Với bài nghiên cứu này, chúng tôi mong đưa đến một cách hiểu đúng và cụ thể về hoạt động dạy học theo quan điểm tích hợp trong chương trình dạy học môn Ngữ văn tại cấp học Trung học phổ
Trang 11 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Quan điểm dạy học tích hợp là một định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 do Bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để
tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy.” (tr 27) “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt tromg mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học của GV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.” (tr 40) Đặc biệt, nghị quyết 29 - NQ/TWvề đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo cũng nêu rõ nội dung tích hợp liên môn cũng nằm trong lộ trình đổi mới toàn diện phương pháp dạy học và kiếm tra đánh giá ở các trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực người học
Như vậy, ở nước ta hiện nay, vấn đề cần hay không cần tích hợp trong xây dựng nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn không đặt ra nữa Bài toán đang đặt ra trong lĩnh vực lí luận
và phương pháp dạy học bộ môn là phải tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng dạy họctích hợp vào dạy học Ngữ văn ở THPT nhằm hình thành và phát triển năng lực cho HS một cách có hiệu quả hơn, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục
và đào tạo của bộ môn
Do vậy, qua quá trình giảng dạy, nghiên cứu học hỏi tôi đã chọn đề tài: Đổi mới phương pháp dạy học bài “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm theo hướng tích hợp Từ đó, tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc giảng dạy văn
bản kịch nói chung và đoạn trích Hồn Trương Ba, dang hàng thịt nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông hiện nay
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bài học “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm theo hướng tích hợp nhằm tiếp cận nội dung kiến thức tốt hơn, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh lớp 12, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Văn bản “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm theo hướng tích hợp bằng việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: các tài liệu tham khảo, giáo trình
có nội dung liên quan
Trang 2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát, dự giờ đồng nghiệp, tổng kết kinh nghiệm, tham khảo ý kiến chuyên gia…
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Thống kê, phân tích, tổng hợp…
1.5 Những điểm mới của SKKN
Lần này, người viết lựa chọn đề tài về một tác phẩm thuộc thể loại chiếu Hướng dẫn học sinh khai thác giá trị một văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT theo hướng tích hợp bằng việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trên thế giới, tư tưởng tích hợp giáo dục xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX và đã được áp dụng rộng rãi Ở Việt Nam, từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn tự nhiên-xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và đã được thiết kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình ở cấp trung học chủ yếu thực hiện tích hợp ở mức thấp, chưa đặt nặng vấn đề dạy học tích hợp ở trung học
Thực tiễn trong những thập niên 90 cho đến nay, việc dạy học của chúng ta vẫn mang tính “hàn lâm, lý thuyết” Đặc điểm cơ bản đó là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học đã được quy định trong chương trình nhưng chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn Mục tiêu dạy học trong chương trình được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết; việc quản lý chất lượng giáo dục chỉ tập trung vào “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học Với quan điểm như trên sẽ dần đến một hệ quả là tri thức của người học sẽ nhanh chóng bị lạc hậu vì nội dung dạy học được quy định một cách chi tiết và cứng nhắc trong chương trình Đồng thời, việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong tình huống thực tiễn vì vậy sản phẩm đào tạo là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động, sản phẩm của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động Trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng nhiều, kiến thức giữa các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Bên cạnh đó, do yêu cầu của xã hội, do nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con người phải giải quyết rất nhiều tình huống trong cuộc sống Khi giải quyết các vấn đề
