1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật thơ vũ hoàng chương

100 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong Cách Nghệ Thuật Thơ Vũ Hoàng Chương
Tác giả Vũ Hoàng Chương
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 1940-1943
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 803,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3 (3)
  • 2. Lịch sử vấn đề 5 (5)
  • 3. Nhiệm vụ của luận văn 8 (8)
  • 4. Ph-ơng pháp nghiên cứu 8 (8)
  • 5. CÊu tróc luËn v¨n 9 (9)
    • 1.1.1. Quan niệm về cái Tôi trữ tình trong thơ 10 (10)
    • 1.1.2. Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại 11 (11)
    • 1.1.3. Cái Tôi trữ tình trong Thơ say và Mây 13 (13)
    • 1.2. Nỗi cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng trong Thơ say và Mây 18 (18)
      • 1.2.1. Cô đơn , buồn nản , chán ch-ờng bởi cảm giác lạc loài 18 (18)
    • 2.1. Tìm đến thú say. 35 (35)
    • 2.2. Trốn vào tình yêu, tìm thú vui thân xác. 48 (48)
    • 2.3. Trở về với quá khứ. 56 (0)
    • 3.2. Hình ảnh 72 (72)
    • 3.3. Thể thơ 80 (80)
      • 3.3.1. Các thể thơ 80 (80)
      • 3.3.2. Nhịp thơ 81 (81)
      • 3.3.3. Vần thơ 85 (85)

Nội dung

Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3

Phong trào Thơ mới 1932-1945 là một hiện tượng văn học quan trọng nhất của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, xuất hiện trong bối cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn Trào lưu này đã mang đến một tiếng nói mới cho văn chương nghệ thuật, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong thơ ca, chuyển từ thời kỳ cận đại sang thời kỳ hiện đại Đóng góp lớn nhất của Thơ mới là sự trở về của cái Tôi, thể hiện quan niệm cá nhân một cách đầy đủ, giải phóng sức sáng tạo của tâm hồn và thơ văn, từ đó tạo nên những bước ngoặt trong thi pháp và tư duy thơ Những phong cách nghệ thuật độc đáo đã xuất hiện, với các tài năng như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên và Xuân Diệu, thể hiện sự đa dạng trong cảm xúc và phong cách sáng tác.

Chỉ trong mười lăm năm, Thơ mới đã trải qua một chặng đường dài, mở ra nhiều hướng đi, từ lãng mạn thoát ly đến chân thật gần gũi và kỳ ảo Thơ mới không chỉ chứa đựng niềm vui gắn bó với sự sống và tình yêu đôi lứa, mà còn mang nặng nỗi buồn về cuộc đời, non nước và những nỗi đau thầm kín Những nỗi buồn này không chỉ phản ánh cuộc đời của từng thi sĩ mà còn thể hiện hơi thở chung của thời đại Tinh thần của Thơ mới là hành trình tìm kiếm chiều sâu trong cuộc sống, từ những cảm xúc mãnh liệt đến sự cô đơn, thể hiện qua các tác phẩm của những tên tuổi lớn như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, và Xuân Diệu.

Vũ Hoàng Chương (1916 - 1976) là một thành viên nổi bật trong phong trào Thơ mới, khẳng định tài năng giữa những tên tuổi lớn như Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận và Chế Lan Viên Ông xuất hiện như một ngôi sao lạ, mọc muộn và chao đảo trên bầu trời thơ, mang đến một không gian mờ ảo và buồn não, hòa quyện với làn khói hơi men.

Thơ Vũ Hoàng Chương phản ánh tâm trạng cô đơn, buồn bã và chán nản của con người trong thời đại mới Qua hai tập thơ "Thơ say" (1940) và "Mây" (1943), nhà thơ thể hiện sự thoát ly khỏi cuộc sống qua nhiều con đường, đặc biệt là việc tìm đến những thú say Điều này tạo nên nét độc đáo trong thơ ông, giúp Vũ Hoàng Chương sánh vai cùng các thi sĩ nổi tiếng như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận và Chế Lan Viên trong phong trào Thơ mới.

Thơ Vũ Hoàng Chương chưa được đánh giá đúng mức và đôi khi còn bị chỉ trích mạnh mẽ, dẫn đến những đóng góp của ông cho Thơ mới chưa được công nhận Để khẳng định tài năng và sức sáng tạo của nhà thơ, cần xem xét phong cách nghệ thuật của ông, phản ánh nhận thức và cảm thụ thẩm mỹ về cuộc sống Phong cách nghệ thuật không thể tách rời khỏi các yếu tố như cuộc đời, thể loại, ngôn ngữ và tư duy nghệ thuật, mà cần được nhìn nhận trong sự toàn vẹn của thế giới nghệ thuật Nó là sự kết hợp giữa tài năng bẩm sinh và quá trình rèn luyện lâu dài, thể hiện sự sáng tạo cao nhất của nghệ sĩ trong việc đồng hóa hiện thực bằng thẩm mỹ Nghệ thuật đạt đỉnh cao là sản phẩm của những nhà văn biết in dấu ấn riêng trong việc cảm thụ và lý giải hiện tượng đời sống con người.

Vì những lý do nói trên tôi đã chọn Thơ say và Mây của Vũ Hoàng

Ch-ơng thực hiện nghiên cứu với mong muốn khẳng định vị trí của Vũ Hoàng Ch-ơng và thơ ca của ông trong nền văn học Mục tiêu là nâng cao nhận thức về giá trị và đóng góp của ông trong thi đàn Việt Nam.

Lịch sử vấn đề 5

Thơ mới đã được đánh giá qua nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng Các nhà phê bình đều công nhận Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận và Chế Lan Viên là những nhà thơ có đóng góp lớn cho nền thơ ca mới.

Vũ Hoàng Chương là một tài năng thơ ca đáng kính, nhưng ông thường bị phê phán và ít được nhắc đến, dẫn đến việc thơ của ông rơi vào quên lãng trong một thời gian dài.

Khi nghiên cứu thơ Vũ Hoàng Chương, người ta thường nhấn mạnh đến những cảm xúc say đắm trong tác phẩm của ông Hoài Thanh là người đầu tiên nhận ra những điều mới mẻ trong thơ ca của Vũ Hoàng Chương, mở ra một hướng đi độc đáo trong việc cảm nhận và đánh giá giá trị nghệ thuật của ông.

Vũ Hoàng Chương, cùng với Lưu Trọng Lư và Tản Đà, đều thể hiện sự "say" trong thơ ca, nhưng cái "say" của Vũ Hoàng Chương mang tính hiện đại hơn Mặc dù chịu ảnh hưởng từ thơ Pháp, tác phẩm của ông chủ yếu phản ánh cuộc sống mới, thể hiện sự say mê mà không điên cuồng, cùng với nỗi chán nản nhẹ nhàng, không nặng nề như trong thơ của Baudelaire.

Hoài Thanh chỉ ra rằng Vũ Hoàng Chương đang tiếp nối di sản của những thi hào xưa ở Đông Á, với một niềm say mê đa dạng Ông miêu tả con người say sưa trong nhiều lĩnh vực như rượu, âm nhạc, tình yêu và cả những thú vui mới như thuốc phiện và nhảy đầm Tất cả những niềm say này đều được nuôi dưỡng bởi một niềm say khác: say thơ.

Cái say trong thơ Vũ Hoàng Chương chịu ảnh hưởng từ các nhà thơ trước, nhưng được phát triển phong phú và đa dạng hơn Ông say mê những thú vui đời thường như say rượu, say đàn, say ca, cùng với những thú say hiện đại như say thuốc phiện và nhảy đầm Tuy nhiên, những thú say này không hủy hoại tâm hồn hay tài năng của ông, mà lại khơi nguồn cho một thú say khác: say thơ Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận định rằng cái say trong thơ Vũ Hoàng Chương phát ra từ điệu thơ và nghệ thuật, không chỉ từ tính tình cá nhân Ông có tài trong việc chọn chữ và tạo âm điệu, nhưng thơ ông vẫn giữ được sự rung động chân thực Chính sự rung cảm trước cuộc đời là nguồn cội tạo nên điệu thơ của ông.

Vũ Hoàng Chương phản ánh những trải nghiệm và nỗi mất mát trong cuộc đời của nhà thơ, điều này được nhấn mạnh qua nhận định của nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong cuốn "Con mắt thơ".

Cái say trong thơ Vũ Hoàng Chương đã làm cho tác phẩm của ông trở nên chân thực và sâu sắc hơn, thể hiện đời sống trong tính toàn vẹn của nó Cuộc sống không chỉ có thực tế mà còn có lý tưởng, không chỉ có xác mà còn có hồn, không chỉ có tỉnh mà còn có mộng Sự chuyển di liên tục giữa thực và ảo đã tạo nên vẻ đẹp đặc trưng cho thơ say Đỗ Lai Thúy nhận thấy trong thơ Vũ Hoàng Chương có sự giao thoa giữa hai thế giới thực và ảo, phản ánh cách cảm nhận mới và cái nhìn hiện đại theo kiểu tư duy đô thị phương Tây, nơi thế giới bị phân mảnh thành những phần riêng biệt giữa hai nửa hữu hình và vô hình.

Thơ mới là sự hòa quyện tinh tế giữa truyền thống thơ ca dân tộc, ảnh hưởng của thơ ca Á Đông và những giá trị nghệ thuật của thơ ca Pháp qua nhiều thế kỷ Điều này tạo nên sự kết hợp độc đáo giữa các yếu tố Đông - Tây, Kim - Cổ, cũng như âm thanh, màu sắc và hương thơm trong thơ ca Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy sự ảnh hưởng này rõ rệt ở bất kỳ nhà thơ mới nào, trong đó có Vũ Hoàng Chương.

“Thơ ông có ảnh h-ởng của t- t-ởng Lão Trang của câu thơ Đào Tiềm, Lý

Bạch, Bạch Cư Dị“  16 , tr 207  Chỉ có điều ông ch-a tiếp thu đ-ợc truyền thống nhân đạo tích cực trong thơ Đ-ờng

Giáo sư Đỗ Đức Hiểu nhận định rằng thơ Vũ Hoàng Chương mang đậm ảnh hưởng phương Đông với những giấc mơ về quá khứ và hình ảnh "đêm hoa đăng", trong khi từ góc nhìn phương Tây, ông là nhà thơ hiện đại nhạy bén, hòa nhập với tâm linh của chủ nghĩa tượng trưng Vũ Hoàng Chương được xem là nhà thơ đô thị nhất trong Thơ mới, thể hiện sự chán chường và những cảm xúc tuyệt vọng, phản ánh cái "đời tàn trong ngõ hẹp", tương tự như những chủ đề của Baudelaire.

