh phí hoàn toàn đến từ các tổ chức xã hội và cá nhân Ngoài ra có những trường đại học hợp tác với doanh nghiệp như Đại học Quốc tế Bắc Hà liên kết với tập đoàn CMC, tập đoàn Viettel; Đại học Văn Hiến hợp tác với tổng công ty VTC; Đại học Lao động xã hội liên kết với 3 doanh nghiệp đó là Công ty trách nhiệm hữu hạn An Phúc, Công ty

Cổ phần đầu tư và phát triển thương mại, Ngân hàng Cổ phần thương mại Á Châu… Mô hình hợp tác này là các trường chịu trách nhiệm đào tạo nhân tài chuyên ngành quản lí nguồn nhân lực, quản lí doanh nghiệp, công tác xã hội, quản lí tài chính Những doanh nghiệp này chịu trách nhiệm cung cấp nguồn kinh phí để đào tạo nhân tài, học bổng dành cho sinh viên Những sinh viên được hưởng học bổng này không cần phải lo lắng về đơn vị thực tập và khi tốt nghiệp cũng không phải lo lắng về vấn đề tìm việc

1.2.2.2 Thành tựu trong cải cách mô hình đào tạo nhân tài

* Mở rộng quy mô các trường đại học, nâng cao chất lượng giảng dạy Căn

cứ theo số liệu thống kê số lượng các trường đại học năm 1995 là 109 trường, giảng viên là 22.800 người, sinh viên là 2,979 triệu Năm 2000 tổng số lượng các trường đại học là 178 trường trong đó quốc lập là 148, dân lập là 30; số lượng giảng viên là 32.400, giảng viên trường quốc lập là 27.900, trường dân lập là 4.500; số lượng học sinh trường quốc lập là 795.900 và dân lập là 103.000 13 năm sau, năm 2013 cho thấy số lượng trường học hay là số lượng giảng viên, số lượng sinh viên đều tăng cao Đặc biệt là số lượng các trường dân lập, tăng gấp 3 lần so với năm 2000 (81 trường), số lượng giảng viên từ 22.900 năm 1995 tăng lên 87.200 [24] năm 2013, số lượng sinh viên năm 2013 cũng tăng lên 7,3 lần so với năm 1995 Điều đáng nhắc đến là số lượng giảng viên tăng ít hơn rất nhiều lần so với số lượng sinh viên.( xem bảng 1.1)

Trang 28

Bảng 1.1: Thống kê số lượng giáo viên và sinh viên bậc đại học Việt Nam

quốc lập

dân lập quốc lập dân lập quốc lập Dân lập

Năm 2010 334 80 63.000 11.300 1,828.200 333.900 Năm 2012 343 81 69.100 18.100 1,855.200 323.400

(Nguồn tài liệu:Tổng cục thống kê nhà nước Việt Nam)

Ngoài việc mở rộng về số lượng chất lượng giáo dục đại học cũng được nâng cao rất nhiều Đúng như nhận xét của Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo Phạm Vũ Luận chất lượng giáo dục và đao tạo đại học của Việt Nam đang từng bước được nâng cao, cung cấp nhân tài cho sự phát triển linh tế xã hội Sinh viên Việt Nam trong các cuộc cạnh tranh quốc tế cũng xếp hạng rất cao Khả năng ngoại ngữ của sinh viên, kĩ năng sử dụng vi tính được nâng cao, xử lí và thu thập thông tin cũng được cải thiện, rèn luyện kĩ năng mềm được coi trọng.[19]

* Không ngừng mở rộng quy mô tuyển sinh

Từ sau những năm 90 của thế kỉ 20 giáo dục đại học Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh, các phương diện đều đạt được bước tiến triển mới, quy mô tuyển sinh từng bước được mở rộng, sự phân bố các trường đại học hợp lí hơn, thích ứng với yêu cầu của cơ chế phát triển kinh tế thị trường, có lợi cho sự chuyển biến của kinh

tế Việt Nam và phát triển xã hội Ông Âu Dĩ Khắc trong bài ―Cải cách giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỉ 20‖ thống kê: trong năm 2000 Việt Nam có 150 trường đại học, năm 2003 tăng thêm 80 trường, các trường cao đẳng có 119 trường, đại học