đó, kiến thức của một lĩnh vực chuyên môn sẽ không thể thực hiện được mà cần phải vận dụng kiến thức liên ngành một cách sáng tạo Từ thực tế đó đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo một vấn đề là phải thay đổi quan điểm về giáo dục mà dạy học tích hợp là một định hướng mang tính đột phát để đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục
Qua nghiên cứu và tìm hiểu, người nghiên cứu thấy rằng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về dạy học theo quan điểm tích hợp ở cấp học trung học phổ thông Với bài nghiên cứu này, chúng tôi mong đưa đến một cách hiểu đúng và cụ thể về hoạt động dạy học theo quan điểm tích hợp trong chương trình dạy học môn Ngữ văn tại cấp học Trung học phổ thông
Trang 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay bộ môn Ngữ văn trong nhà trước nói chung và bài Chiếu cầu hiền
của Ngô Thì Nhậm nói riêng còn gặp nhiều khó khăn trong việc giảng dạy
Thứ nhất, về nhu cầu thực tiễn, vài năm trở lại đây môn Ngữ văn trong nhà trường không được học sinh xem là môn chủ đạo Xuất phát từ nhu cầu về việc làm và lựa chọn nghề nghiệp rất ít học sinh lựa chọn khối thi đại học có môn văn Môn văn là một trong ba môn thi bắt buộc trong kỳ thi THPT Quốc gia thì tình trạng lười học, ngại học, học qua loa cho qua vẫn tồn tại
Thứ hai, văn bản “Chiếu cầu hiền” của Ngô Thì Nhậm đã được đưa vào chương trình từ lâu nhưng thể loại chiếu không nhiều nên chưa được quan tâm thỏa đáng Việc tìm hiểu thể loại này theo hướng tích hợp còn nhiều lúng túng Thứ ba, nhiều giờ dạy, giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng phương pháp dạy học tích hợp, dẫn đến việc khai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu, làm cho chất lượng bài dạy không đạt Hay khi vận dụng phương pháp dạy học tích hợp, giáo viên lại thiếu sự chuẩn bị kĩ càng, sử dụng tích hợp một cách tùy hứng dẫn đến hiệu quả tích hợp không cao
Do vậy, để giúp học sinh tìm hiểu văn bản vừa đảm bảo theo chuẩn kiến thức kỹ năng, vừa phát huy năng lực học sinh là điều mà bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên trăn trở
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong đề tài này, chúng tôi xin đưa ra phương hướng dạy học cụ thể dựa trên cơ sở tìm hiểu về dạy học tích hợp môn Ngữ Văn và nghiên cứu văn bản Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm trong chương trình Ngữ văn 11 (ban cơ bản)
2.3.1 Một số vấn đề chung về dạy học tích hợp
2.3.1.1 Quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung
2.3.1.1.1 Khái niệm dạy học tích hợp
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” Theo từ điển Giáo dục học:
“Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”, là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một
“môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn
có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống
Dạy học tích hợp (hay dạy học theo chủ đề) là cách tiếp cận giảng dạy liên ngành theo đó các nội dung giảng dạy được trình bày theo các đề tài hoặc chủ
đề Mỗi đề tài hoặc chủ đề được trình bày thành nhiều bài học nhỏ để người học
Trang 4có thể có thời gian hiểu rõ và phát triển các mối liên hệ với những gì mà người học đã biết Cách tiếp cận này tích hợp kiến thức từ nhiều ngành học và khuyến khích người học tìm hiểu sâu về các chủ đề, tìm đọc tài liệu từ nhiều nguồn và tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau
Dạy học tích hợp không chỉ là sự kết hợp đơn thuần giữa lý thuyết và thực hành trong một tiết/buổi dạy Chúng ta cần phải hiểu rằng, phía sau quan điểm
đó là một triết lý giáo dục, nó phản ánh mục tiêu của việc học Theo quan điểm truyền thống thì mục tiêu của dạy học là cung cấp một hệ thống các kiến thức hoặc kỹ năng riêng lẻ cho người học để sau đó người học muốn làm bất kì việc