Thơ Vũ Hoàng Chương là sự hòa quyện giữa yếu tố huyền ảo của phương Đông và những khía cạnh thực tế, đời thường, hiện đại của phương Tây Đây chính là điểm mới mẻ, độc đáo trong sáng tác của ông.

Ngô Văn Phú trong lời giới thiệu "Thơ say" của NXB Hội nhà văn 1993 đã nhận định rằng thơ Vũ Hoàng Chương tập trung vào cái Tôi, thể hiện cảm xúc sâu sắc trong những khoảnh khắc tinh tế nhất của bản thân Ông dẫn dắt Thơ mới vào chiều sâu của cá tính độc đáo Thơ Vũ Hoàng Chương không bí hiểm nhưng cũng không giống ai, tạo nên một phong cách riêng biệt mà không ai có thể bắt chước Ông khéo léo kết hợp âm nhạc và hội họa trong thơ, lựa chọn từ ngữ tinh tế cho từng câu, và đắm chìm trong từng trang thơ mà ông coi là đích thực Đây chính là tinh thần đặc trưng của thơ Vũ Hoàng Chương.

Ch-ơng Đó cũng chính là phong cách thơ Vũ Hoàng Ch-ơng

Nhìn chung, các ý kiến đều thống nhất về những đặc điểm cơ bản trong hồn thơ Vũ Hoàng Chương, thể hiện nỗi buồn nản và chán chường Để giải tỏa tâm trạng này, nhà thơ đã tìm đến thú say, ca ngợi và nâng niu nó thành thi hứng Sự kết hợp hài hòa giữa những cảm xúc này tạo nên nét độc đáo trong thơ ông.

Cổ - Kim, Đông - Tây đã tạo nên trong thơ Vũ Hoàng Ch-ơng một nét rất riêng, rất đặc sắc

Để hình dung toàn diện về phong cách nghệ thuật thơ Vũ Hoàng Chương, cần phải nhận diện tính chất độc đáo trong sự kết hợp giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Phong cách nghệ thuật là sự thống nhất và toàn vẹn của các yếu tố tạo nên tác phẩm Việc hiểu và đánh giá phong cách thơ Vũ Hoàng Chương qua hai tập "Thơ say" và "Mây" đòi hỏi phải chỉ ra sự thống nhất trong quan niệm về cuộc đời, thời đại, nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật Đây là vấn đề trọng tâm mà luận văn sẽ đề cập.

Nhiệm vụ của luận văn 8

Luận văn tập trung vào việc phân tích và so sánh các đặc điểm nổi bật trong những tác phẩm của Vũ Hoàng Chương, nhằm làm rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của ông, thay vì nghiên cứu những vấn đề quá phức tạp.

Luận văn này nghiên cứu một cách có hệ thống thơ Vũ Hoàng Hương, tập trung vào hai tập thơ "Thơ say" và "Mây", phân tích cả nội dung và nghệ thuật.

Từ đó tìm ra sự thống nhất giữa hai mặt đó của thơ ông

Luận văn này nhằm cung cấp cái nhìn đúng đắn về Vũ Hoàng Chương, từ đó giúp xóa bỏ những định kiến và hiểu lầm sai lệch trong xã hội về thơ ca của ông.

Ph-ơng pháp nghiên cứu 8

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên luận văn sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu khoa học sau:

4.1 Ph-ơng pháp hệ thống, nhằm nghiên cứu thơ Vũ Hoàng Ch-ơng theo một hệ thống, từ quan niệm về con ng-ời, cuộc đời đến nghệ thuật

Phương pháp so sánh được áp dụng giữa hai tập thơ "Say" và "Mây" với tác phẩm của một số nhà thơ trước và cùng thời với Vũ Hoàng Chương, nhằm khám phá những nét độc đáo và riêng biệt trong phong cách sáng tác của nhà thơ này.

4.3 Ph-ơng pháp phân tích tổng hợp, nhằm tìm hiểu thơ Vũ Hoàng

Ch-ơng một cách khái quát từ chi tiết cụ thể đến tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu có sức thuyết phục cao

Những ph-ơng pháp trên đ-ợc vận dụng hài hoà, khoa học và linh hoạt nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà luận văn đề ra.

CÊu tróc luËn v¨n 9

Quan niệm về cái Tôi trữ tình trong thơ 10

Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ giá trị của bản thân, đặc biệt trong văn học, nơi mà ý thức cá nhân (cái Tôi) đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tiềm năng sáng tạo Đối với thơ ca, cái Tôi trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Viên Mai, trong tác phẩm "Tuỳ viên thi thoại," đã nhấn mạnh rằng, trong khi làm người, cái Tôi có thể dẫn đến kiêu ngạo, nhưng trong sáng tác thơ, cái Tôi là điều không thể thiếu Nó thể hiện cá tính riêng, cảm thụ độc đáo và ngôn từ mới mẻ của nhà thơ, tạo nên phong cách biểu hiện độc đáo khác biệt với những người khác.

Cái Tôi đóng vai trò quan trọng trong thơ, là trung tâm bộc lộ suy nghĩ, tình cảm và thái độ của nhà thơ, tạo nên sự độc đáo riêng biệt cho tác phẩm Mỗi nhà thơ có một cuộc sống tâm hồn và tình cảm khác nhau, từ đó hình thành phong cách riêng trong sáng tác Đôi khi, cái Tôi trong thơ đồng nhất với nhà thơ, nhưng cũng có lúc nó trở thành cái Tôi - trữ tình, khi nhà thơ hóa thân vào đối tượng miêu tả Mặc dù cái Tôi - nhà thơ và cái Tôi - trữ tình không hoàn toàn đồng nhất, chúng vẫn thống nhất trong nghệ thuật, mang đến những sắc thái phong phú nhưng vẫn giữ nguyên tâm hồn và con người của nhà thơ Sự khác biệt giữa hai cái Tôi này không có nghĩa là nhà thơ giả dối, như trường hợp Chế Lan Viên viết về Tây Bắc hay Minh Huệ viết về Bác Hồ mà chưa từng gặp.

T-ơng tự nh- vậy bài Con tàu say của Rembô - nhà thơ Pháp cũng đ-ợc viết khi tác giả ch-a đi biển Có ng-ời viết rất nhiều về tình yêu nh-ng mình lại ch-a bao giờ đ-ợc hạnh phúc Có ng-ời sống giữa mọi ng-ời lại luôn luôn cảm thấy cô đơn sầu tủi… Đó chính là do tâm hồn phong phú, giàu t-ởng t-ợng, biến hoá đã làm cho thơ lung linh đầy màu sắc Nhà thơ đã biến cái Tôi của mình thành cái Tôi nghệ thuật

Vài nét về cái Tôi trữ tình trong thơ trung đại 11

Quá trình sáng tác thơ ca là sự chủ quan hóa, trong đó cái Tôi trữ tình thể hiện dấu ấn cá nhân qua lựa chọn, cái nhìn và cảm xúc Khả năng chuyển hóa cái chung thành cái riêng càng mạnh mẽ thì tiếng nói thơ ca càng phong phú Tuy nhiên, không phải tất cả các thời đại đều có thể thực hiện điều này.

Trong thơ ca nhà Nho thời trung đại, "cái Tôi đơn nhất" không gắn liền với hoàn cảnh sống cụ thể mà thường thể hiện sự trầm tư trong mối quan hệ với thiên nhiên, không phải xã hội Sau khi hoàn thành sứ mệnh "hành đạo," các nhà Nho thường lui về ẩn dật trong thiên nhiên để bảo toàn phẩm giá và nuôi dưỡng tâm hồn Họ tìm thấy trong thiên nhiên những phẩm chất đạo đức cao quý, như hình ảnh cây tùng, cây trúc biểu trưng cho người quân tử, hay hoa cúc, hoa mai thể hiện sự trong trắng Tuy nhiên, những nhà thơ tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, và Cao Bá Quát vẫn giữ vững lý tưởng phong kiến, luôn mang trong mình nỗi niềm yêu nước và thương dân.

“Trí quân trạch dân” thể hiện sự sâu sắc trong tư tưởng, cho thấy rằng việc thoát li khỏi xã hội chỉ là cách để bảo vệ nhân cách trong sạch Cái Tôi ở đây không phải là hành động mà là sự suy tư, chiêm nghiệm Các nhà Nho không thờ ơ hay bàng quan, mà thực sự quan tâm đến đời sống xã hội, nhưng họ đặt mình ở một vị trí cao hơn, hướng về thiên nhiên và vũ trụ để suy nghĩ về cuộc đời và con người Họ loại bỏ những điều trần tục, chỉ giữ lại cái Tôi cao quý, trong sạch, không bị ô nhiễm bởi bụi trần.

Trong thơ ca trung đại, cái Tôi chưa có cơ sở xã hội để bộc lộ những vẻ đẹp độc đáo, với những phong cách thơ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương chỉ là số ít trong một biển thơ bị quy định bởi nội dung phi ngã Cá tính con người không được thể hiện, bản lĩnh bị bóp nghẹt, và mọi thứ thuộc về cá nhân đều bị hạn chế Sự ràng buộc khắt khe trong văn thơ trung đại đã kìm hãm sự sáng tạo, khiến cho thơ cũ trở nên sáo mòn cả về nội dung lẫn hình thức Giữa bối cảnh đó, vào đầu thế kỷ XX, Tản Đà xuất hiện với bản lĩnh độc đáo, mở đường cho sự ra đời của Thơ mới.