111 trường; đơn vị đào tạo tiến sĩ là 95; số lượng tuyển sinh cũng tăng lên đáng kể, tính đến năm 2003 đã có 1 triệu sinh viên đang theo học tại trường, thạc sĩ là 23.700, tiến sĩ là 3.500; số lượng giảng viên đại học năm 2003 đã đạt tới con số 38.608, tỉ lệ

Trang 29

phó giáo sư và giáo sư chiếm 4,28% số lượng giảng viên, trong đó sinh viên các trường phi công lập chiếm 11% trong tổng số sinh viên Trong 3 năm số lượng tuyển sinh của Việt Nam đã tăng lên 5% [19]

* Điều chỉnh mục tiêu, nội dung và kế hoạch đào tạo giáo dục đại học

Sau thập niên 90 các trường đại học Việt Nam căn cứ theo kế hoạch nhà nước và nhu cầu của xã hội để định ra kế hoạch đào tạo của mình Quá trình cải cách mở cửa đưa kinh tế Việt Nam hướng tới nền kinh tế thị trường, yêu cầu giáo dục đại học phải đào tạo nhân tài theo yêu cầu chuyển biến của xã hội như: tính tự chủ, ý thức sáng tạo, năng lực làm việc độc lập, đạo đức tốt, khả năng giao tiếp tốt [14]… Với mục đích đáp ứng yêu cầu của xã hội đồng thời đào tạo ra sinh viên có năng lực các trường đại học ở Việt Nam cũng đã điều chỉnh các mục tiêu, nội dung, hoàn thiện cơ cấu giảng dạy, đổi mới kĩ năng giảng dạy… Đồng thời cũng phải phát huy khả năng tự học, tính tích cực, tính sáng tạo, khả năng tự giải quyết vấn đề của sinh viên theo hướng thiên về hợp tác tập thể, tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội v.v…

1.2.2.3 Xây dựng đội ngũ giảng viên đại học

Chính phủ Việt Nam vô cùng coi trọng việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học, vừa phải đạt yêu cầu về số lượng mà trình độ học vấn và năng lực giảng dạy cũng phải đáp ứng được yêu cầu Bên cạnh đó Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam cũng điều chỉnh kế hoạch đào tạo đội ngũ giảng viên, chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức năng lực của người giảng viên Theo cục thống kê Việt Nam năm 2013

cả số lượng và chất lượng của đội ngũ giảng viên bậc đại học Việt Nam đều được nâng cao Năm 2000 số lượng giảng viên bậc đại học có 32.357 [24] , trong đó các trường công lập là 27.891 người, các trường ngoài công lập là 4.446 người Trình

độ giảng viên bậc đại học chia thành trình độ trên đại học (thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học) với số lượng là 12.656, trình độ cao đẳng là 19.321 Theo số liệu thống

kê đến năm 2010 số lượng giảng viên tăng lên 74.573 người Giảng viên có trình độ đại học trở lên là 38.298 người, trình độ đại học cao đẳng là 34.776 người Nhưng

Trang 30

đến năm 2012 số lượng giảng viên đại học tăng lên nhanh chóng 87.160, tăng 2,7 lần so với năm 2000 Trong đó giảng viên có trình độ đại học trở lên là 48.978 trình

độ đại học cao đẳng là 37.664 tăng lên 1,3 lần ( xem bảng 1.2)

Bảng1 2: Bảng thống kê trình độ học vấn và số lượng giáo viên bậc đại học Việt Nam

(Nguồn tài liệu:Tổng cục thống kê nhà nước Việt Nam)

Có thể thấy công tác cải cách giáo dục Việt Nam với mục tiêu tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên đã cho kết quả cụ thể là số lượng giảng viên đại học không ngừng gia tăng, trình độ của giảng viên cũng được nâng lên rõ rệt

