Độc quyền xảy ra trong trường hợp một hãng sản xuất và bán một hàng hóa hoặc dịch vụ mà không có hàng hóa hoặc dịch vụ nào có thể thay thế gần trong thị trường và các hãng khác bị các r
Trang 1Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
Các đặc trưng và khả năng sinh lợi của hãng độc quyền mua
Phân tích được khái niệm và các đặc trưng
của thị trường độc quyền bán thuần túy
Chỉ rõ thế nào là sức mạnh thị trường và
các nguyên nhân hình thành độc quyền
Phân tích được điều kiện tối đa hóa lợi
nhuận và khả năng sinh lợi của hãng độc
quyền bán thuần túy trong cả ngắn hạn và
dài hạn
Phân tích được quy tắc định giá của nhà
độc quyền (quy tắc ngón tay cái)
Phân tích được các đặc trưng và khả năng
sinh lợi của hãng độc quyền mua
Thời lượng học
8 tiết học: 5 tiết lý thuyết và 3 tiết thảo luận
Đọc giáo trình và tài liệu liên quan trước lúc nghe giảng và thực hành
Sử dụng tốt các phương pháp và công
cụ trong toán học (bao gồm kiến thức đại số và hình học lớp 12) để phân tích
và nghiên cứu bài học
Thực hành thường xuyên và liên tục các bài tập vận dụng để hiểu được lý thuyết
và bài tập thực hành
BÀI 6: THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN THUẦN TÚY
Trang 2Từ nhiều năm nay, phần lớn các nhãn hiệu cà phê danh tiếng đều được bán tại các quầy tạp hóa với giá cả không khác biệt nhiều so với giá cả của các loại cà phê thông thường khác Thậm chí, với chi phí quảng cáo khổng lồ của hãng sản xuất cà phê có nhãn hiệu “Folgers and Maxwell House”, nhà sản xuất cũng thất bại trong việc tạo nên nhãn hiệu cà phê thu hút được nhiều khách hàng trung thành trong số những người uống cà phê Người mua xem cà phê như một hàng hóa được tiêu chuẩn hóa, với rất ít sự khác biệt giữa các sản phẩm cà phê, người bán tự nhận thức được họ là những người chấp nhận giá, và những nhà đầu tư thấy rất ít triển vọng giành được lợi nhuận trong dài hạn đối với việc bán lẻ cà phê Tuy nhiên, những điều này đã thay đổi khi Starbuck đã thành công trong việc tạo ra cho cà phê hương vị mới Không chỉ các cửa hàng
cà phê Starbuck đó thu được mức lợi nhuận cao mà nhiều công ty cà phê khác cũng đó thu được
lợi nhuận cao rất nhiều khi họ bắt chước hương vị mới đầy sáng tạo của Starbuck Ví dụ,
Maxwell House cung cấp các nhãn hiệu Master Blend, Columbian Supreme, Rich french Road
và Italian Espresso Roast Giờ đây, thay vì là những người chấp nhận giá, các hãng cung cấp các nhãn hiệu cà phê danh tiếng có được sức mạnh đáng kể trong việc định giá nhờ thành công khi đầu tư vào việc tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình Thay vì có đường cầu nằm ngang, hoàn toàn co dãn, các hãng cung cấp các nhãn hiệu cà phê danh tiếng giờ đây đối mặt với những đường cầu dốc xuống, những đường cầu đưa lại cho họ sức mạnh thị trường trong việc định giá
cà phê của họ cao hơn các nhãn hiệu cà phê thông thường
Mục đích của bài này là chỉ ra bằng cách nào các nhà quản lý của các hãng định giá có đường cầu dốc xuống có thể xác định được giá cả, sản lượng và sử dụng đầu vào nhằm tối đa hóa lợi nhuận của hãng Cho dù hãng có bao nhiêu sức mạnh thị trường, thì mục tiêu chính của người quản lý là tối đa hóa lợi nhuận
Phần đầu của bài này miêu tả một vài cách đo lường sức mạnh thị trường rõ ràng và cụ thể như
là những thuật ngữ chung chung như “nhiều” hay “hạn chế” Phần lớn bài này sẽ được dành cho
lý thuyết về độc quyền Độc quyền xảy ra trong trường hợp một hãng sản xuất và bán một hàng