Cái Tôi trữ tình trong Thơ say và Mây 13

Sự ra đời của Thơ mới không phải là ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự phát triển văn hóa dân tộc qua nhiều giai đoạn Một thế hệ nghệ sĩ mới xuất hiện với hệ thống quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật mới, mở ra nhiều chân trời và tâm trạng, thay đổi quan niệm về con người và thế giới Nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ đã chỉ ra rằng “cảm hứng sáng tạo gắn liền với cá nhân tự ý thức” đã tạo ra bước ngoặt trong lịch sử thơ ca Việt Nam theo hướng hiện đại, với Thơ mới được coi là “thơ của cái Tôi.” Hoài Thanh, Hoài Chân cũng gọi thời đại này là “Thời đại chữ Tôi,” nhấn mạnh rằng xã hội Việt Nam trước đây không có cá nhân mà chỉ có đoàn thể Thơ ca trung đại thường nặng tính duy lý và giáo huấn, không dám sử dụng cái Tôi cá nhân để diễn đạt Ngược lại, Thơ mới dám coi cái Tôi cá nhân như một quan điểm độc lập, thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thống, để bộc lộ mọi cảm xúc riêng tư từ nỗi buồn, cô đơn đến yêu ghét Các nhà thơ mới đã mạnh dạn thể hiện cảm xúc của mình một cách tự do và chủ quan.

Thơ mới lãng mạn khẳng định cái Tôi, thể hiện bản lĩnh tích cực trong cuộc sống và vai trò của chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật.

Thơ mới phản ánh tâm tư của giai cấp tiểu tư sản, một giai cấp không có hệ tư tưởng độc lập và chịu ảnh hưởng từ tư tưởng tư sản Chủ nghĩa cá nhân, sản phẩm của quyền lợi chiếm hữu, đã thâm nhập vào đời sống và suy nghĩ của nhiều tầng lớp xã hội Giai cấp tiểu tư sản trở thành tiếng nói cho hệ ý thức tư sản, nhưng đồng thời cũng bị cuốn vào cái Tôi cá nhân, dẫn đến sự cô đơn và mất kết nối với cuộc sống xung quanh Điều này tạo ra một khoảng cách lớn giữa cá nhân và xã hội, khiến cái Tôi trong Thơ mới và văn học lãng mạn bế tắc trước thực tại Các nhà thơ thu mình trong vỏ bọc cá nhân, sống trong nỗi buồn và sự chán chường, tự xây dựng cho mình một thế giới riêng biệt, như những hòn đảo cô đơn.

Ta là một, là riêng, là thứ nhất

Không có chi bè bạn nổi cùng ta

( Xuân Diệu “ Hi Mã Lạp Sơn)

Nhà thơ sống trong một thế giới tách biệt, nơi mọi mối liên hệ và tình cảm với cuộc sống thường nhật đều bị cắt đứt Sự ngăn cách này không phải do cuộc đời phụ bạc, mà chính là do nhà thơ tự ràng buộc và tự tạo khoảng cách với thực tại.

Hồn đơn nh- chiếc đảo rời dặm biển

Suốt một đời nh- núi đứng riêng tây

X-a các nhà thơ trung đại luôn v-ơn tới sự hài hoà giữa con ng-ời với thiên nhiên, với cuộc sống Tuy cái Tôi trung đại ch-a có môi tr-ờng xã hội để hoạt động nh-ng nó cũng ch-a có nhu cầu bức bách để tự bộc lộ mình nh- một cá thể tách khỏi xã hội Nay cái Tôi ấy không còn nữa Giờ là thời của cái Tôi cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng Và mỗi cái Tôi tự tìm thấy cho mình một lối thoát, một hoài vọng vào quá khứ, tôn giáo, hay vào những thế giới siêu hình Nh-ng càng tìm càng lạc lối, càng thất vọng, cái Tôi lại càng cô đơn, bế tắc Thế Lữ thoát lên tiên, say s-a du hồn mình và dẫn dắt ng-ời đọc vào cảnh tiên nga, mỹ ngọc vang dội lung linh Nh-ng tất cả chỉ nh- một làn gió lạnh đ-a lại một ít nguôi quên, làm một thứ giải toả cho tâm hồn giữa vòng vây của biết bao lệ sầu ngang trái Tiếng sáo thiên thai dội vào lòng nhà thơ một nỗi buồn hiu hắt của cái Tôi cô đơn : ánh xuân l-ớt cỏ xuân t-ơi

Bên rừng thổi sáo một hai kim đồng

Tiếng đ-a hiu hắt bên lòng

Buồn ơi ! xa vắng mênh mông là buồn…

Không chỉ thi sĩ mà chính ng-ời tiên cũng buồn, cũng mơ màng ngỡ tiếng sáo đang chở lòng buồn của mình dìu dặt lên khơi :

Thiên thai thoảng gió mơ màng

Ngọc Chân buồn t-ởng tiếng lòng xa bay

Tiếng sáo thiên thai vang lên giữa cõi trần, nhưng nỗi buồn của Thế Lữ lại càng sâu sắc hơn Tâm trạng của ông phản ánh nỗi nhớ rừng của con hổ bị giam cầm trong vườn bách thú, thể hiện sự khao khát tự do và nỗi cô đơn trong cuộc sống.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan Đâu những ngày m-a chuyển bốn ph-ơng ngàn

Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới

… Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu

L-u Trọng L- thì ngoảnh mặt lại với mọi sự đau khổ, h-ớng cái nhìn vào một thế giới mơ màng Cái Tôi trong thơ L-u Trọng L- hầu nh- rất ít mối quan hệ với thực tại, mất khả năng nhận thức cuộc sống mà luôn luôn chìm đắm trong thế giới mộng t-ởng Trong thơ L-u Trọng L- tất cả các yếu tố màu sắc, đ-ờng nét, bóng dáng con ng-ời cho đến không gian, thời gian đều không đ-ợc xác định mà bảng lảng trong màn s-ơng của những giấc mộng Bởi vậy cái nhìn mênh mang xa vắng của Thế Lữ đến L-u Trọng L- đã thấm thía ngọt ngào và có sức lan toả lớn :

Buồn hết nửa đời xuân!

Mộng vàng không kịp hái

L-u Trọng L- đi giữa cuộc đời và trong mơ mộng nh- “Con nai vàng ngơ ngác” Nh-ng cuộc đời với những sự thật phũ phàng khiến ông nhiều lúc “Giật mình ta thấy mồ hôi lạnh / Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi” Giật mình - tỉnh mộng nh-ng vẫn không tìm đ-ợc h-ớng đi để rồi sau phút giật mình ấy nhà thơ lại chìm vào nỗi sầu trong mộng t-ởng

Xuân Diệu được xem là tiếng nói tiêu biểu cho tư tưởng cá nhân trong phong trào Thơ mới, thể hiện một cái Tôi trữ tình đầy nỗi buồn, mặc dù ông là người khao khát sự sống nhất trong số các nhà thơ Nỗi buồn của ông hiện lên qua hình ảnh rặng liễu, những buổi chiều tàn, mùa thu và xuân đến Thơ của ông phản ánh nỗi buồn chung của cả một thế hệ, thể hiện những trăn trở về nhân tình thế thái và số phận bi thảm của những thi sĩ nghèo, cùng với bức tranh ngột ngạt của xã hội thời bấy giờ.

Chúng ta nay trong cuộc sống ao tù Đốt điếu thuốc chiêu hồn s-ơng quá khứ

Thi sĩ mang trong lòng nỗi buồn vĩnh cửu, sống trong thế giới riêng của mình Ông thường tự gọi mình là "chàng sầu" và có lúc hóa thân thành những hình ảnh như con nai, chim không tổ, núi non, hay người kỹ nữ, thể hiện sự đa dạng trong tâm trạng và cảm xúc của mình.

Giữa cuộc sống đầy bối rối, hình ảnh “con nai vàng” của Lưu Trọng Lư vẫn tự tin bước đi, để lại âm thanh xào xạc, trong khi “con nai chiều” của Xuân Diệu lại không thể tiến bước, bị mắc kẹt trong “lưới chiều.”

Tôi là con nai bị chiều đánh l-ới

Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối

( Khi chiÒu gi¨ng l-íi)

Thơ ca cách mạng ra đời trong bối cảnh đất nước mất mát, xã hội đầy đau thương, nhưng cái Tôi trong thơ lại hòa quyện với cái Ta của quần chúng lao động Như Tố Hữu từng nói, thơ ca không chỉ là tiếng nói cá nhân mà còn là tiếng nói của tập thể, phản ánh nỗi niềm và khát vọng chung của nhân dân.

Tôi buộc lòng tôi với mọi ng-ời Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Cái Tôi Thơ đang trải qua cảm giác cô đơn và lạc lõng, như được thể hiện qua những câu thơ của Huy Cận với hình ảnh “hồn đơn chiếc nh- đảo rời dặm biển” và cảm xúc “không có chi bè bạn nổi cùng ta”.

Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, nỗi buồn và cô đơn không chỉ xuất hiện trong Thơ mới mà đã âm thầm hiện hữu qua nhiều thế hệ thi sĩ, từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đến Nguyễn Khuyến Mặc dù họ trải qua tâm trạng đau buồn, nhưng không bao giờ để nó làm dao động tinh thần Ngược lại, Thơ mới thể hiện cái Tôi nhỏ bé, lạc lõng giữa cuộc đời, với quan điểm thẩm mỹ cho rằng "Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn." Huy Cận và Chế Lan Viên đã ca ngợi vẻ đẹp của nỗi buồn, cho thấy đau buồn và cô đơn trở thành tâm bệnh chung của chủ nghĩa lãng mạn Các thi nhân như Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, và Hàn Mặc Tử đã góp nhặt nỗi đau nhân thế để tạo nên một bản đại hòa tấu đầy cảm xúc, ngập tràn ảo não và tiếc nuối.

Nỗi cô đơn, buồn nản, chán ch-ờng trong Thơ say và Mây 18

Vũ Hoàng Chương hiện lên với một cái Tôi mạnh mẽ trong không gian rộng lớn của bầu trời Thơ mới Những tác phẩm như "Thơ say" và "Mây" của ông chứa đựng nỗi sầu sâu sắc, phản ánh những thăng trầm và mất mát trong cuộc đời Nỗi buồn trong thơ ông mang âm hưởng riêng biệt, thể hiện tâm hồn đa cảm và tràn đầy yêu thương Những nguyên nhân của nỗi sầu này góp phần tạo nên bản sắc thơ ca độc đáo của Vũ Hoàng Chương.

1.2.1 Cô đơn , buồn nản, chán ch-ờng bởi cảm giác lạc loài

Cái Tôi Thơ mới từ khi ra đời đã rơi vào tình trạng bơ vơ, lạc lõng, khiến các nhà thơ cảm thấy lo sợ và tuyệt vọng Vũ Hoàng Chương thể hiện một khối sầu sâu sắc, gắn liền với cảm hứng cô đơn lạc loài, luôn khao khát khẳng định bản thân Trong cuộc sống, thi sĩ cảm thấy mọi thứ vô nghĩa và không thể hòa nhập với hiện tại, tự biến mình thành kẻ cô đơn, xa lạ với thực tại Tâm trạng này phản ánh sự thiếu vắng ý thức cộng đồng và sự xa lạ trong nhận thức xã hội và thời đại.