1.2.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đại học

Để thúc đẩy giao lưu với các nước trên thế giới Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam thành lập văn phòng phát triển giáo dục quốc tế (Vietnam International Education Development gọi tắt là VIED ), đưa ra căn cứ về mặt luật pháp có hiệu lực cho sự phát triển và cải cách giáo dục bậc đại học Việt Nam Chính phủ Việt Nam với mục tiêu thúc đẩy mô hình phát triển quốc tế hóa giáo dục đại học đã cổ

vũ tăng cường họp tác và giao lưu trong lĩnh vực giáo dục đại học với các nước khác trên thế giới, học tập tư tưởng tiến bộ của nước ngoài, mang khoa học tiên tiến đến với Việt Nam, thúc đẩy giáo dục đại học phát triển lâu dài

Trang 31

Từ sau cải cách mở cửa thập niên 90 thế kỉ 20, đặc biệt là những năm đầu thế

kỷ mới, hợp tác quốc tế của các trường đại học của Việt Nam tương đối phát triển Các hạng mục hợp tác chủ yếu là công tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học và giao lưu trao đổi kinh nghiệm giảng dạy Hiện nay hạng mục hợp tác quốc tế phổ biến nhất là― Du học tại chính đất nước mình‖ Rất nhiều trường đại học nước ngoài tiến hành hợp tác giáo dục hệ 3+1 hoặc 2+2, tức là sinh viên học ở trong nước 1 hoặc 2 năm sau đó sang nước ngoài du học 2 hoặc 3 năm Các trường đại học nước ngoài sẽ cấp bằng tốt nghiệp cho những sinh viên đó Loại hình khác là học tập tại Việt Nam nhưng giảng viên, giáo trình, văn bằng đều là do nước ngoài cung cấp Hình thức― du học‖ như vậy sẽ giảm bớt rất nhiều kinh phí cho sinh viên, cũng giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với nền giáo dục tiến tiến của nước ngoài, đa dạng hóa kinh phí học đại học, tạo nhiều cơ hội học hỏi cho sinh viên Thực tế hiện nay rất nhiều sinh viên và phụ huynh Việt Nam đều ưa thích phương pháp đào tạo như vậy

Giao lưu quốc tế các trường đại học cũng thể hiện trong việc cử giảng viên sang nước ngoài trong một thời gian ngắn để giao lưu kiến thức, kinh nghiệm, văn hóa v.v… Phương thức hợp tác như vậy nghe có vẻ truyền thống nhưng phương thức và quy mô hiện nay không giống như trước Các trường đại học Việt Nam cổ

vũ sinh viên quốc tế đến Việt Nam tham gia sinh hoạt hè đồng thời cũng khuyến khích sinh viên Việt Nam sang nước ngoài tham gia các hình thức giao lưu Hợp tác nghiên cứu học thuật là cơ hội tốt để các nhà khoa học các học viện nghiên cứu chia

sẻ kinh nghiệm và kiến thức mới

Mở rộng đội ngũ giảng viên, tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học và bồi dưỡng tri thức; cải thiện cơ sở hạ tầng, ưu hóa điều kiện học; giao lưu và hợp tác quốc tế rộng khắp làm cho giáo dục bậc đại học Việt Nam tiếp cận nhiều hơn với nền giáo dục quốc tế

1.3 Tầm quan trọng của việc hợp tác

Sự phát triển toàn cầu hóa đối với lĩnh vực giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học có vai trò rất lớn Trong bối cảnh toàn cầu hóa các nước trên thế giới thường