hóa hoặc dịch vụ mà không có hàng hóa hoặc dịch vụ nào có thể thay thế gần trong thị trường và các hãng khác bị các rào cản ngăn cản gia nhập thị trường (xem case study 6.1) Kết quả là một hãng độc quyền có nhiều sức mạnh thị trường hơn bất kỳ một hãng nào khác Mặc dù có rất ít hãng độc quyền thực sự trên thị trường thuần túy và phần lớn những hãng này đều phải tuân thủ các quy định của Chính phủ nhưng nhiều hãng, kể cả hãng lớn và nhỏ đều có được sức mạnh thị trường đáng kể nếu như hàng hóa của họ có rất ít hàng hóa có thể thay thế gần Lý thuyết độc quyền cung cấp cơ sở để phân tích những nhà quản lý của các hãng định giá có sức mạnh thị trường có thể đưa ra những quyết định nhằm tối đa hóa lợi nhuận như thế nào (ngoại trừ, như đã đề cập, các hãng độc quyền nhóm sẽ phải phụ thuộc nhiều vào quyết định của nhau)
Trang 3Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
6.1 Thị trường độc quyền bán
6.1.1 Khái niệm
Độc quyền, trong kinh tế học, là trạng thái thị trường
chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản
phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi Trong
tiếng Anh monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp
monos (nghĩa là một) và polein (nghĩa là bán) Đây là
một trong những dạng của thất bại thị trường, là
trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh Mặc dù trên thực tế hầu như không thể tìm được trường hợp đáp ứng hoàn hảo hai tiêu chuẩn của độc quyền và do đó độc quyền thuần túy có thể coi là không tồn tại nhưng những dạng độc quyền không thuần túy đều dẫn đến sự phi hiệu quả của lợi ích xã hội Độc quyền được phân loại theo nhiều tiêu thức: mức độ độc quyền, nguyên nhân của độc quyền, cấu trúc của độc quyền Độc quyền bán là thị trường chỉ có duy nhất một hãng cung ứng toàn bộ sản lượng của thị trường
Ví dụ: Hãng Microsoft độc quyền trên toàn thế giới với hệ điều hành Windows
Hãng độc quyền có vị trí đặc biệt trên thị trường cụ thể nếu nhà độc quyền quyết định nâng giá bán sản phẩm, hãng sẽ không phải lo về việc các đối thủ cạnh tranh sẽ đặt giá thấp hơn để chiếm thị phần lớn hơn, làm thiệt hại tới mình Hãng độc quyền quyết định
và kiểm soát mức giá, sản lượng cung ứng Để hiểu rõ về thị trường độc quyền bán thuần túy, chúng ta nghiên cứu những đặc trưng của nó
6.1.2 Các đặc trưng của thị trường độc quyền bán thuần túy
Thị trường độc quyền bán thuần túy được nhận biết thông qua ba đặc trưng cơ bản sau:
Chỉ có một hãng duy nhất cung ứng toàn bộ sản phẩm trên thị trường
Sản phẩm hàng hóa trên thị trường độc quyền
không có hàng hóa thay thế gần gũi Nếu không có
sản phẩm thay thế tương tự với sản phẩm của
mình, nhà độc quyền sẽ không lo ngại về việc
người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng các sản
phẩm thay thế khi nhà độc quyền định giá cao hơn
Thị trường độc quyền bán thuần túy có rào cản lớn
về việc gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường Rào cản gia nhập khiến cho hãng độc quyền bán là nhà sản xuất và cung ứng duy nhất trên thị trường Nếu không có rào cản rút lui khỏi thị trường thì sẽ không có bất kỳ sản phẩm nào mà nhà độc quyền đó
đã cung cấp cho thị trường
Đường cầu của hãng độc quyền là đường dốc xuống về phía phải, tuân theo luật cầu
6.1.3 Nguyên nhân dẫn đến độc quyền bán
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới độc quyền bán thuần túy, có thể là những điều kiện chủ quan (bản thân) của hãng và những điều kiện khách quan (bên ngoài) doanh nghiệp Nguyên nhân cơ bản của độc quyền là hàng rào gia nhập: Doanh nghiệp độc quyền tiếp tục là người bán duy nhất trên thị trường của nó vì các doanh nghiệp khác không thể
Độc quyền: Một hãng sản xuất