Lò chóng ta ®Çu thai nhÇm thÕ kû

Một đôi ng-ời u uất nỗi chơ vơ Đời kiêu bạt không dung hồn giản dị

Thuyền ơi thuyền xin nghé bến hoang sơ

Cảm giác cô đơn và lạc loài khiến nhà thơ cảm thấy xa lạ với cuộc sống, bản thân và quê hương Mặc cảm bị quê hương ruồng bỏ đã làm dấy lên nghi ngờ về nguồn cội của mình, thể hiện qua những câu thơ như “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa” và “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ.” Trong tình trạng không biết bấu víu vào đâu, như chiếc thuyền giữa biển khơi mịt mùng, thi sĩ chỉ còn biết buông xuôi, phó mặc cho số phận Nhà thơ tự tách mình ra khỏi cuộc sống, tìm kiếm một phương xa vô định để trốn chạy khỏi cộng đồng.

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng

Xô về đông hay dạt tới ph-ơng đoài

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng

Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi

Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ tài năng và tâm huyết, nhưng cuộc đời đã cuốn trôi những ước mơ của ông, khiến ông rơi vào trạng thái thất vọng và chán chường Sự bất lực và buông xuôi trong ông có thể là một hình thức nổi loạn để khẳng định cái Tôi cá nhân.

Nh-ng đó cũng là lúc khát vọng sống hoà nhập lại trỗi dậy hơn lúc nào hết

Nhà thơ đau đớn thốt lên :

Ta đã làm chi đời ta x-a?

Ta đã dùng chi đời ta ch-a?

Trước Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát cũng là những nhà nho tài năng với những hoài bão lớn lao trong thời trẻ Nguyễn Công Trứ tự tin vào năng lực của mình và nhận thức rõ về vị trí và sứ mệnh của bản thân trong cuộc sống Tương tự, Cao Bá Quát cũng khao khát dùng tài năng để phò vua, giúp đất nước Tuy nhiên, những hoài bão này cuối cùng dẫn đến sự thất vọng, u uất và bế tắc, khiến họ rơi vào con đường ngông cuồng, phá phách hoặc theo đuổi triết lý hưởng lạc cực đoan, như Nguyễn Công Trứ đã nói “Nhân sinh bất hành lạc, thiên tuế diệc vi thương” và Cao Bá Quát với câu “Nhân sinh quí thích”.

Không ngông cuồng, phá phách nh- Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, Vũ

Vũ Hoàng Chương thể hiện một lời tự bạch trong thơ, phản ánh nỗi đau của một cá nhân tài năng nhưng không có cơ hội để thể hiện Trong tác phẩm của ông, ta thấy cái Tôi tương đồng với Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, nhưng cái Tôi của Vũ Hoàng Chương lại lạc lõng và bơ vơ hơn Chính vì vậy, nỗi sầu u uất của ông trở nên chồng chất và sừng sững hơn giữa cuộc đời.

Cánh r-ợu thu gần vạn dậm khơi

Nẻo say h- thực bóng muôn đời

Ai đem xáo trộn sầu kim cổ?

Trăng n-ớc Đà Giang mộng Liêu Trai

Cùng với thơ của Thế Lữ, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc

Tử, Vũ Hoàng Ch-ơng đóng góp những vần thơ thấm đẫm những giọt n-ớc mắt cô đơn, sầu tủi :

Cha mẹ mất đi lạnh h-ơng khói,

Một chị một em sầu má hồng,

Khuya sớm cô đơn giọt lệ tủi, ấu thơ đã trêu gì hoá công?

Vũ Hoàng Chương, như một chú chim non lạc mẹ, kêu gào và cầu cứu trong sự tuyệt vọng giữa không gian rộng lớn và lòng người thờ ơ Nhà thơ chỉ biết nương tựa vào chính mình, nhưng điều đó trở nên khó khăn khi anh nghi ngờ về sự xuất thân và tồn tại của bản thân Sự giằng co giữa cô đơn lạc lõng và ước muốn hòa nhập với cuộc đời đã đẩy thi sĩ vào tâm trạng bế tắc Tâm trạng này được thể hiện rõ nét trong hai tác phẩm "Đời tàn ngõ hẹp" và "Tuý hậu cuồng ngâm".

Bài thơ "Đời tàn ngõ hẹp" mở đầu bằng nỗi buồn chán của nhân vật trữ tình, người sau một giấc mộng dài bỗng tỉnh dậy và nhận ra thời gian đã trôi qua, khi ngày đã ngả sang chiều, cuộc đời cũng dần khép lại.

Gối vải mộng phong hầu

Vàng son mờ gác xép

Chiều tàn trong ngõ hẹp

Đời hiu hiu xế tà

Sự kết hợp giữa hai mô típ quen thuộc “bầu trời mưa” và “chiều hiu hiu” tạo ra một không gian tĩnh lặng, nơi thời gian như ngừng trôi Hình ảnh trong bài thơ "Đời tàn ngõ hẹp" gợi nhớ đến bầu trời sũng nước, mang đến cảm giác não nề và cô đơn, khiến người đọc lắng nghe tiếng thở dài sâu lắng của thi sĩ.

Veclen đã diễn tả cảm xúc sâu sắc qua câu thơ: “M-a rơi trong tim tôi, mưa rơi trên thành phố”, thể hiện một cuộc đời đầy giăng mắc, lạnh lẽo và cô đơn Tương tự, Huy Cận cũng khắc họa nỗi nhớ trong thơ của mình với hình ảnh “Đêm m-a nằm nhớ không gian”, gợi lên cảm giác trống vắng và sự tìm kiếm những kỷ niệm đã qua.

Lòng run thêm lạnh nỗi lòng bao la…

Nguyễn Bính nghe m-a rơi mà khơi sâu nỗi sầu buồn cô quạnh :

M-a mãi, m-a hoài, m-a bứt rứt Đêm dài dằng dặc, đêm bao la …

Còn Vũ Hoàng Ch-ơng nghe m-a rơi mà buồn cả cuộc đời :

Chiều m-a rồi đêm m-a ; Đời tàn trong ngõ hẹp

Những buổi chiều buồn là mô típ rất quen thuộc trong thơ ca truyền thống Ta đã gặp một chiều tê tái trong ca dao :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều hay một chiều buồn man mác trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan :

B-ớc tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen lá đá chen hoa

Lom khom d-ới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Các thi sĩ Thơ mới thường khai thác mô típ chiều tà, điển hình là cảm xúc “hiu hiu khẽ buồn” của Xuân Diệu và sự cô tịch trong chiều của Huy Cận.

Chiều lại xuống ở trên lầu cô tịch

Chờ thi nhân đã chết tự ngàn x-a

Chiều trong "Đời tàn ngõ hẹp" mang đến cảm giác u ám và bức bối trong không gian chật hẹp, phản ánh nỗi đau và sự tiếc nuối qua tiếng than thở: "Ôi! Ta đã làm chi đời ta?"

Ai đã làm chi lòng ta

Cho đời tàn tạ lòng băng giá

S-ơng mong manh quạnh chớm thu già Đây không phải là buổi chiều buồn duy nhất trong Thơ say và Mây mà những chiều nh- thế cứ trở đi trở lại trong ông nh- một nỗi ám ảnh :

Nhìn quanh : chiều xám với tha ma!

Vắng tanh! Ôi chiều, nơi tha ma !

Nh-ng ®©u ®©y ai khãc gÇn hay xa

Mà thảm thiết ? Hay thu vừa nức nở ?

Trong cái không khí đang sợ ấy thi sĩ đã tạo nên một khúc nhạc buồn tê tái đáng th-ơng:

ChËp chên kim èc giai nh©n…

Khoa danh trên gối rụng tàn theo !

Nao nao đàn sáo phai dần

Nửa gối thê nhi lá rụng vèo !

Cùng với tác phẩm "Đời tàn ngõ hẹp", "Tuý hậu cuồng ngâm" cũng khắc họa tâm trạng cô đơn, lạc lõng và bế tắc của nhân vật Vũ Hoàng Chương Tuy nhiên, trong khi "Đời tàn ngõ hẹp" thể hiện số phận cá nhân, "Tuý hậu cuồng ngâm" mở rộng cảm xúc ấy thành những suy tư về con người nói chung Thi sĩ đã đặt con người giữa hai thế giới hư vô và thực tại để tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời.

Nhớ thủa x-a ch-a có ta hề đ-ờng đi thênh thênh

Kịp tới khi có ta hề chông gai mông mênh

Cuồng vọng cả mà thôi, bốn ph-ơng hề v-ớng mắc

Ba m-ơi năm trên vai hề trống không bình sinh

Thi sĩ khao khát đi trên con đường giao thoa giữa mộng và thực, nhưng nhận ra rằng đó chỉ là cuồng vọng Hai con đường này đại diện cho hai thế giới hoàn toàn khác biệt, một bên là ước mơ rộng mở, bên kia là thực tại chông gai Mộng và thực không bao giờ có thể hòa quyện, luôn mang lại nỗi dày vò và chán chường cho Vũ Hoàng Chương Dù mong muốn có sự hòa hợp và tự do như những đám mây hay cánh chim bay lượn trên bầu trời, nhưng cuối cùng, đó vẫn chỉ là một ảo tưởng không thể đạt được.

Niềm u uất dâng cao hề tháng ngày trôi xuôi?

Há vì cơm áo chẳng no lành?

Há vì đời không ai mắt xanh?

Tìm đến thú say 35

Vũ Hoàng Chương, trong nỗi buồn và sự bế tắc, đã rời bỏ cuộc sống thực tại để tìm đến một thế giới đẹp đẽ, nơi con người được giải thoát và có thể dễ dàng chuyển đổi không gian Đây là thế giới của mộng ước và lý tưởng, một không gian riêng trong tâm hồn thi sĩ Để đạt được điều này, ông đã tìm đến những thú say, giúp giải thoát tâm hồn khỏi thực tại Trong trạng thái say, thi sĩ có thể đắm mình trong mơ mộng, sống trong thế giới ảo diệu, một thế giới tuyệt đối, hoàn hảo và lý tưởng.