Trang 32

chú trọng hai nội dung trọng tâm là quốc phòng và kinh tế Bởi hai lĩnh vực này phát triển sẽ nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, từ đó gia nhập vào các nước phát triển trên thế giới Tiêu chí của hai nội dung quan trọng này phải liên quan mật thiết với sức sản xuất và nhu cầu của quốc gia, trong đó chỉ có sự phát triển khoa học kĩ thuật mới có thể thúc đẩy hiệu quả sản xuất lên cao Do những nhân tố sau chi phối hợp tác giáo dục Trung Quốc - Việt Nam: chính trị ,kinh tế ,văn hóa của hai nước, và 2 nước đều do Đảng cộng sản lãnh đạo và đều có mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã Hội và chủ nghĩa cộng sản Nhân tố chính trị chính là chính sách của hai nước, mà trong chừng mực nào đó là quan hệ chính trị 2 nước; nhân tố kinh tế cũng là do chính sách vì học phí thấp, có chế độ ưu tiên cho học sinh Việt Nam ở Trung Quốc và ngược lại; nhân tố văn hóa chính là dẽ học vì ngôn ngữ 2 nước đều

là đơn âm tiết và ngữ pháp tương đối giống nhau Từ việc phân tích những phương diện này có thể thấy sự phát triển khoa học kĩ thuật và giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học có quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy, có thể nhận thấy rằng sức cạnh tranh

về mặt kinh tế và thế lực quốc phòng là nội dung chủ yếu để cạnh tranh sức mạnh tổng hợp giữa các quốc gia trên thế giới, tất cả những sự phát triển này không thể thiếu được sự phát triển của lĩnh vực giáo dục đại học Từ hiện trạng này, buộc nhà nước và các chuyên gia phải đặc biệt quan tâm chú ý đến thể chế và sự phát triển của nền giáo dục đại học, thông qua cải cách để không ngừng thúc đẩy giáo dục đại học phát triển đi lên

Giáo dục là gốc để thúc đẩy kinh tế phát triển nên cùng với sự hình thành của khu mậu dịch tự do Đông Nam Á, hợp tác và giao lưu giữa Trung Quốc và các nước ASEAN phát triển vượt bậc với tốc độ trước nay chưa từng có Không chỉ giao lưu mật thiết trong lĩnh vực chính trị, thương mại mà lĩnh vực văn hóa giáo dục cũng không ngừng phát triển Điểm nổi bật nhất là mỗi năm Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều cử một số lượng lớn lưu học sinh đến các quốc gia khác để học tập và giao lưu Năm 2010 Trung Quốc ban hành ― Đề cương quy hoạch phát triển

và cải cách giáo dục lâu dài của đất nước‖ trong đó đã chỉ ra: ―Trong lĩnh vực hợp

Trang 33

tác giáo dục quốc tế phải mở rộng học hỏi về trình độ, học vị giữa chính phủ Cổ vũ giao lưu trao đổi giảng viên, sinh viên giữa các trường đại học trong và ngoài nước‖

Bộ giáo dục căn cứ theo xu thế phát triển của Trung Quốc và Đông Nam Á bước đầu đề xuất mục tiêu tăng cường giao lưu giáo dục theo năm là 15%, xây dựng kế hoạch đến năm 2020 có 100 nghìn sinh viên trao đổi giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Ngoài ra không ngừng gia tăng số lượng học bổng chính phủ Trung Quốc dành cho lưu học sinh Như vậy việc thực thi hàng loạt các chính sách thể hiện giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á luôn duy trì mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, mở rộng quyết tâm và thái độ kiên định trong giao lưu hữu nghị

Việt Nam coi trọng việc xây dựng quan hệ hợp tác giáo dục với các nước, các tổ chức,và cũng có được sự động viên và giúp đỡ của ngân hàng thế giới, tổ chức WTO, ngân hàng phát triển Á Châu, ASEAN v.v… hoạt động hợp tác giáo dục quốc tế ngày càng nhiều Trung Quốc- Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế thương mại, văn hóa đều có quan hệ hợp tác từ lâu, do đó phát triển hợp tác giáo dục với hình thức chủ yếu là phát triển đào tạo nhân tài, giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung-Việt trước sau đều kiên trì bốn phương châm láng giềng hữu nghị, bạn

bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, giúp đỡ lẫn nhau về phương diện kinh tế thương mại, hợp tác thương mại giữa đôi bên luôn chiếm một tỉ lệ lớn trong kim ngạch thương mại đối ngoại của các nước Đông Nam Á Kinh tế chính trị ổn định là cơ sở là cho giao lưu hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực văn hóa giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI, trong đó hợp tác giáo dục đại học là nổi trội nhất Hiện nay đã có rất nhiều trường đại học cao đẳng ở Trung Quốc hợp tác với các trường của Việt Nam như trường Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội, Đại học Hải Phòng, Đại học Đà Nẵng v.v… hàng năm đều có trao đổi sinh viên giữa hai nước để giao lưu học tập

