Tóm tắt bài nghiên cứu Bài viết dựa trên cơ sở lí thuyết về định danh thuật ngữ, tiến hành đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ báo chí tiếng Anh với thuật ngữ báo chí tiếng Việt ở
Trang 1NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU
Đề tài nghiên cứu: ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ BÁO CHÍ ANH - VIỆT TỪ GÓC ĐỘ ĐỊNH DANH
Tác giả: Nguyễn Đức Đạo
ThS-NCS; Trường Cao đẳng phát thanh – Truyền hình I
Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống – Số 1 (268) 2018 – Trang 27-36
Sinh viên: Hoàng Lê Phương Dung Giáo viên hướng dẫn: Trần Thị Thu Vân
Trang 2Tóm tắt bài nghiên cứu
Bài viết dựa trên cơ sở lí thuyết về định danh thuật
ngữ, tiến hành đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ báo chí tiếng Anh với thuật ngữ báo chí tiếng Việt ở
hai kiểu định danh: (1) kiểu định danh theo ngữ nghĩa
và (2) kiểu định danh theo cách thức biểu thị để chỉ ra được sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm định
danh giữa thuật ngữ báo chí tiếng Anh và thuật ngữ
báo chí tiếng Việt
Trang 3Những vấn đề chung
Về định danh:
- Định danh: là “sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái
niệm – biểu niệm (significat) phản ánh cái đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của tối tượng cũng như quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo
thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” (G.V.Consanski)
- Hai nguyên tắc cơ bản
+ Tên gọi (cái biểu hiện) phải có mối liên hệ nào đó với ý nghĩa của tên gọi (cái được biểu hiện) Tên gọi phải khái quát, trừu tượng, phải mất khả năng gợi nhớ đến những đặc điểm, thuộc tính riêng rẽ tạo tành đối tượng vì tên gọi
là sản phẩm của tư duy trừu tượng
+Tên gọi phải có sự phân biệt giữa sự vật, đối tượng này đối với sự vật, đối tượng khác và sự phân biệt này bao gồm trong cùng một loại hay là phân biệt giữa các loại nhỏ trong cùng một loại lớn
Trang 4Những vấn đề chung
Về định danh:
- Hai kiểu định danh:
+ Kiểu định danh theo ngữ nghĩa:
(1) Tên gọi trực tiếp
(2) Tên gọi gián tiếp
+ Kiểu định danh theo cách thức biểu thị:
(1) Hình thái bên trong (theo dấu hiệu đặc trưng được sử dụng làm cơ
sở cho sự định danh)
(2) Mối liên hệ giữa các cấu trúc bên ngoài với ý nghĩa của từ ( theo tính
có lí do của tên gọi)
(3) Tính chất hòa kết thành một khối hay có thể tách biệt ra được các
thành phần trong tên gọi
(Superanskaja A.V)
Trang 5Những vấn đề chung
Về định danh thuật ngữ báo chí:
- Từ là đơn vị cơ bản mà việc định danh dựa vào Giá trị định danh tuyệt đối
là giá trị của danh từ, thuộc tính này ở các từ loại định danh khác thì yếu hơn chút ít
- TNBC là một bộ phận của thuật ngữ khoa học và là những từ hay cụm từ trong hệ thống ngôn ngữ Về cơ bản, kiểu định danh của TNBC cũng
giống như các kiểu định danh ngôn ngữ nói chung
- Có thể phân TNBC Anh- Việt thành 2 loại:
Đơn vị định danh gốc Đơn vị định danh phái sinh
• Hình thức ngắn gọn là từ, gồm các
TNBC có cấu tạo 1 yếu tố (đơn thành
tố)
• VD: radio, television, paper, audio, film,
… (297 thuật ngữ, chiếm 21.22% trong
TNBC tiếng Anh)
• VD: báo, hình, giấy, bìa, phim, (251
thuật ngữ, chiếm 16.78% trong TNBC
tiếng Việt)
• Được tạo ra trên cơ sở loại thứ nhất, gồm các TN có cấu tạo từ 2 yếu tố trở lên kết hợp với nhau ( đa thành tố)
• 1103 TNBC tiếng Anh ( chiếm 78.78%)
• 1245 TNBC tiếng Việt (chiếm 83.22%)
Trang 6Những vấn đề chung
Hầu hết các TNBC được cấu tạo thành nhờ phương thức cấu tạo ghép theo mô hình cấu trúc chính phụ hay còn gọi là quan hệ phụ thuộc
VD: Từ TN gốc “reportage” mang nội dung cơ bản là “phóng sự”, bằng cách kết hợp các yếu tố trước sau theo các mô hình kết cấu từ ghép hay cụm từ, ta được: “Radio reportage (phóng sự phát thanh”; “television reportage (phóng
sự tryền hình”,…
* Cũng giống như tiếng Anh, tương ứng hai thành phần yếu tố chính và yếu tố phụ về mặt ngữ nghĩa, trong tiếng Việt, chính là phần chỉ loại và phần chỉ các đặc trưng khu biệt