gì với những kiến thức và kỹ năng đó Còn theo quan điểm dạy học tích hợp thì mục tiêu của dạy học là hướng đến việc đào tạo ra những con người với những năng lực cụ thể để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải
là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó
Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.” (tr 27) Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức
và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này Nói khác đi,
đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng
Trang 5góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức để khắc phục, hạn chế lối dạy học đó nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà HS lĩnh hội được, bảo đảm cho mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Mặt khác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp vẫn theo đuổi quan điểm “lấy HS làm trung tâm”, tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học, năng lực sáng tạo của HS
2.3.1.1.2 Các hình thức tích hợp
a Tích hợp ngang
Tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề Mô hình này đòi hỏi nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác nhau Trong môn Ngữ văn, tích hợp ngang là kiểu tích hợp giữa ba phân môn Văn Tiếng Việt - Làm văn Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa ba phân môn một cách đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phân môn khác Những kiến thức của ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn tách rời độc lập nhưng khi vận dụng quan điểm tích hợp vào làm cho ba phân môn này có mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau dựa vào nhau
và làm sáng tỏ cho nhau
b Tích hợp dọc
Tích hợp dọc là cách vận dụng quan điểm tích hợp trong cùng một phân môn với nhau tức là giữa Văn bản với Văn bản, giữa tiếng Việt với tiếng Việt , giữa làm văn với làm văn trong cùng một khối (lớp) hoặc khác khối (lớp) theo chiều dọc từ trên xuống Thực chất, tích hợp theo chiều dọc là hệ thống hóa các kiến thức có liên quan với nhau ở những thời điểm thích hợp sao cho học sinh có thể nắm bắt vấn đề một cách hệ thống Khi thực hiện tích hợp dọc, các kiến thức được nhắc lại, được liên hệ với nhau giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu nội dung bài học
c Tích hợp liên môn
Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học Ngữ văn với các kiến thức của các bộ môn Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, các ngành khoa học, nghệ thuật khác với các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được
từ cuộc sống cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân
cách cho học sinh
2.3.1.1.3 Mục đích của dạy học tích hợp
Trang 6Cùng với xu thế đổi mới về giáo dục tại Việt Nam, thì chương trình dạy nghề trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp được thiết kế theo quan điểm kết hợp môn học và mô đun kỹ năng hành nghề Các mô đun được xây dựng theo quan điểm hướng đến năng lực thực hiện Mô đun là một đơn vị học tập có tính trọn vẹn, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành để người học sau khi học xong có năng lực thực hiện được công việc cụ thể của nghề nghiệp Như vậy dạy học các mô đun thực chất là dạy học tích hợp nội dung để nhằm hướng đến mục đích sau:
- Gắn kết đào tạo với lao động
- Học đi đôi với hành, chú trong năng lực hoạt động
- Dạy học hướng đến hình thành các năng lực nghề nghiệp, đặc biệt năng lực hoạt động nghề
- Khuyến kích người học học một cách toàn diện hơn (Không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn học năng lực từ ứng dụng các kiến thức đó)
- Nội dung dạy học có tính động hơn là dự trữ
- Người học tích cực, chủ động, độc lập hơn
2.3.1.1.4 Đặc điểm của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp có các đặc điểm sau:
a Lấy người học làm trung tâm
Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, họ phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn,
cụ thể và sinh động của nghề nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá học để hành, hành để học, tức là tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân Trong dạy học lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học tự thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm,hợp tác với nhóm, với lớp Sự làm việc theo nhóm này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia vào gỉai quyết vấn đề