Quan hệ hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có từ khi nước CHND Trung Hoa được thành lập Lúc này Việt Nam đang ở vào thời kì kháng chiến chống lại chủ nghĩa tư bản thực dân xâm lược nên cho dù mới ra đời kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đều đang ở thời kỳ xây dựng nhưng Trung Quốc vẫn chú

Trang 34

trọng giúp đỡ Việt Nam đào tạo nhân tài cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Vào thời gian này, hai nước Trung- Việt đã đạt được hiệp định hợp tác giáo dục mà

cụ thể là Trung Quốc đồng ý cho Việt Nam thành lập lớp bồi dưỡng cán bộ ở Quảng Tây khu vực gần với Việt Nam, và gọi những trường này là ― khu vực học tập trung ương‖ Tiếp đó, đến những năm 60,70 của thế kỉ 20 rất nhiều trường đại học nổi tiếng của Trung Quốc đã giúp Việt Nam đào tạo một lượng lớn cán bộ ưu tú

Trải qua một thời gian quan hệ căng thẳng cho đến năm 1991 quan hệ hai nước mới dần dần bình thường hóa Năm 1992 trường đại học dân tôc Quảng Tây

cử một đoàn đại biểu sang thăm Việt Nam với tiêu chí lập lại quan hệ hợp tác giáo dục giữa hai nước Năm 1993 Việt Nam cử một đoàn lưu học sinh đầu tiên bao gồm

40 người đến trường đại học dân tộc Quảng Tây học tập, Trung Quốc cũng cử 3 giáo viên và học sinh đến Viêt Nam triển khai công tác giảng dạy tiếng Hán đối ngoại, từ đó giao lưu hợp tác giáo dục giữa hai nước mới dần dần khôi phục Nhiều trường đại học của Trung Quốc đặc biệt là Quảng Tây đã xây dựng được quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam, mỗi năm đều cử một lượng lớn sinh viên đi du học

và trao đổi

Sau này cùng với việc thành lập khu mậu dich tự do Trung Quốc-ASEAN quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á ngày càng mật thiết Lúc này Việt Nam với vai trò là nước có quan hệ thương mại lớn với Trung Quốc trong số các nước Đông Nam Á, thú hút được rất nhiều sự quan tâm của các nước do đó nhu cầu về nhân tài biết tiếng Việt ở các nước tăng lên rất nhanh Trong khi đó ở Việt Nam cũng hình thành trào lưu học tiếng Trung Quốc Chính vì thế việc hợp tác giáo dục giữa Trung Quốc và Việt Năm rất quan trọng và cần thiết

Bước vào thế kỉ 21 tổng số lưu học sinh Việt Nam đến Trung Quốc du học

có xu hướng tăng dần hàng năm Năm 2003 là 3.487 sinh viên, đến năm 2006 tăng lên 7.310 và đến năm 2009 tăng lên 12.247 sinh viên, xếp vị trí thứ tư trong tổng số các nước có sinh viên đến Trung Quốc du học, xếp vị trí thứ nhất trong số các nước Đông Nam Á có sinh viên đến Trung Quốc du học Đến năm 2011 và năm 2012

Trang 35

tổng số lưu học sinh Việt Nam là 13.549 sinh viên và 13.038 sinh viên, tụt xuống một bậc trong tổng số các nước có sinh viên đến Trung Quốc du học Thái Lan xếp lên vị trí thứ tư