Xin dốc hết nồng cay cho đến cặn

Uống cho mê và uống nữa cho điên

Rồi dang tay theo chậm gót Nàng Men

Về tắm ở suối Mơ, nguồn Tuyệt đối

Bài "Lý tưởng" trong tập "Thơ Say" của Vũ Hoàng Chương thể hiện một tuyên ngôn nghệ thuật độc đáo, khác biệt so với các nhà thơ cùng thời, khi ông chọn "say" làm phương châm sống Qua các tác phẩm như "Thơ Say" và "Mây", ông đã thực hiện cuộc hành trình khám phá thế giới qua "khói, rượu, say, tình, mộng", tìm kiếm một không gian "Toàn Hương và Tận Mỹ" Sự say sưa này giúp ông thoát ly thực tại một cách tuyệt đối, tạo nên nét cá biệt và độc đáo riêng mà không phải nhà thơ nào cũng dám theo đuổi Hoài Thanh và Hoài Chân trong cuốn "Thi nhân Việt Nam" đã nhận xét rằng Vũ Hoàng Chương muốn nối nghiệp những thi hào xưa của Đông Á với nhiều hình thức say khác nhau, từ say rượu, say đàn đến say thuốc phiện và say nhảy đầm, nhưng tất cả đều được nuôi dưỡng bởi một niềm say lớn hơn: say thơ.

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương thể hiện sự say mê mãnh liệt với nhiều điều trong cuộc sống, từ rượu cho đến những cảm xúc sâu sắc Ông đắm chìm trong từng thứ say, sống hết mình và thể hiện tâm trạng "ngả nghiêng", "điên rồ xác thịt" khi miêu tả thú say rượu của mình.

Cổ ch-a khô, đầu ch-a nặng, mắt ch-a hoa ,

Tay mềm mại b-ớc còn ch-a chếnh choáng

Ch-a cuối xứ Mê ly, ch-a cùng thời Phóng đãng

Còn ch-a say, hồn khát vẫn thèm men

Vũ Hoàng Chương thể hiện sự điên đảo và chán chường trong thơ của mình, phản ánh nỗi lòng ngao ngán và bi quan Tác phẩm "Say đi em" là minh chứng tiêu biểu cho cảm hứng này, mang đến cho người đọc cảm giác lâng lâng, chếnh choáng như hơi men Cảm giác ấy được tăng cường bởi ánh đèn màu ảo diệu và những giai điệu, âm thanh nhiệt huyết của phương Tây, tạo nên một không gian cuồng nhiệt, mời gọi với âm ba gợn gợn và ánh sáng phai dần.

Bốn t-ờng g-ơng điên đảo bóng giai nhân

Lui đôi vai, tiến đôi chân;

Riết đôi tay, ngả đôi thân,

Sàn gỗ trơn chập chờn nh- biển gió

Lảo đảo, quay cuồng và lập loè ánh sáng tạo nên cảm giác say mới mẻ Dưới tác động của các yếu tố như nhạc, ánh sáng và vũ điệu, Vũ Hoàng Chương đã khám phá tận cùng cảm xúc của sự cuồng say trong điệu nhảy, giúp thả hồn vào những ảo giác mờ ảo và tiếng nhạc du dương trong một không gian điên đảo.

Say cho lơi lả ánh đèn

Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

R-ợu, r-ợu nữa và quên, quên hết !

Bài thơ mang đến một sức gợi cảm mãnh liệt, khiến người đọc cảm nhận được sự lâng lâng, chếnh choáng qua ánh đèn lơi lả và âm thanh réo rắt Trong khoảnh khắc ấy, rượu, thể xác và linh hồn hòa quyện thành một, tạo ra cảm giác tuyệt vời, huyền ảo và bồng bềnh như trong mộng.

Hồn ngả lâu rồi nh-ng chân còn dẻo

Lòng chót nghiêng mà b-ớc vẫn du d-ơng

Lòng nghiêng tràn hết yêu đ-ơng

B-ớc chân còn nhịp Nghê th-ờng lẳng lơ

Khi men rượu dâng trào, cơ thể trở nên nhịp nhàng và uyển chuyển, cho đến khi hồn và xác hòa quyện trong trạng thái say Lúc này, thị giác trở nên mờ ảo và các giác quan tê liệt, khiến con người không còn phân biệt được màu sắc, như "không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ." Sự hòa hợp giữa thể xác và linh hồn đạt đến đỉnh cao, mọi thứ trở thành “hư ảnh.”

Gian phòng không đứng vững,

Có ai ghì h- ảnh sát kề môi ?

Vũ Hoàng Chương không mượn rượu để giải sầu, mà ông muốn hòa mình vào cốc rượu đắng để tê liệt các giác quan, quên đi nỗi đau xót và thống khổ trong tâm trí Điều này cho thấy ông không say để vui vẻ, mà để trải nghiệm cảm xúc sâu sắc hơn.

Vũ Hoàng Chương thể hiện nỗi sầu, tuyệt vọng và ngao ngán qua việc tìm kiếm sự say sưa để quên đi cuộc đời Trong phong trào thơ mới, các tác giả như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư và Chế Lan Viên cũng có khát vọng say sưa, nhưng cảm xúc của họ nhẹ nhàng và bình tĩnh hơn so với sự khao khát mãnh liệt của Vũ Hoàng Chương.

Thơ say của Vũ Hoàng Chương thể hiện sự ngập ngừng, bối rối và chưa đạt đến mức độ điên cuồng như trong những tác phẩm khác Điểm nổi bật trong thơ của ông chính là sự tinh tế trong cảm xúc và tâm trạng, tạo nên một phong cách riêng biệt.

Khi say, con người thường dễ dàng bộc lộ cảm xúc thật của mình Chính vì vậy, Vũ Hoàng Chương không ngần ngại thể hiện tất cả những mong muốn của bản thân, đặc biệt là khao khát được quên đi mọi thứ, với câu nói nổi tiếng: “Uống cho mê và uống nữa cho điên.”

X-a nay, những ng-ời thành thực luôn mở hết lòng mình và th-ờng bị thói đời c-ời giễu, khinh bỉ Giá mà Vũ Hoàng Ch-ơng khôn ngoan hơn, thủ đoạn hơn một chút mà đừng đem ra phơi bày tr-ớc bàn dân thiên hạ những bí mật của đời mình thì chắc chắn ng-ời ta sẽ nhìn ông với một con mắt khác Nói nh- cái việc nhảy đầm, việc tìm quên lãng trong những thú vui giải trí thì có gì là lạ? Hồi ấy Hà Nội đâu còn giữ đ-ợc nét cổ x-a mà đã rất tân thời với điệu điệu valse, tango trong ánh đèn biếc , ánh đèn hồng Vũ Hoàng Ch-ơng đã mang sắc màu ấy, nhịp điệu ấy vào thơ mình và thể hiện nó bằng tất cả sự say mê đắm đuối Thế mà ng-ời ta lại coi ông là truỵ lạc, là khêu gợi mà quên rằng đằng sau nó là cả một nỗi niềm sâu lắng Phải đọc đến những vần thơ cuối bài ta mới nhận ra nỗi đau đớn đến tê dại của một ng-ời nghệ sĩ tài ba :

Nh-ng em ơi Đất trời nghiêng ngửa

Mà tr-ớc mắt thành Sầu ch-a sụp đổ Đất trời nghiêng ngửa

Thành Sầu không sụp đổ em ơi !

Vũ Hoàng Chương khao khát rượu để quên đi mọi thứ Ông mong muốn chìm đắm trong men say, để cảm giác hòa tan hoàn toàn, không còn sự nhận thức nào nữa.

Trong bài thơ "Cuồng", hình ảnh "điên đảo thời gian" và "lẫn lộn không gian" thể hiện sự hỗn loạn trong tâm hồn khi đối diện với nỗi sầu Dù có "say không còn biết chi đời", nhà thơ vẫn không thể quên đi "thành Sầu" trong lòng Cảm xúc say rượu không chỉ mang đến sự quên lãng mà còn khắc sâu nỗi buồn Thơ Vũ Hoàng Chương, mặc dù mang âm hưởng hiện đại của Thơ mới, vẫn giữ được dấu ấn của thơ truyền thống, đặc biệt là trong những bài thơ về thú say, nơi nhà thơ dường như muốn nối tiếp bước chân của Lý Bạch.

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà…để trở thành một

“Trích tiên“ với cái say thanh cao, tài hoa :

Bữa tiệc phàm phu, ai đáng mặt

Nối bài dâng r-ợu thửa x-a đâu

Trích tiên đã khuất đời ai kẻ

Tìm thấy trong men ý nhiệm màu?

Thơ Vũ Hoàng Chương thể hiện sự gần gũi với triết lý của đạo giáo, đặc biệt là những ảnh hưởng từ Lý Bạch Ông là một trong những nhà thơ cổ điển nổi bật, mang trong mình vẻ đẹp kiêu hãnh và tâm hồn tráng lệ.

R-ợu say múa bút thơ thành

Nghênh ngang chuyển bể rung non chợt c-ời

Trốn vào tình yêu, tìm thú vui thân xác 48

Phong trào Thơ mới thể hiện rõ xu hướng thoát ly thực tại qua chủ đề tình yêu Xuân Diệu đã từng bày tỏ rằng không khí trong văn chương tràn đầy hình ảnh của những chàng trai và cô gái, đến mức nếu không biết thở, họ sẽ bị ngạt thở.

Vũ Hoàng Ch-ơng có một cách tiếp cận tình yêu độc đáo, coi đó chỉ là phương tiện để tìm đến một thế giới hoàn hảo, không phải là một "thế giới" riêng như tình yêu của Xuân Diệu Ông chịu đựng những mất mát lớn trong tình yêu, điều này khiến thơ tình của ông thường mang nỗi buồn, như trong bài "M-ời hai tháng sáu".

U tình thì cũng là thứ tình yêu một chiều mơ hồ nh- trong Tình si hoặc nh- làn gió hững hờ thoảng qua nh- trong bài Tạm ghé thuyền

Nguyễn Du đã khắc họa tình yêu với bản sắc phương Đông sâu sắc và kín đáo qua những câu thơ như "chập chờn cơn tỉnh cơn mê" và "bâng khuâng nh- tỉnh nh- say một mình" Trong khi đó, Thơ mới lại mang đến một hình ảnh tình yêu mang bản sắc phương Tây, thể hiện sự tha thiết, chân thành và tinh tế.