một hàng hóa mà không có hàng hóa nào có thể thay thế gần trong thị trường mà các hãng khác bị các rào cản ngăn
cản gia nhập
Sức mạnh thị trường: Khả
năng của các hãng định giá có thể tăng giá mà không bị mất đi tất cả doanh thu Sức mạnh thị trường khiến cho đường cầu của các hãng định giá là một
đường dốc xuống
Trang 4gia nhập thị trường và cạnh tranh với nó Các hàng rào ngăn cản gia nhập đến lượt nó lại phát sinh từ các nguồn chính sau:
Quá trình sản xuất đạt được hiệu suất kinh tế tăng theo quy mô (độc quyền tự nhiên) Một ngành được coi là độc quyền tự nhiên khi một
hãng duy nhất có thể cung cấp một hàng hóa hoặc
dịch vụ cho toàn bộ thị trường với chi phí thấp hơn
trường hợp có hai hoặc nhiều hãng Khi đó một
hãng lớn cung cấp sản phẩm là cách sản xuất có
hiệu quả nhất Điều này có thể thấy ở các ngành
dịch vụ công cộng như sản xuất và phân phối điện
năng, cung cấp nước sạch, đường sắt, điện thoại
Ví dụ: Ngành cung cấp nước sạch, để cung cấp
nước sạch cho dân cư ở một thị trấn nào đó, hãng
phải xây dựng mạng lưới ống dẫn trong toàn bộ thị trấn Nếu hai hoặc nhiều doanh nghiệp cạnh tranh nhau trong việc cung cấp dịch vụ này thì mỗi hãng phải trả một khoản chi phí cố định để xây dựng mạng lưới ống dẫn Do đó, tổng chi phí bình quân của nước sẽ thấp nếu chỉ có một hãng duy nhất nào đó phục vụ cho toàn bộ thị trường
Sự kiểm soát được yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất Điều này giúp cho người nắm giữ có vị trí gần như độc quyền trên thị trường Một ví dụ điển hình là Nam Phi được sở hữu những mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng của thế giới và do đó quốc gia này có vị trí gần như độc quyền trên thị trường kim cương
Bằng phát minh sáng chế: Bằng phát minh, sáng
chế được pháp luật bảo vệ là một trong những
nguyên nhân tạo ra độc quyền vì luật bảo hộ bằng
sáng chế chỉ cho phép một nhà sản xuất sản xuất
mặt hàng vừa được phát minh và do vậy họ trở
thành nhà độc quyền Ví dụ: Bill Gate chủ tịch tập
đoàn Microsoft là người phát minh sáng chế phần
mềm Microsoft Office (xem case study 6.1) Nhờ
bằng phát minh sáng chế này mà tập đoàn
Microsoft đã trở thành tập đoàn độc quyền trong
việc cung cấp phần mềm này ở Mỹ
Những quy định về bằng phát minh, sáng chế một mặt khuyến khích những phát minh, sáng chế nhưng mặt khác nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được
vị trí độc quyền trong thời hạn được giữ bản quyền theo quy định của luật pháp
Các quy định của Chính phủ trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp độc quyền hình thành do Chính phủ trao cho một cá nhân hay doanh nghiệp nào đó đặc quyền trong việc buôn bán một hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định Nhà nước tạo ra cơ chế độc quyền nhà nước cho một công ty như trường hợp Chính phủ Anh trao độc quyền buôn bán với Ấn độ cho công ty Đông Ấn
Ví dụ, Chính phủ Mỹ trao độc quyền cho công ty Network Solutions – một tổ chức quản lý cơ sở dữ liệu của tất cả các địa chỉ Internet: com, net, org, vì người ta cho rằng những dữ liệu như vậy cần được tập trung hóa và đầy đủ
Độc quyền điện thắp sáng
Hãng độc quyền Microsoft
Trang 5Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
Do sở hữu được một nguồn lực lớn: điều này giúp
cho người nắm giữ có vị trí gần như trọn vẹn trên
thị trường Một ví dụ điển hình là Nam Phi được
sở hữu những mỏ kim cương chiếm phần lớn sản
lượng của thế giới và do đó quốc gia này có vị trí
gần như đứng đầu trên thị trường kim cương
Sau khi đã biết sự hình thành độc quyền bán trên
thị trường, chúng ta có thể tiếp tục đi phân tích
xem một hãng độc quyền bán ra quyết định như