Dạy học tích hợp biểu hiện cách tiếp cận lấy người học là trung tâm, đây là
xu hướng chung có nhiều ưu thế so với dạy học truyền thống
b Định hướng đầu ra
Đặc điểm cơ bản nhất, có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghề theo năng lực thực hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo xem người học có thể làm được cái gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra Như vậy, người học để làm được cái gì đó đòi hỏi có liên quan đến chương trình, còn để làm tốt công việc gì đó trong thực tiễn như mong đợi thì liên quan đến việc đánh giá kết quả học tập Người học đạt được những đòi hỏi đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người Trong đào tạo, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong quá trình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng trong một thời gian dài, đồng thời còn góp phần tạo niềm tin cho khách hàng
Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng vào công việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ Từ những kết quả đầu ra đi đến
Trang 7xác định vai trò của người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này, một vai trò tập hợp các hành vi được mong đợi theo nhiệm vụ, công việc mà người đó sẽ thực hiện thật sự Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được cả lý thuyết chuyên môn nghề nghiệp vừa phải hướng dẫn quy trình công nghệ, thao tác nghề nghiệp chuẩn xác, phổ biến được kinh nghiệm, nêu được các dạng sai lầm, hư hỏng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, biết cách tổ chức hướng dẫn luyện tập
c Dạy và học các năng lực thực hiện
Dạy học tích hợp do định hướng kết quả đầu ra nên phải xác định được các năng lực mà người học cần nắm vững, sự nắm vững này được thể hiện ở các công việc nghề nghiệp theo tiêu chuẩn đặt ra và đã được xác định trong việc phân tích nghề khi xây dựng chương trình Xu thế hiện nay của các chương trình dạy nghề đều được xây dựng trên cơ sở tổ hợp các năng lực cần có của người lao động trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh Phương pháp được dùng phổ biến
để xây dựng chương trình là phương pháp phân tích nghề (DACUM) hoặc phân tích chức năng của từng nghề cụ thể Theo các phương pháp này, các chương trình đào tạo nghề thường được kết cấu theo các mô đun năng lực thực hiện Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nội dung giảng dạy trong mô đun phải được xây dựng theo hướng “tiếp cận theo kỹ năng”
Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành, qua đó ở người học hình thành một năng lực nào đó hay kỹ năng hành nghề nhằm đáp ứng được mục tiêu của mô đun Dạy học phải làm cho người học có các năng lực tương ứng với chương trình Do đó, việc dạy kiến thức lý thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học Trong dạy học tích hợp, lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học chuyên ngành về những vấn đề cơ bản, về những quy luật chung của lĩnh vực chuyên ngành đó Hơn nữa, việc dạy lý thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lý thuyết suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn Do đó, cần gắn lý thuyết với thực hành trong quá trình dạy học Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi kỹ năng,
kỹ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lý thuyết Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn
Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm
vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành
Hoạt động nào cũng cần có kiểm soát, trong dạy học cũng vậy, người dạy cũng cần có sự kiểm soát, củng cố những nhận thức đúng, uốn nắn những nhận thức chưa đúng Việc kiểm soát sự thực hiện qua thông tin, tự đánh giá, điều
Trang 8chỉnh Việc đánh giá và xác định các năng lực phải theo các quan điểm là người học phải thực hành được các công việc giống như người công nhân thực hiện trong thực tế Việc đánh giá riêng từng người khi họ hoàn thành công việc, đánh giá không phải là đem so sánh người học này với người học khác mà đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nghề