VD: Từ TN gốc “ảnh” bằng cách kết hợp các yếu tố phụ trước sau kết hợp với yếu tố chính “ảnh” theo các mô hình kết cấu từ ghép hay cụm từ, ta được: ảnh bìa, ảnh ghép, ảnh kí sự, ảnh chân dung, ảnh kĩ thuật số,…
Ngoài ra, còn có các TNBC tiếng Việt cấu tạo theo quan hệ đẳng lập và cấu tạo theo quan hệ ngược với cú pháp Việt (phụ trước chính sau), thường là từ Hán-Việt chiếm tỉ lệ không đáng kể, như: tái bản, tiểu phẩm, phụ trương,
khuyết danh, tiểu mục
Trang 7Đối chiếu cụ thể
1 Xét theo kiểu ngữ nghĩa
Số lượng TNBC trong cả tiếng Anh và tiếng Việt là tên gọi trực tiếp chiếm số lượng lớn, trong đó, tiếng Anh là 1535 TNBC chiếm 84,3% và tương ứng trong tiếng Việt là 1685 TNBC chiếm 84.6%
2 Xét theo cách thức biểu thị thuật ngữ
Việc chọn đặc trưng định danh của TNBC tiếng Anh và tiếng Việt tương đồng nhau, chỉ có trật tự của đặc trưng định danh là khác nhau: trong tiếng Anh, đặc trưng định danh đứng trước thành tố chính, còn trong tiếng Việt, đặc trưng
định danh đứng sau thành tố chính, ngoại từ một số thuật ngữ Hán- Việt
VD: Trong tiếng Anh: daily news program đã sử dụng 2 lần phương thức ghép:
Ghép lần 1: news + program news program (1 đặc trưng)
Ghép lần 2: daily + news program daily news program (2 đặc trưng)
Trong tiếng Việt: chương trình tin tức phát hằng ngày
Ghép lần 1: chương trình + tin tức chương trình tin tức (1 đặc trưng)
Ghép lần 2: chương trình tin tức + phát hằng ngày chương trình tin tức phát hằng ngày (2 đặc trưng)
Trang 8Đối chiếu cụ thể
1 Xét theo kiểu ngữ nghĩa
Số lượng TNBC trong cả tiếng Anh và tiếng Việt là tên gọi trực tiếp chiếm số lượng lớn, trong đó, tiếng Anh là 1535 TNBC chiếm 84,3% và tương ứng trong tiếng Việt là 1685 TNBC chiếm 84.6%
2 Xét theo cách thức biểu thị thuật ngữ
Việc chọn đặc trưng định danh của TNBC tiếng Anh và tiếng Việt tương đồng nhau, chỉ có trật tự của đặc trưng định danh là khác nhau: trong tiếng Anh, đặc trưng định danh đứng trước thành tố chính, còn trong tiếng Việt, đặc trưng
định danh đứng sau thành tố chính, ngoại từ một số thuật ngữ Hán- Việt
VD: Trong tiếng Anh: daily news program đã sử dụng 2 lần phương thức ghép:
Ghép lần 1: news + program news program (1 đặc trưng)
Ghép lần 2: daily + news program daily news program (2 đặc trưng)
Trong tiếng Việt: chương trình tin tức phát hằng ngày
Ghép lần 1: chương trình + tin tức chương trình tin tức (1 đặc trưng)
Ghép lần 2: chương trình tin tức + phát hằng ngày chương trình tin tức phát hằng ngày (2 đặc trưng)
Trang 9Đối chiếu cụ thể
3 Xét về mô hình định danh thuật ngữ báo chí
Mô hình khái quát là:
Tiếng Anh: Đặc trưng được chọn + HĐSX, ST và TBTPBC
Tiếng Việt: HĐSX, ST và TBTPBC + đặc trưng được chọn
Tổng hợp đối chiếu các đặc trưng được chọn để định danh phạm trù TNBC Anh- Việt chỉ các hoạt động báo chí
Trang 10Kết luận
Đa số các TNBC tiếng Anh và tiếng Việt đều là các tên gọi trực tiếp các đối tượng , hiện tượng hoặc các khái niệm trong lĩnh vực báo chí Hầu hết các TNBC là định danh trực tiếp Hiện tượng định danh gián tiếp luôn chiếm số lượng không đáng kể trong môi trường từ vựng ngữ nghĩa Các TNBC có cấu tạo 1 yếu tố chiếm tỉ lệ trong tiếng Anh và tiếng Việt Các thuật ngữ có cấu tạo từ 2 yếu tố trở lên kết hợp với nhau, mô tả đặc điểm, tính chất, cách thức, thuộc tính, của những sự vật đối tượng, khái niệm thuộc các bộ phận câu thành hệ thống TNBC Ý nghĩa của thuật ngữ loại này có mức độ khái quát thấp hơn, mức độ cụ thể hóa, ý nghĩa lại cao hơn loại thuật ngữ thứ nhất Hơn nữa, mô hình định danh của các TNBC trong tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác biệt nhau về vị trí của đặc trưng định danh và phạm trù ngữ nghĩa Tuy nhiên, về số lượng các phạm trù ngữ nghĩa, đặc trưng định danh và số lượng các thuật ngữ biểu thị trong mỗi phạm trù ngữ nghĩa và đặc trưng định danh của TNBC tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác biệt không nhiều Đồng thời, các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh tạo thành hình thái bên trong của TNBC là những đặc trưng bản chất, có giá trị khu biệt