Ta muốn riết mây đ-a và gió l-ợn

Ta muốn say cánh b-ớm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non n-ớc, và cây, và cỏ rạng, Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng Cho no nê thanh sắc của thời t-ơi

Nh-ng ở Vũ Hoàng Ch-ơng thứ tình yêu có tính chất bản thể nh- vậy rất hiếm hoi mà chỉ là:

Chập chờn bến thực hay nguồn mơ

Hay chính bâng khuâng là ái tình

Cảm giác "chập chờn", "bâng khuâng" thể hiện sự hòa nhập giữa mơ và thực, dẫn đến tình yêu với nhiều sắc thái khác nhau Từ sự bâng khuâng trong chớm yêu, yêu thầm cho đến nỗi buồn khi chia ly, tình yêu dường như đã bị nhìn nhận một cách tầm thường, chỉ tập trung vào khía cạnh thể xác, thay vì sự trong trắng và mơ mộng như trong thơ Huy Cận hay sự say đắm của Xuân Diệu.

Trong tác phẩm "Thơ say" và "Mây", thi sĩ thường không trở về với thực tại, mà vươn tới một tình yêu cao siêu hơn, vượt lên trên những ràng buộc trần thế Họ nhìn nhận tình yêu như một lạc thú, một cách để thoát khỏi cuộc sống tầm thường và những bùn nhơ của hạ giới Do đó, những miêu tả say sưa và thơ mộng của thi sĩ đôi khi bị xem là sự sa ngã, truỵ lạc.

Nặng chĩu hai vai, Nàng cố g-ợng

Thắt vòng tay ghì riết l-ng ta Những luồng run chạy khắp thịt da ngà

Run vì sợ hay vì ngây ngất

Trong Thơ mới, Xuân Diệu thể hiện tình yêu qua những vần thơ đậm chất nhục thể, tập trung vào cảm xúc mãnh liệt và sự khám phá những cảm giác mới mẻ Những câu thơ của ông không chỉ miêu tả tình yêu mà còn khắc họa rõ nét hành trình tìm kiếm những trải nghiệm tình cảm sâu sắc và đầy cuốn hút.

Tháng Giêng mang đến những cảm xúc ngọt ngào với hình ảnh cặp môi gần gũi, như một lời mời gọi say đắm Tình yêu được thể hiện qua những câu thơ đầy âu yếm và sự chạm khẽ, tạo nên những khoảnh khắc lãng mạn và gắn kết Những dòng thơ ấy không chỉ là ngôn từ, mà còn là sự hòa quyện của cảm xúc và thân thể, mang đến một trải nghiệm tình yêu sâu sắc.

Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực

Hãy trộn nhau đôi mái tóc gắn dài

Xuân Diệu đến với tình yêu để khám phá ý nghĩa sâu sắc của nó và thể hiện quan niệm sống của mình Với niềm khao khát sự sống mãnh liệt, ông đã mang đến cho thơ ca những sắc thái sôi nổi, cuồng nhiệt mang phong cách phương Tây, đồng thời làm sống động nền thơ mới bằng triết lý hưởng thụ của mình.

Mau với chứ vội vàng lên với chứ

Em em ơi, tình non sắp già rồi

Xuân Diệu khuyến khích chúng ta sống một cuộc đời đầy ý nghĩa và đam mê, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại Dưới ảnh hưởng của triết lý này, Vũ Hoàng Chương cũng kêu gọi mọi người sống hết mình với những giây phút quý giá trong cuộc sống.

Hãy buông lại gần đây làn tóc rối

Sát gần đây, gần nữa cặp môi điên hay: Say ®i em! Say ®i em!

Say cho lơi lả ánh đèn, Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt R-ợu, r-ợu nữa và quên, quên hết

Men và khói chỉ là phương tiện trong cuộc phiêu lưu tìm đến thế giới mộng tưởng, và thi sĩ đã thất bại trong hành trình này Trong tình yêu, thi sĩ cũng gặp phải tình trạng tương tự Tại thời điểm Tối tân hôn và Động phòng hoa chúc, khi hạnh phúc tình yêu đạt tới đỉnh cao, thi sĩ không tìm thấy niềm khoái lạc thực sự mà chỉ rơi vào trạng thái phân tâm Tâm hồn của hai đối tượng không hòa hợp, mà chỉ lắng nghe và tìm kiếm sự trở về của vũ trụ xa xăm.

Ngực sát ngực, môi kề môi

Nàng cùng ta nhìn nhau c-ời chẳng nói Ôm vai nhau cùng lắng tiếng xa xôi

Khi "Đờn tiên thôi gọi/ Âm thầm xa bặt tiếng tiêu", cuộc sống trần gian trở nên vô nghĩa, chỉ còn lại sự ngao ngán và chán chường Điều này phản ánh tâm trạng của một con người muốn trốn chạy khỏi hiện thực nhưng vẫn không thể từ bỏ những lạc thú của đời thường.

Thôi hết nhé! Thoả đi, niềm rạo rực!

Từ cung trăng rơi ngã xuống trần gian

Ta sắp uống bùn nhơ và sự thực

Sẽ mai đây dầy xéo giày xéo giấc mơ tàn

Ngược lại với Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu luôn tìm kiếm vẻ đẹp huyền diệu ngay trong cuộc sống trần gian Ông vượt lên trên những cảm xúc thể xác thông thường để hướng tới lý tưởng tình yêu, đó là sự hòa hợp tuyệt vời giữa tâm linh và thể xác Xuân Diệu thể hiện một triết lý về tình yêu mà cả Vũ Hoàng Chương và Hàn Mặc Tử chưa thể đạt tới Do đó, ông không bao giờ dừng lại ở khoái cảm bản năng; mỗi bài thơ của ông đều thâu tóm toàn bộ tư tưởng về tình yêu và mở ra một tầng nghĩa mới.

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

Say ng-ời nh- r-ợu tối tân hôn Nh- h-ơng thấm tận qua s-ơng tuỷ Âm điệu thần tiên thấm tận hồn

Vũ Hoàng Chương không cảm nhận được "âm điệu thần tiên thấm tận hồn" mà chỉ thấy sự thờ ơ của cảm giác tê liệt Thi sĩ coi yêu như thuộc về phần xác, trong khi say mê và mộng mơ thuộc về phần hồn, dẫn đến sự thiếu hài hòa giữa tâm hồn và thể xác Với trạng thái tinh thần này, niềm hưởng thụ chưa đạt đến đỉnh cao và tâm hồn vẫn chưa được giải thoát Điều này cho thấy khoái lạc của thân xác không phải là mục tiêu tối thượng trong cuộc sống, mà chỉ là một lối thoát tạm thời trong hành trình tìm kiếm sự giải thoát Vũ Hoàng Chương tìm cách trốn chạy qua tình yêu, nhưng tình yêu ấy lại mang tính nhục thể và không có điểm tựa vững vàng, khiến ông phải rời xa cuộc đời.

Nguyễn Bính, khác với Vũ Hoàng Chương và Xuân Diệu, không chỉ ca ngợi tình yêu hưởng lạc mà còn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực Trong thơ ông, cái Tôi trữ tình và cái Tôi đời thường luôn thống nhất, thể hiện sự hòa quyện giữa tình yêu và cuộc sống Ông ý thức không để những ham muốn tình ái dẫn đến trụy lạc, mà hướng tới hạnh phúc giản dị, như "một gian nhà nhỏ đi về có nhau", biểu trưng cho mái ấm gia đình Nguyễn Bính là nhà thơ duy nhất trong Thơ mới thể hiện khát vọng hạnh phúc viên mãn của hôn nhân, khác với quan niệm lãng mạn coi tình yêu và hôn nhân là hai chuyện riêng biệt Thơ ông mang đến một cái nhìn tích cực về tình yêu, nhấn mạnh giá trị của sự gắn bó và hạnh phúc giản dị trong cuộc sống.

Cuộc đời cũng đìu hiu nh- dặm khách

Mà tình yêu nh- quán trọ ven đ-ờng Mái tranh tàng đỡ rét một đêm s-ơng

Vò n-ớc lã mát xoàng đợi buổi nắng, trong thơ Xuân Diệu, quan niệm về tình yêu được thể hiện một cách mới mẻ: sự chung thuỷ không phải là lý tưởng của tình yêu Hạnh phúc từ ái tình mang lại không nằm ở sự thủy chung mà là sự hòa hợp tuyệt vời giữa hai cá thể về cảm xúc và cảm giác Tình yêu, theo ông, chỉ mãi mãi là hoa chứ không bao giờ kết trái, phản ánh triết lý chung của chủ nghĩa lãng mạn.

Hình ảnh 72

Hình ảnh là một trong những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ ca, giúp cụ thể hóa cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ Một nhà thơ tài năng thường tạo ra những hình ảnh độc đáo và bất ngờ Xuân Diệu đã khẳng định rằng hình ảnh không chỉ tác động đến thị giác mà còn đến nhận thức và trí tuệ, thể hiện tình cảm và tư tưởng một cách mạnh mẽ Để tạo ra hình ảnh trong thơ, người ta thường sử dụng nhiều biện pháp tu từ khác nhau Trong thời kỳ trung đại, các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Hồ Xuân Hương và Nguyễn Du đã vận dụng các biện pháp tu từ để tăng cường giá trị biểu cảm cho ngôn ngữ thơ, mặc dù họ vẫn bị giới hạn bởi quan niệm “Văn dĩ tải đạo” và “Thi dĩ ngôn chí”.

Thơ mới, chịu ảnh hưởng từ thơ ca Pháp, đã được các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, và Hàn Mặc Tử phát triển với lối nói giàu hình tượng và cảm xúc mạnh mẽ Mỗi thi sĩ mang đến một cách cảm nhận và ý nghĩa riêng, thể hiện qua các biện pháp tu từ như nhân hoá, ẩn dụ, và so sánh, tạo nên đặc trưng phong cách độc đáo của từng người.