thế nào về việc sản xuất bao nhiêu sản phẩm và
định giá nào cho nó Để phân tích hành vi độc
quyền trong phần này trước tiên chúng ta phải đi
xem xét đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng
6.1.4 Đường cầu và đường doanh thu cận biên
Trong nội dung bài 4, chúng ta đã có sự nghiên cứu về
mối quan hệ giữa giá và doanh thu cận biên của một
hãng Với hãng chấp nhận giá là hãng CTHH thì
đường cầu và đường doanh thu biên là trùng nhau
Đối với hãng có mức sản lượng bán ra phụ thuộc vào
mức giá, MR luôn nhỏ hơn P trừ điểm đầu tiên
Đường cầu của hãng độc quyền là đường dốc xuống
tuân theo luật cầu
P,R
Q
0 a
ba/(2b)
Q phụ thuộcvào P
Hình 6.1 Đường cầu và đường doanh thu cận biên của hãng độc quyền bán
Mối quan hệ giữa doanh thu cận biên và độ co dãn
Khi xem xét đến đường cầu, chúng ta cũng có sự nghiên cứu về độ co dãn của cầu theo giá, chúng ta đã thấy được mối quan hệ giữa độ co dãn và doanh thu của hãng, dựa trên cơ sở đó hãng nên quyết định tăng giá hay giảm giá để tối đa hóa doanh thu Trong đồ thị về mối quan hệ đó chúng ta có đề cập đến một chỉ tiêu TR’ là đạo hàm của hàm TR hay qua những kiến thức đã học ở bài sau chúng ta biết rõ đó là doanh thu cận biên
Sức mạnh thị trường: Khả
năng của các hãng định giá có thể tăng giá mà không bị mất đi tất cả doanh thu Sức mạnh thị trường khiến cho đường cầu của các hãng định giá là một
đường dốc xuống
Nhãn hiệu độc quyền
Trang 6Q TR
P
Q
TR’
C B
1
P D
E
0
0
Hình 6.2 Mối quan hệ giữa hệ số co dãn, doanh thu cận biên và tổng doanh thu
Qua đồ thị có thể thấy được mối quan hệ giữa độ co dãn của cầu theo giá và doanh thu biên cũng như tổng doanh thu:
D PE
D PE
Trang 7Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
Microsoft có phải là một hãng độc quyền?
Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất trong các vụ kiện chống độc quyền chống lại Microsoft gần đây bắt nguồn từ câu hỏi liệu Microsoft có phải là một hãng độc quyền trên thị trường hệ điều hành dành cho máy tính cá nhân (PC) Và thậm chí nếu Microsoft thực sự là một hãng độc quyền trên thị trường hệ điều hành dành cho Windows, liệu nó đủ sức mạnh thị trường để làm thiệt hại cho người tiêu dùng hay không? Và thậm chí nếu Microsoft có được sức mạnh thị trường đủ để gây thiệt hại cho người tiêu dùng, liệu người tiêu dùng sẽ được lợi khi Microsoft bị chia tách thành hai công ty nhỏ hơn hay không? Đừng suy nghĩ ngay rằng chúng tôi có thể trả lời những câu hỏi này chỉ trong một ví dụ ngắn hay ngay cả một ví dụ dài cho vấn đề phức tạp này Chúng tôi không thể Nhưng chúng tôi có thể minh họa sự phức tạp của câu hỏi vô cùng thú vị này bằng cách điều tra quan điểm của nhiều nhà kinh tế được đăng trên nhiều ấn phẩm về tin tức kinh doanh
Alan Reynolds (Viện trưởng viện nghiên cứu kinh tế thuộc Viện Hudson)
Có thể nói theo cách thông thường rằng phần mềm Windows của Microsoft “được sử dụng cho hơn 90% máy tính cá nhân trên toàn thế giới” Tỷ lệ này có thể gây ra sự lo lắng nếu nó hàm ý rằng Microsoft kiểm soát 90% thị trường hệ điều hành máy tính Để đánh giá sự hữu ích của thị phần này, chúng tôi phải xem xét xác định thị trường được dùng để tính toán Như chúng tôi đã nhấn mạnh trong giáo trình này, một thị trường được xác định đúng đắn nên bao gồm tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng biết được là hàng thay thế cho sản phẩm của một hãng Reynolds lập luận rằng Bộ Tư pháp đã xác định thị trường
hệ điều hành máy tính quá hẹp và như vậy đã thổi phồng thị phần của hãng Microsoft trên thị trường hệ điều hành