Bảng 1.3: Bảng tóm tắt xếp hạng và tổng số lưu học sinh Việt Nam đến Trung

(Nguồn tài liệu: theo số liệu thống kê hội quản lý lưu học sinh nước ngoài,

hiệp hội giáo dục dại học Trung Quốc)

Từ bảng 1.3 có thể thấy tổng số sinh viên Việt Nam đến Trung Quốc du học tăng lên rõ rệt, trong đó năm 2001 tăng lên 45% so với năm 2000, năm 2002 tăng lên 50% so với năm 2000, là bước đột phá từ khi bình thường hóa quan hệ hợp tác giáo dục hai nước cho đến nay Sau đó mức tăng trưởng tương đối ổn định, từ năm

2003 đến năm 2009 xếp vị trí thứ 4 trong tổng số các nước có sinh viên đến Trung Quốc du học, 2010-2012 có biến động nhưng vẫn duy trì ở vị trí thứ 5 Trung Quốc mỗi năm cũng có một lượng lớn sinh viên đến Việt Nam du học các chuyên ngành ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế thương mại, du lịch v.v… bổ sung nhân tài để phiên dịch ngôn ngữ Trung- Việt

Hợp tác giáo dục Trung- Việt có ưu thế và cơ sở để phát triển thuận lợi bởi những nguyên nhân sau :

* Vị trí địa lí

Trung Quốc và Việt Nam có đường biên giới chung dài hơn 1.347 km Từ góc độ địa lí chiều dài này tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu trao đổi nói chung trong đó có hợp tác giáo dục giữa đôi bên Tiếp giáp địa lí tạo cho mạng lưới giao thông nhanh và thuận tiện như đường sắt từ cửa khẩu Hữu Nghị đến Hà Nội; đường

Trang 36

cao tốc Quảng Tây- Việt Nam, Vân Nam- Việt Nam có thể làm cho hai bên giảm bớt ảnh hưởng về khoảng cách địa lí, thuân tiện cho việc tiến hành giao lưu hợp tác tiết kiệm được kinh phí đi lại Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi sông liền sông, giao thông thuận tiện càng dễ thu hút sinh viên Việt Nam đó là ưu thế về địa lí

* Chế độ chính sách

Trung Quốc và ASEAN đã kí kết ―Thực hiện kế hoạch hành động hợp tác tuyên truyền quan hệ hợp tác chiến lược giữa Trung Quốc - ASEAN theo hướng hòa bình và phồn vinh‖, trong phần ―hợp tác giáo dục‖ đã chỉ rõ: phải tiếp tục thông qua mạng lưới đại học ASEAN và bộ giáo dục Trung Quốc thực hiện kế hoạch giao lưu hợp tác học thuật, từng bước triển khai hợp tác nghiên cứu, đào tạo và các hạng mục giao lưu sinh viên, giảng viên, các học giả, giáo sư nổi tiếng Năm 2009 Trung Quốc và Việt Nam đã kí hiệp định công nhận học vị và trình độ giáo dục đại học giữa hai nước Từ đó có thể thấy chính sách đã tạo ra một sân chơi mới cho hợp tác giáo dục đại học giữa Trung Quốc và các nước ASEAN nói chung và hai nước Trung- Việt nói riêng

* Cơ hội về thị trường

Quảng Tây là vùng có thể kết hợp khu kinh tế phía Tây và khu kinh tế mở cửa Đông Nam nên có vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế giữa ASEAN, Việt Nam và Trung Quốc Với việc hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN, Nam Ninh

đã trở thành nơi tổ chức truyền thống của hội chợ triển lãm ASEAN Vì thế số lượng yêu cầu đối với những nhân tài giỏi tiếng Việt và song ngữ Anh, Việt ngày càng lớn Hội chợ triển lãm dạng như vậy tạo cơ hội thị trường tốt cho hợp tác giáo dục giữa hai nước Trung- Việt