2.3.1.2 Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Thiết kế bài dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất Giờ học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt động, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộ phân môn”
Ngày nay nhiều lí thuyết hiện đại về quá trình học tập đã nhấn mạnh rằng hoạt động của học sinh trước hết là học cách học Theo ý nghĩa đó, quan điểm dạy học tích hợp đòi hỏi giáo viên phải có cách dạy chú trọng phát triển ở học sinh cách thức lĩnh hội kiến thức và năng lực, phải dạy cho học sinh cách thức hành động để hình thành kiến thức và kĩ năng cho chính mình, phải có cách dạy buộc học sinh phải tự đọc, tự học để hình thành thói quen tự đọc, tự học suốt đời, coi
đó cũng là một hoạt động đọc hiểutrong suốt quá trình học tập ở nhà trường
Quan điểm dạy học tích hợp hay dạy cách học, dạy tự đọc, tự học không coi nhẹ việc cung cấp tri thức cho học sinh Vấn đề là phải xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành, phát triển năng lực, tiềm lực cho học sinh Đây thực chất là biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về phương pháp chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng Muốn vậy, chẳng những cần khắc phục khuynh hướng dạy tri thức hàn lâm thuần tuý đã đành, mà còn cần khắc phục khuynh hướng rèn luyện
kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, ít có khả năng sử dụng vào đọc hiểu văn bản, vào những tình huống có ý nghĩa đối với học sinh, coi nhẹ kiến thức, nhất
là kiến thức phương pháp
Tóm lại, “Quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học: từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho HS thì các
em mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và như vậy đào tạo mới
có kết quả.” (Chương trình THPT môn Ngữ văn - Bộ GD&ĐT, năm 2002)
Trang 92.3.2 Dạy học bài “Chiếu cầu hiền” – Ngô Thì Nhậm theo hướng tích hợp
“Chiếu cầu hiền” là một tác phẩm nghị luận chính trị - xã hội độc đáo, có ý nghĩa chính trị, có sức lay động ý chí, chuyển tâm ý của hiền tài trong thiên hạ;
có đóng góp đáng kể trong quá trình thuyết phục, sử dụng người hiền tài góp sức lực, trí tuệ để bảo vệ và xây dựng đất nước thời vua Quang Trung Sức thuyết phục của nó đã vượt ra khỏi giới hạn của một thời đại lịch sử, đến hôm nay, tác phẩm vẫn còn mang giá trị văn hoá – giáo dục Nó trở thành kim chỉ nam trong nghệ thuật thu phục, sử dụng, dùng những biện pháp thiết thực để hiền tài sớm chung tay gánh vác việc nước cùng các nhà lãnh đạo
Nhận thức được điều đó, chúng tôi cho rằng, văn bản này có nhiều khả năng tích hợp được kiến thức của các bộ môn Lịch sử, Giáo dục công dân, đồng thời giáo viên có thể tích hợp giáo dục kĩ năng sống, nâng cao nhận thức chính trị của học sinh, góp phần giúp học sinh nắm vững kiến thức, có năng lực vận dụng những kiến thức của các môn học trên đề giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài học, gắn liền với thực tiễn, hòa nhập việc học với cách ứng xử, hoàn thiện nhân cách trong cuộc sống
Chúng tôi xin đề xuất một số hoạt động dạy học chúng tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học văn bản này như sau:
2.3.2.1 Tích hợp ngang
a Tích hợp với phân môn Làm văn
Vì nghệ thuật đặc sắc nhất của các văn bản nghị luận chính là hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng, mạch lạc và cách lập luận chặt chẽ nên khi dạy đọc - hiểu các văn bản nghị luận trung đại, tôi đặc biệt chú trọng tới việc tích hợp với phân môn Làm văn Từ đó nhằm củng cố, rèn luyện và nâng cao khả năng lập luận trong văn nghị luận của học sinh
Với văn bản này, chúng tôi thiết kế tích hợp với phân môn Làm văn thể hiện ở bước hướng dẫn học sinh đọc hiểu chi tiết văn bản
Giáo viên đặt một số câu hỏi:
(1) Luận đề của bài chiếu này là gì? Tác giả đã triển khai luận đề trên bằng cách nào? Cách lập luận ra sao?
(2) Em học được điều gì bổ ích khi áp dụng viết phần mở đầu cho nghị luận của mình?
(3) Khi Quang Trung ra Bắc diệt Trịnh, sĩ phu Bắc Hà có cách ứng xử như thế nào trong đối với ông và triều đại mới do ông đứng đầu?
(4) Nhận xét của em về cách diễn đạt của tác giả? Cách đặt câu hỏi nhằm mục đích gì?
(5) Trước những cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà, em thấy vua Quang Trung
có những băn khoăn, trăn trở gì?