Bộ Tư pháp xác định thị trường trong trường hợp của Microsoft chỉ là “máy tính của các cá nhân riêng lẻ sử dụng bộ vi xử lý của Intel” Reynolds lưu ý rằng việc xác định quá hẹp phạm vi thị trường nơi hãng Microsoft hoạt động đã loại trừ những đối thủ cạnh tranh của Microsoft như là hãng máy tính Apple (bởi vì họ không sử dụng bộ vi xử lý của Intel); các trạm máy của Sun Microsystem; bất kỳ một hệ điều hành được sử dụng như là một phần của một mạng giao dịch (ví dụ: Solaris, UNIX); và hệ điều hành sử dụng trong các thiết bị cầm tay Tóm lại, Reynolds tin Bộ Tư pháp đã chơi gian lận nhằm chống lại Microsoft bằng cách loại trừ nhiều đối thủ thực sự của hệ điều hành Windows của hãng Microsoft Reynolds lưu ý rằng, trong các ngành công nghệ cao, xuất hiện các hãng thống lĩnh là chuyện bình thường: Quycken chiếm 80% thị trường phần mềm tài chính gia đình, Netscape từng nắm giữ 90% thị trường trình duyệt và Intel nắm giữ 76% thị trường bộ vi xử lý
Richard Schmalensee (nhà kinh tế học tại Học viện Công nghệ Masachuset, MIT,
và là nhân chứng của Microsoft)
Trong quá trình thẩm vấn như là một nhân chứng của Microsoft, Schmalensee đã đưa ra một luận điểm đặc biệt sâu sắc: Microsoft quả thực đã nắm giữ gần như toàn bộ thị trường
hệ điều hành, nhưng nó không có sức mạnh thị trường mạnh mẽ và không phải là một hãng độc quyền gây hại cho người tiêu dùng Schmalensee tính toán rằng nếu Microsoft quả thực
là một hãng độc quyền nắm giữ sức mạnh thị trường vì nó không phải hoặc phải cạnh tranh rất ít với các đối thủ, thì giá cả mà tối đa hóa lợi nhuận cho Microsoft của hệ điều hành Windows 98 phải nằm đâu đó trong khoảng giữa $900 và $2,000 Công tố viên của Bộ Tư pháp đã bày tỏ sự ngạc nhiên trước sự tính toán này khi hỏi Schmalensee rằng ông ta có nghĩ mức giá $2.000 là mức giá tối đa hóa lợi nhuận Microsoft nên thực sự thu cho phần mềm Windows “Dĩ nhiên là không bởi Microsoft gặp phải sự cạnh tranh đáng kể trong dài hạn Đó là ý kiến đúng đắn” Như chúng tôi đã giải thích trong giáo trình, mức độ sức mạnh thị trường mà hãng độc quyền nắm giữ phụ thuộc vào sự sẵn có của các hàng hóa có khả năng thay thế cao Schmalensee giải thích rằng Windows 98 không chỉ phải đối mặt với các
Trang 8Microsoft có phải là một hãng độc quyền?
đối thủ cạnh tranh tiềm năng từ những hãng mới sẽ gia nhập thị trường trong tương lai, mà
nó cũng phải cạnh tranh với 2 sản phẩm đã được sử dụng rất rộng rãi là Windows 3.1 và Windows 95 Có lẽ sự bảo vệ tốt nhất của người tiêu dùng trước lập luận Microsoft là một hãng độc quyền là hãy sở hữu một phiên bản mới của hệ điều hành Windows
Franklin Fisher (nhà kinh tế học tại học viện công nghệ Masachuset, MIT, và là nhân chứng của Bộ Tư pháp)
“Microsoft đã dính líu vào sự quản lý chống cạnh tranh mà không có sự bắt buộc lý lẽ bào chữa kinh tế nào cho ảnh hưởng của nó tới việc hạn chế cạnh tranh” theo lời khai của Franklin Fisher, một chuyên gia trong các vấn đề độc quyền và chống độc quyền Chính phủ
đã đưa ra bằng chứng là nhiều biên bản ghi nhớ và các tài liệu chiến lược quốc tế của Microsoft Ngôn ngữ trong những tài liệu này vẽ lên bức tranh của một hãng bị ám ảnh bởi ý nghĩ đánh bại đối thủ cạnh tranh của nó bằng mọi cách có thể Trong một E-mail được truyền đi giữa các nhà quản lý cấp cao của Microsoft về vấn đề phá hoại ngôn ngữ phần mềm Java: “Phá hoại luôn luôn là chiến thuật tốt nhất của chúng tôi… Phá hoại trong hầu hết các trường hợp luôn tốt hơn một cuộc tấn công trực diện Nó để lại sự cạnh tranh rối loạn; họ sẽ không biết cần phải tấn công cái gì nữa” Mặc dù chiến thuật được Microsoft sử dụng nhằm đánh bại đối thủ của hãng có vẻ nhẫn tâm đối với chúng tôi, nhưng chúng tôi hoài nghi rằng những loại biên bản ghi nhớ tương tự có thể được tìm thấy nếu như phiên tòa bao gồm Pfizer, Toyota, Bank of America hay bất kỳ hãng tối đa hóa lợi nhuận nào khác