* Hệ thống giáo dục

Trung Quốc và Việt Nam đều là nước xã hội chủ nghĩa nên chế độ giáo dục giữa hai nước có nét tương đồng Hệ thống giáo dục tương đương bao gồm: trước tiểu học, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đại học Bậc giáo dục đại học chia thành cao đẳng, đại học và sau đại học Đây cũng là cơ sở thuận lợi

để giao lưu, hợp tác trao đổi

Trang 37

Tiểu kết chương 1:

Từ khi hai nước Trung-Việt bình thường hóa quan hệ cho đến nay, hợp tác giao lưu trong các lĩnh vực như khoa học kĩ thuât, văn hóa, quân sự và giáo dục đã không ngừng phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Đảng, nhà nước, các tổ chức đoàn thể và cơ quan địa phương trên tất cả các lĩnh vực dân sự cũng như quân sự đều có quan hệ ngày càng mật thiết, lĩnh vực hợp tác ngày càng được mở rộng

Điều này thể hiện rõ khi hai nước đang phác thảo khung hợp tác, đưa quan

hệ hợp tác giữa hai nước bước sang một giai đoạn mới Trong các hoạt động hợp tác giáo dục nổi bật nhất là giao lưu và hợp tác trong phương diện giáo dục đại học Chương này chủ yếu tìm hiểu và nghiên cứu những kết quả hợp tác của giáo dục đại học hai nước đã đạt được trong suốt quá trình phát triển từ những năm 90 của thế kỉ

20 cho đến nay trên cơ sở đó đưa ra những thành tựu đạt được thể hiện qua các phương diện: thể chế giáo dục, mô hình đào tạo nhân tài, xây dựng đội ngũ giảng viên, cải cách phương pháp giảng dạy và giao lưu đối ngoại

Nếu như nói quốc tế hóa giáo dục là mục tiêu tổng thể thì giao lưu hợp tác quốc tế giáo dục cũng là một trong những bộ phận và phương pháp quan trọng Do

đó giao lưu hợp tác giáo dục đại học giữa các nước càng ngày càng trở thành điều kiện không thể thiếu để phát triển một nhà nước có nền giáo dục lành mạnh, tích cực thúc đẩy và tham gia hợp tác giao lưu quốc tế đã trở thành một quan niệm bắt buộc trong giáo dục Cùng với quan hệ hai nước Trung-Việt ngày càng mật thiết thì hợp tác giáo dục đại học giữa hai nước cũng có tầm quan trọng và mang ý nghĩa nhất định

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG HỢP TÁC GIÁO DỤC GIỮA TRUNG QUỐC

VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

2.1 Chủ trương đường lối tăng cường hợp tác giáo dục giữa hai nước

2.1.1 Các thông cáo chung, tuyên bố chung của nhà nước

Thực tế cho thấy Trung Quốc và việt Nam trong lịch sử quan hệ văn hóa giáo dục có từ rất sớm và có thể cho rằng là những quan hệ mở đầu Chính vì thế sau khi

2 nước bình thường hóa quan hệ thì các hoạt động giao lưu trao đổi văn hóa giáo dục cũng là những hoạt động đi trước và nhiều hơn các quan hệ khác Điều này có thể dễ dàng nhận thấy, các chủ trương lớn của hai nước đều có nhắc đến quan hệ hợp tác văn hóa giáo dục Cụ thể có thể nhận thấy trong các Thông cáo chung và Tuyên bố chung trong những năm này (Các tự liệu trên căn cứ theo trang web của

Bộ ngoại giao nước cộng hòa nhan dân Trung Hoa [30])

* Ngày 10 tháng 11 năm 1991 tại Trung Quốc

Việt Nam Võ Văn Kiệt

Hai bên bày tỏ sự hài lòng về phát triển và những cải thiện bước đầu trong mối quan hệ giữa hai nước Trong điều 4 có ghi rõ : Hai bên đồng ý theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực kinh

tế, thương mại, khoa học kĩ thuật, văn hóa giáo dục v.v… Hai bên bày tỏ sự hài lòng về các hiệp định đã kí kết Hai bên cho rằng hai đảng hai nước tăng cường trao đổi sẽ có lợi cho việc cải cách kinh tế và xây dựng đất nước