(6) Em hãy nhận xét về thái độ cầu hiền của vua Quang Trung
Qua việc sử dụng các câu hỏi trên khi dạy đọc hiểu văn bản “Chiếu cầu hiền”, ta thấy:
Đặt câu hỏi tích hợp ở cả bốn câu: 1,2,3,4 không chỉ giúp cho học sinh đọc -hiểu được nội dung văn bản mà còn giúp các em thấy được nghệ thuật lập luận
Trang 10chặt chẽ, logic của tác giả Ngô Thì Nhậm HS vận dụng kiến thức, kĩ năng bài
“Tìm ý và lập dàn ý cho bài văn nghị luận, Lập luận trong văn nghị luận, Các thao tác lập luận trong văn nghị luận, Luyện tập kết hợp các thao tác lập luận” đã học
để trình bày, qua đó các em sẽ học tập được cách lập luận trong văn nghị luận Đặt câu hỏi tích hợp ở hai câu: 5, 6, đã tích hợp được với bài: “Yếu tố biểu cảm, tự sự trong văn nghị luận” mà các em đã được học ở THCS Việc tích hợp như vậy sẽ giúp các em hiểu được: Kết hợp nghị luận với biểu cảm, tự sự, làm bài chiếu có tính thuyết phục cao, tác động sâu sắc đến người đọc
Cuối cùng việc tích hợp với phân môn Làm văn còn được thể hiện ở phần củng cố bài học Sau khi dạy xong các bài văn nghị luận trung đại, chúng tôi cho học sinh vẽ sơ đồ hệ thống lập luận hoặc viết lại dàn ý của bài Chiếu
b Tích hợp với phân môn Tiếng Việt
Một trong những đặc điểm của văn học trung đại nói chung và văn nghị luận trung đại nói riêng là dùng cách nói uyển ngữ, cách nói hình ảnh với nhiều điển tích, điển cố Vì vậy khi dạy đọc hiểu văn bản nghị luận trung đại, giáo viên cần phải giúp học sinh thấy rõ được điều này
- Dạy bài “Chiếu cầu hiền” ta có thể tích hợp với bài Tiếng Việt học trước đó: “Thực hành về thành ngữ, điển cố”
VD: Trong đoạn đầu của văn bản “Chiếu cầu hiền” tác giả Ngô Thì Nhậm
đã sử dụng mấy điển tích, điển cố? Đó là những điển tích, điển cố nào? Ý nghĩa của việc sử dụng đó?
Hỏi như vậy chắc chắn học sinh sẽ phát hiện và cảm nhận được: Chỉ trong một đoạn văn ngắn, tác giả đó sử dụng 9 điển tích, điển cố được rút ra từ sách vở
cổ xưa, hàm ý chỉ những người ẩn dật uổng phí tài năng, hoặc những người làm quan nhưng còn nghi ngại, kiêng dè, giữ mình mà không dám nói thẳng
- Tích hợp với Tiếng Việt để giúp học sinh thấy được việc sử dụng từ ngữ chính xác, giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm của văn bản nghị luận trung đại
VD: Phân tích ý nghĩa nhan đề “Chiếu cầu hiền”, cần làm nổi bật tác dụng biểu đạt, biểu cảm của từ “cầu”: Tại sao tác giả lại sử dụng từ “cầu” chứ không phải là từ “mời” hoặc “gọi”?
Câu hỏi này giúp học sinh thấy được giá trị biểu đạt của từ ngữ: “Cầu” thể hiện sự mong mỏi đồng thời là thái độ trân trọng và đề cao đối tượng mà vua Quang Trung muốn hướng tới, còn “mời” hay “gọi” mang sắc thái tình cảm bình thường
Hơn nữa, tác phẩm còn sử dụng đắc địa hai câu hỏi tu từ vừa thể hiện sự thành tâm, khiêm nhường, vừa hướng tới các sĩ phu Bắc Hà để họ tự nhận ra những cách ứng xử chưa hợp lý của mình đồng thời cũng chỉ ra con đường để thay đổi cho họ là đem tài năng, đức độ ra phục vụ triều đại mới Qua tác phẩm, học sinh cũng được củng cố thêm tri thức về câu hỏi tu từ và rèn luyện được kĩ năng khái quát hiệu quả của biện pháp tu từ đó
Mặt khác, tác phẩm “Chiếu cầu hiền” sử dụng rất nhiều từ Hán Việt Giáo viên có thể tích hợp với tiết dạy tiếng Việt bài: “Khái quát lịch sử tiếng Việt” để học sinh có thể nắm vững được lịch sử tiếng Việt trong thời kì sau Bắc thuộc, độc lập tự chủ Học sinh có thể khám phá hệ thống chữ viết thời vua Quang