Phong cách nghệ thuật của Vũ Hoàng Ch-ơng trong hai tập thơ "Thơ say" và "Mây" nổi bật qua việc sử dụng các biện pháp tu từ và ngữ nghĩa sáng tạo Thi sĩ đã xây dựng hai thế giới đối lập, phản ánh cái nhìn nhân sinh và khát khao vươn tới cái đẹp lý tưởng Sự so sánh giữa hai thế giới xấu và đẹp, trần thế và siêu trần được thể hiện rõ ràng, với hình ảnh lung linh và tuyệt đối ở trên, còn ở dưới là sự vô nghĩa của phàm trần Qua đó, Vũ Hoàng Ch-ơng nhấn mạnh sự khác biệt giữa cái Tôi và cái Ta, tâm hồn và thể xác, trần gian và th-ợng giới, mơ và thực.

Ngoài việc sử dụng so sánh để đối lập hai thế giới “bến thực“ và

Vũ Hoàng Chương không thường xuyên sử dụng hình ảnh so sánh, nhưng mỗi phép so sánh của ông đều mang đến một nét độc đáo và khác lạ.

Là ánh trăng non chớm độ rằm

Xuân là duyên nụ tuổi m-ời lăm

Mến th-ơng không ngỏ Chàng nh- Thiếp

Hồn khoá then trinh lặng nhớ thầm

Trong thơ ca truyền thống, người ta thường sử dụng những hình ảnh cụ thể để dễ dàng diễn tả cảm xúc, ví dụ như câu so sánh "cổ tay em trắng như ngà".

Mùa xuân được ví như ánh trăng non, mang trong mình vẻ đẹp dịu dàng và quyến rũ, đồng thời cũng chứa đựng những bí ẩn cần được khám phá Vũ Hoàng Chương đã thể hiện khả năng tưởng tượng phong phú qua việc lựa chọn ngôn từ độc đáo, tạo ra những hình ảnh mới lạ, làm nổi bật sự trừu tượng của mùa xuân.

Nhà thơ khéo léo liên kết mùa xuân với những cảm xúc mới mẻ của tình yêu, tạo nên sự gần gũi và đáng yêu Câu thơ "Hồn khoá then trinh lặng nhớ thầm" thể hiện sự sâu sắc trong tình cảm, mang đến một không khí lãng mạn và tươi mới cho bài thơ.

Trong thơ ca lãng mạn Baudelaire là ng-ời khởi x-ớng và thực hiện thuyết

T-ơng giao nói lên mối giao hoà, t-ơng ứng giữa âm thanh, màu sắc và h-ơng thơm Các nhà Thơ mới của chúng ta chịu ảnh h-ởng rất nhiều ở thi sĩ Pháp này Trong thơ Xuân Diệu tiếng đàn và ánh trăng hoà quyện vào nhau, không phân biệt:

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh

Trăng th-ơng trăng nhớ, hỡi trăng ngần! Đàn buồn, đàn lặng ôi đàn chậm

Mỗi giọt rơi tàn nh- lệ ngân

Trong thơ Thế Lữ sự t-ơng ứng ấy lại mang nét buồn ảm đạm, day dứt:

Lắng mà nghe ai nẩy khúc sầu th-ơng

Ngón tay rung rung động cả đêms-ơng

Khiến trăng n-ớc đắm say hồn ly biệt

Khiến trong gió ng-ng đọng niềm thống thiết

Trong thơ Vũ Hoàng Chương, sự kết nối giữa các hình ảnh và âm thanh được thể hiện một cách phong phú, tạo nên cảm giác nhẹ nhàng và quyến rũ Sự hòa quyện giữa màu sắc và âm thanh mang đến một nét đẹp tinh tế, nhưng cũng phảng phất nỗi buồn chán nản.

Lời nói nh- làn h-ơng thoảng qua Sóng trăng gờn gợn chút âm thừa

Nếu so sánh mang đến cho thơ Vũ Hoàng Ch-ơng những tr-ờng liên t-ởng mới thì ẩn dụ cũng vậy, rất riêng, rất sáng tạo:

Ta từ biệt em, rời xa tình yêu, để lại những kỷ niệm sau màn rèm Giữa không gian bao la, một chiếc thuyền lạc lối giữa đêm tối.

Trong ca dao dân ca và thơ ca truyền thống hình ảnh thuyền - bến, thuyền - n-ớc đ-ợc nhắc đến để biểu đạt các sắc thái tình yêu đôi lứa:

ThuyÒn vÒ cã nhí bÕn ch¨ng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền hay Mét thuyÒn, mét bÕn, mét d©y

Ngọt bùi cùng h-ởng, đắng cay chịu cùng

Trong khổ thơ của Vũ Hoàng Chương, hình ảnh chiếc thuyền không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tình yêu, mà còn phản ánh trạng thái lạc lõng và bế tắc của con người Nhiều bài thơ khác cũng sử dụng hình ảnh thuyền để thể hiện những cảm xúc sâu sắc và tâm trạng phức tạp của nhân vật.

Vũ Hoàng Ch-ơng nhắc tới nh- ẩn dụ về tâm hồn bất ổn, quẩn quanh bế tắc

Trên lớp sóng mây viền ánh sáng

Con thuyền trăng bạc lững lờ trôi Đêm nay bánh lái trầm h-ơng lỏng Không biết ai trêu tháo trộm rồi

Hình ảnh Cánh buồm trắng lững lờ trôi xuôi theo dòng n-ớc cũng gợi liên t-ởng tới một tình yêu trắc trở, không bền vững :

Ta đâu còn giữ đ-ợc Lòng em yêu nh- x-a

Em ơi! Cánh buồm trắng Sắp biến trong đêm mờ!

Có lúc hình ảnh con thuyền trong Thơ say lại hiện lên rất duyên gợi cảm:

Long lanh giọt lệ tuyết Lặng lẽ trôi theo thuyền Say s-a hàng lá dang tay đón Hạt ngọc quỳnh đâu lạc động tiên

E thẹn sau thuyền sao lẩn trốn Ôm hờ lá vẫn rõi theo bên …

Khổ thơ vẽ nên một bức tranh huyền ảo và lắng đọng, nơi các yếu tố như thuyền, lá, sóng và sao nhẹ nhàng chuyển động, tạo cảm giác lâng lâng, xao xuyến Cảnh vật như hòa quyện vào tâm hồn con người, mang đến sự trầm lắng và ngân nga Hình ảnh lá - thuyền và sao - thuyền là những sáng tạo độc đáo của Vũ Hoàng Chương.

Thuyền lướt trên mặt sóng, đẹp đến nỗi khiến sao e thẹn và lá ôm hờ, bẽ bàng nhưng vẫn si tình theo dõi Tuy nhiên, thuyền dường như quá vô tình, còn lá thì nhỏ bé, mong manh chỉ biết ngậm ngùi ôm mối tình si Nhà thơ tài tình miêu tả chiếc lá rơi nhẹ nhàng, chầm chậm đậu trên mặt nước im lìm kín đáo.

Rồng Kín g-ơng hồ mang đến cảm xúc xao xuyến và buồn bã, thể hiện mối tình si một cách kín đáo qua hình ảnh thuyền lặng lẽ trôi Vũ Hoàng Chương đã khéo léo sử dụng những quan niệm thẩm mỹ xưa về cái đẹp, như liễu, mun, mắt ngọc và môi hồng, để miêu tả vẻ đẹp của người con gái Thơ của ông không chỉ đơn thuần là những hình ảnh quen thuộc mà còn chứa đựng hồn sắc quyến rũ, tạo nên sức hút đặc biệt cho tác phẩm.

Liễu xinh xinh thon dáng, Liễu cong đôi nét mày

Bồng bềnh mun chảy óng l-ng thon

Gờn gợn dòng thu mắt ngọc tuyền

Môi trĩu mùa nho ngọt ý th-ơng

Trong thơ Vũ Hoàng Chương, các biện pháp tu từ không chỉ tạo hình mà còn mang lại khả năng biểu cảm mạnh mẽ, góp phần tạo nên những sắc thái độc đáo cho tác phẩm của ông.

Thể thơ 80

Nhận xét về Thơ mới nhà nghiên cứu phê bình Phan Cự Đệ cho rằng:

Phong trào Thơ mới là một sự đánh giá lại các thể thơ truyền thống, tiếp thu những giá trị tốt đẹp của di sản văn học cũ và sáng tạo từ thơ ca nước ngoài, đặc biệt là thơ Pháp Qua các tác giả, ta nhận thấy Thơ mới vẫn giữ lại nhiều thể thơ truyền thống như thất ngôn, ngũ ngôn và lục bát, nhưng với sự mềm mại và uyển chuyển hơn so với thơ cổ phong Sự tìm tòi và sáng tạo của Thơ mới còn được thể hiện qua việc sử dụng nhiều thể thơ tự do và hợp thể, giúp cho tình cảm của cái Tôi trữ tình được bộc lộ một cách mạnh mẽ và sâu sắc.

Tập thơ "Thơ say" và "Mây" của Vũ Hoàng Chương gồm tổng cộng 57 bài thơ, trong đó "Thơ say" có 31 bài và "Mây" có 26 bài Các tác phẩm được sáng tác bằng sáu thể loại thơ đa dạng: ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, bát ngôn, hợp thể và thể thơ tự do.

Vũ Hoàng Chương chủ yếu sáng tác thơ thất ngôn, với 30 bài, cho thấy ông vẫn trân trọng thể loại thơ truyền thống Tuy nhiên, ông không viết bài tứ tuyệt nào và chỉ sử dụng thể thất ngôn bát cú một cách khiêm tốn (10/30 bài) Thơ thất ngôn của ông thường có nhiều khổ, mỗi khổ bốn câu, như trong các bài Đà Giang, Dịu nhẹ, Mùa thu đã về, thể hiện sự cách tân lớn trong thể thất ngôn Để biểu đạt tình cảm linh hoạt, ông còn sử dụng nhiều bài thơ tự do như Say đi em, Hờn dỗi, Tối tân hôn, Tiểu đăng khoa Thể thơ tự do này không giới hạn số chữ trong câu và số câu, thường chia thành nhiều đoạn dài ngắn khác nhau, đánh dấu một bước đột phá trong phong trào Thơ mới và đổi mới thi pháp thơ ca.

Thể thơ tám chữ cũng là một sáng tạo của phong trào Thơ mới và đ-ợc

Vũ Hoàng Chương thể hiện cảm xúc của mình một cách tự do và phong phú trong các tác phẩm như "Lý tưởng," "Quên," "Phương xa," "Động phòng hoa chúc," và "Chậm quá rồi." Sự không hạn chế về số câu và số khổ giúp tác giả truyền tải cảm xúc một cách tràn đầy và không gò bó.