Trang 39

* Tháng 12 năm 2000 tại Bắc Kinh Trung Quốc

đó điều 7 quy định : mở rộng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục bao gồm trao đổi sinh viên, giảng viên, cổ vũ và ủng hộ các trường, các ban ngành và các tổ chức nghiên cứu hợp tác trực tiếp

* Ngày 30 tháng 11 năm 2001 tại Bắc Kinh

Trang 40

* Tháng 11 năm 2005 tại Việt Nam

và chính quyền địa phương trong các lĩnh vực như chính trị, kinh

tế, ngoại giao, văn hóa, quốc phòng, an ninh, giáo dục v.v… đi sâu trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, phát triển đất nước cùng với lí luận và thực tiễn chủ nghĩa xã hội Củng cố hơn nữa mối tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước đặc biệt là tăng cường tuyên truyền và giáo dục truyền thống hữu nghị tốt đẹp cho thanh niên hai nước Trung-Việt làm cho mối tình hữu nghị đó đi sâu vào trong tâm trí của nhân dân hai nước, thúc đẩy quan hệ hai giữa Đảng hai nước không ngừng mở ra một cục diện mới

Ngày đăng: 21/05/2016, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Hà nội: Nhà xuất bản giáo dục. 1995, tr 202-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục. 1995
2. Nguyễn Văn Căn,(2007 ), Quá trình cải cách giáo dục ở CHNDTrung Hoa thời kỳ 1978-2003, Nxb KHXH tr 224 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình cải cách giáo dục ở CHNDTrung Hoa thời kỳ 1978-2003
Nhà XB: Nxb KHXH tr 224
3. Phạm Điền (2011), Tình hình kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO, Hà Nội, Tạp chí kinh tế xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO, Hà Nội
Tác giả: Phạm Điền
Năm: 2011
4. Trần Khánh Đức (2007), Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển hiện đại hóa của Việt Nam, Hà Nội, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển hiện đại hóa của Việt Nam
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2007
5. Vũ Ngọc Hải (2004), Hệ thống giáo dục hiện đại đầu thế kỉ 21, Hà Nội, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giáo dục hiện đại đầu thế kỉ 21
Tác giả: Vũ Ngọc Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2004
6. Lê Minh Hiền (2009), Quản lí giáo dục, Hà nội, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục
Tác giả: Lê Minh Hiền
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2009
7. Nguyễn Đình Hương (2009), Một số vấn đề về chính sách, quy mô và chất lượng giáo dục, Tạp chí nghiên cứu kinh tế và phát triển Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chính sách", quy mô và chất lượng giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Năm: 2009
8. Trần Kiều (2003), Giáo dục thế giới thế kỉ 21, Hà Nội, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục thế giới thế kỉ 21
Tác giả: Trần Kiều
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2003
9. Đặng Bác Lan (2003), Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam thế kỉ 21, Hà Nội, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam thế kỉ 21
Tác giả: Đặng Bác Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2003
10. Trần Thọ (2009), Cơ sở lí luận của chiến lược giáo dục, Hà Nội, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận của chiến lược giáo dục
Tác giả: Trần Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
11. Thái Duy Tuyên(2005), Những phương án có hiệu quả đối với việc thực hiện sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam , Hà Nội, Tạp chí khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương án có hiệu quả đối với việc thực hiện sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thống kê số lượng giáo viên và sinh viên bậc đại học Việt Nam - Hợp tác giáo dục giữa trung quốc và việt nam từ năm 1991 đến nay
Bảng 1.1 Thống kê số lượng giáo viên và sinh viên bậc đại học Việt Nam (Trang 28)
Bảng1. 2: Bảng thống kê trình độ học vấn và số lượng giáo viên bậc đại học Việt Nam - Hợp tác giáo dục giữa trung quốc và việt nam từ năm 1991 đến nay
Bảng 1. 2: Bảng thống kê trình độ học vấn và số lượng giáo viên bậc đại học Việt Nam (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w