Thể lục bát trong thơ Vũ Hoàng Chương vẫn còn tồn tại, nhưng ít được sử dụng hơn so với trước đây Trong hai tập thơ của ông, chỉ có ba bài thơ sử dụng thể loại này, bao gồm "Chợ chiều," "Con tàu say," và một bài nữa chưa được nêu rõ.

Còn lại thể ngũ ngôn gồm hai bài( U tình, Cánh buồm trắng) ; hợp thể gồm hai bài ( M-ời hai tháng sáu, Chén r-ợu đôi đ-ờng)

Vũ Hoàng Chương sử dụng các thể thơ quen thuộc của Thơ mới nhưng thể hiện sự linh hoạt và nhạy cảm trong cách ngắt nhịp, hiệp vần và thanh điệu Điều này tạo nên sự độc đáo cho thơ ông, phản ánh quá trình tiếp thu và chắt lọc tinh hoa từ thơ cổ truyền và thi ca nước ngoài.

Nhịp trong thơ là sự phân bố và lặp lại đều đặn của các đơn vị ngôn từ, giúp tạo sự phong phú và tránh sự đơn điệu trong văn bản nghệ thuật Ở một khía cạnh nào đó, nhịp thơ được hình thành từ tính ổn định của các thể thơ.

Thơ Vũ Hoàng Chương mang một tiết tấu uyển chuyển, đa dạng và linh hoạt, thể hiện sự mềm mại, yếu đuối trong tình yêu và lúc lại gấp gáp, quay cuồng Tổng thể, ông vẫn duy trì nền nhịp điệu chung của các thể thơ truyền thống, đặc biệt là nhịp 4/3 trong thơ thất ngôn.

Gợn trắng ngàn mai/ thoảng dáng xuân

Màu trinh e lệ/ gió ân cần M-ơi bông cúc nõn/ chờ tay với Một chút hoa đào/ v-ớng gót chân

Là nhịp 2/3 hoặc 3/2 trong thơ ngũ ngôn : ánh vàng / lây lứt v-ớng

Trên đồng lúa/ bao la

Màu tím hồng/ tan nát

Từng mảnh/ trên sông Đà

Vũ Hoàng Chương, một thi sĩ với cá tính mạnh mẽ, luôn nỗ lực tìm tòi để tạo ra những bước đột phá trong thơ ca Mang trong mình nỗi đau lớn của nhân tình thế thái, tâm hồn ông thường vỡ ra thành từng mảng Chính vì vậy, Vũ Hoàng Chương ít khi sử dụng những nhịp thơ dài mà thường áp dụng cách ngắt nhịp biến hóa, tạo nên sự độc đáo trong tác phẩm của mình.

Não nuột tiếng ai vừa khóc?

S-ơng vẩn đục Khói mơ hồ, Nhìn quanh: chiều xám với tha ma!

Nh-ng ®©u ®©y ai khãc? GÇn hay xa

Mà thảm thiết? Hay Thu vừa nức nở?

Khổ thơ mang âm điệu buồn thảm và xót xa, với nhịp điệu bị ngắt quãng tạo nên sự gấp gáp, mạnh mẽ Tình cảm của nhà thơ tan vỡ, để lại trong lòng người đọc nỗi buồn day dứt không nguôi.

Bài thơ "Say đi em" của Vũ Hoàng Chương nổi bật với nhịp điệu điêu luyện, cuốn hút và mời gọi người đọc Nhờ ngòi bút tài hoa, nhịp điệu trong thể thơ tự do được thay đổi linh hoạt, phản ánh rõ nét các bước chân, động tác, cũng như những lời than và tiếng giục Tác phẩm mang đến một tiết tấu âm sắc phong phú, không gian sống động và thời gian gấp gáp, với những tình huống đột ngột, bất ngờ, tạo nên một không khí sinh động và mới mẻ, khắc họa rõ hình ảnh của tác giả.

Hồn ngã lâu rồi/ nh-ng chân còn dẻo

Lòng chót nghiêng/ mà b-ớc vẫn du d-ơng Lòng nghiêng/ tràn hết/ yêu th-ơng

B-ớc chân còn nhịp Nghê th-ờng lẳng lơ

Sự kết hợp hai câu tám chữ với cặp câu lục bát giúp cho lời thơ thêm du d-ơng, dàn trải không dứt

Sự kết hợp giữa các câu 4 chữ, 6 chữ và 7 chữ tạo nên âm điệu nhịp nhàng, lôi cuốn Những vần điệu giãn cách mang đến cảm giác mê đắm, như ánh đèn lung linh và dáng tơ mềm mại.

Hàng chân lả l-ớt Đê mê hồn gửi cánh tay hờ

Cuối cùng, Vũ Hoàng Ch-ơng nh- muốn đi đến tận cùng cảm giác của kẻ say cuồng trong điệu nhảy:

Say cho lơi lả ánh đèn Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt R-ợu, r-ợu nữa, và quên, quên hết!

Hai câu đầu tiên của bài thơ tạo nên nhịp điệu ngắn gọn, đồng đều, thể hiện các động tác tương ứng một cách nhịp nhàng Sau đó, nhịp thơ trở nên buông lơi, kéo dài, mang đến cảm giác chập chờn, lâng lâng Cuối cùng, khi niềm khoái lạc trong những thú vui trần tục đạt đến đỉnh điểm, nhịp thơ bị xé lẻ với câu từ mạnh mẽ: "Rượu/ rượu nữa/ và quên/ quên hết." Qua lối ngắt nhịp biến hóa, Vũ Hoàng Chương đã khắc họa chính xác những cung bậc cảm xúc của con người trong trạng thái say sưa.

Vũ Hoàng Chương khéo léo tạo ra nhịp điệu bên ngoài câu chữ phù hợp với mạch đập của tình cảm bên trong, khiến cho thơ của ông luôn mới mẻ và không nhàm chán Bài thơ "Tình si" với tứ thơ chặt chẽ thể hiện tâm trạng thầm yêu trộm nhớ của những người đang yêu, đồng thời nhịp thơ biến đổi liên tục, tạo nên một kết cấu độc đáo và khác biệt.

Mạch thơ bỗng chốc chuyển sang khoan thai nhẹ nhàng trầm lắng nhờ lối ngắt nhịp 2/2 : Ôm hờ / lá vẫn / dõi theo bên

Bẽ bàng / lá vẫn / theo bên

Si tình /lá vẫn / theo bên

Một tứ thơ hay cùng với cách ngắt nhịp hay đã đem đến cho bài thơ một vẻ đẹp đầy quyến rũ

Tình si thể hiện sâu sắc tâm trạng của những người đang yêu, trong khi M-ời hai tháng sáu lại khắc họa nỗi đau đớn và bất ngờ của nhà thơ khi nhận tin người yêu kết hôn Nhịp điệu thơ cũng biến đổi theo cảm xúc mãnh liệt này.

Tháng sáu / m-ời hai / từ đấy nhé

Chung đôi / từ đấy nhé / lìa đôi!

Em xa lạ quá / đâu còn phải

Tố của Hoàng x-a / Tố của tôi!

Ngày đăng: 14/07/2021, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( tập 2). NXB Văn học, H.1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( tập 2
Nhà XB: NXB Văn học
11. Lê Tiến Dũng . Loại hình câu của Thơ mới. Tạp chí Văn học số 1- 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình câu của Thơ mới
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1994
12. Hữu Đạt. Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam. Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga – Macơcva 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga – Macơcva
Năm: 1992
13. Phan Cự Đệ. Phong trào Thơ mới. NXB Khoa học , H. 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ mới
Nhà XB: NXB Khoa học
14. Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung. Văn học Việt Nam 1930-1945 (tập 1) . NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp , H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn học Việt Nam 1930-1945 (tập 1)
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
15. Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung. Văn học Việt Nam 1930“1945 ( tập 2) . NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1930“1945 ( tập 2)
Nhà XB: NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
16. Phan Cự Đệ. Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 “ 1945. NXB Giáo dục, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam 1930 “ 1945
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Phan Cự Đệ . Thơ Hàn Mặc Tử . NXB Văn học , H. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hàn Mặc Tử
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1993
18. Hà Minh Đức – Huy Cận ( chủ biên ) . Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca . NXB Giáo dục , H. 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức, Huy Cận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
19. Hà Minh Đức – Bùi Văn Nguyên. Thơ ca Việt Nam “ Hình thức và thể loại NXB Khoa học xã hội , H. 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam “ Hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1968
20. Hà Minh Đức. Thơ và mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại ( tái bản lần thứ hai). NXB Giáo dục , H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề về thơ Việt Nam hiện đại ( tái bản lần thứ hai)
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
24. Lê Bá Hán. Từ điển thuật ngữ văn học . NXB Giáo dục , H. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
25. Lê Bá Hán ( chủ biên ) – Lê Quang H-ng – Chu Văn Sơn. Tinh hoa Thơ mới , thẩm bình và suy ngẫm . NXB Giáo dục, H. 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới , thẩm bình và suy ngẫm
Nhà XB: NXB Giáo dục
26. Lê Quang H-ng. Cái Tôi tích cực độc đáo của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới. Tạp chí văn hoá số 5/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái Tôi tích cực độc đáo của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới
27. Trần Nhân Khang – Hoàng Ngọc Bội. Cấu tứ trong thơ trữ tình . NXB Văn học, Hà Nội 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tứ trong thơ trữ tình
Tác giả: Trần Nhân Khang, Hoàng Ngọc Bội
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1961
28. Lê Đình Kỵ. Thơ mới những b-ớc thăng trầm ( tái bản ). NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới những b-ớc thăng trầm ( tái bản )
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1993
29. Mã Giang Lân . Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại. NXB Giáo dục, H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
30. Mã Giang Lân. Về ý thức hiện đại hoá Thơ mới 1940- 1945 và những đóng góp của nó. Tạp chí Văn học số 8/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ý thức hiện đại hoá Thơ mới 1940- 1945 và những đóng góp của nó
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1999
31. Mã Giang Lân. Tìm hiểu thơ. NXB Văn hoá thông tin, H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thơ
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2000
32. Nguyễn Tấn Long. Việt Nam thi nhân tiền chiến ( viết chung ). Sống mới xuất bản 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi nhân tiền chiến ( viết chung )
Tác giả: Nguyễn Tấn Long
Nhà XB: Sống mới xuất bản
Năm: 1968

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w