Tạp chí The Economist (ý kiến được trích trong bài xã luận đăng trên tạp chí The Business News)
Trong một bài xã luận, Tạp chí The Economist biểu thị mối quan tâm của họ rằng nhiều thị trường công nghệ cao trong nền kinh tế mới trải qua ngoại ứng mạng lưới, điều làm tăng khả năng thống lĩnh một thị trường của một hãng đơn lẻ Một khi một hãng thống lĩnh thiết lập một tập hợp khách hàng đông đảo, những người đang sử dụng những nhãn hiệu hàng công nghệ cao của hãng, người tiêu dùng lúc này có thể trở nên không muốn sử dụng những thương hiệu khác, và như vậy tạo nên một độc quyền bằng cách ngăn chặn sự gia nhập của các hãng mới và của các công nghệ mới Đối với các cơ quan giám sát chống độc quyền được giao nhiệm vụ ngăn chặn việc hình thành các hãng độc quyền mới và xoá bỏ các hãng độc quyền đang tồn tại, việc cải tiến sản phẩm liên tục và giá của các sản phẩm giảm liên tục khiến cho họ khó khăn trong việc chứng minh người tiêu dùng bị thiệt hại bởi
“sự lạm dụng độc quyền” trên thị trường đồ công nghệ cao Kết quả là tạp chí The Economist lo lắng rằng Microsoft có thể kiềm chế sự sáng tạo và gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng những sản phẩm công nghệ cao và nền kinh tế mới Tạp chí The Economist, cũng giống như Franklin Fisher, xem các hành vi kinh doanh của Microsoft như những chứng cứ về việc hãng có ý định sử dụng sức mạnh thị trường để duy trì sự thống lĩnh thị trường của hãng “Bằng chứng đáng kinh ngạc của E-mail và các giấy tờ quản lý đã mô tả sự sẵn sàng của một công ty, dường như, làm tất cả mọi thứ để bảo vệ thế độc quyền của hệ điều hành Windows của họ… Khi đó, như trong trường hợp của Microsoft, sự điều hành của một hãng độc quyền dường như bóp nghẹt sự sáng tạo trên những thị trường trong đó sự cạnh tranh được nhìn nhận rộng rãi như là sự đổi mới, thì những lập luận cho sự can thiệp chống độc quyền là bắt buộc”
Gary Becker (nhà kinh tế đoạt giải Nobel – Đại học Chicago)
Bộ Tư pháp đề xuất tách hãng Microsoft thành hai hãng độc lập: Một công ty chuyên về hệ điều hành (Windows) và một công ty chuyên về các phần mềm ứng dụng (MS office, Internet Explorer, và các ứng dụng khác của Microsoft) Bộ Tư pháp tin rằng sự chia tách là cần thiết nhằm khuyến khích sự đổi mới công nghệ nhanh hơn nữa Becker chỉ ra hai vấn đề
Trang 9Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
Microsoft có phải là một hãng độc quyền?
đối với lập luận của Bộ Tư pháp Thứ nhất, các nhà kinh tế không chắc rằng cạnh tranh sẽ khuyến khích đổi mới công nghệ nhanh hơn Becker đề cập tới tư tưởng của Joseph Schumpeter (1883 – 1950), người tin rằng thị trường độc quyền tạo ra tỷ lệ đổi mới công nghệ cao hơn so với thị trường cạnh tranh, về vấn đề này Theo Schumpeter, độc quyền thúc đẩy đổi mới công nghệ hơn bởi vì họ không phải lo lắng về các đối thủ cạnh tranh bắt chước một cách nhanh chóng những sự sáng tạo của họ, và làm giảm lợi nhuận của họ Becker cũng lập luận rằng Bộ Tư pháp đã không cung cấp được bất kỳ bằng chứng định lượng được rằng vị trí độc quyền mà Microsoft nắm giữ trên thị trường hệ điều hành đã làm chậm quá trình phát triển công nghệ trong ngành công nghiệp máy tính truy cập Internet: Chính phủ và các chuyên gia của Chính phủ trích dẫn những đổi mới tiềm năng được cho là
bị ngăn cản bởi các hành vi hiếu chiến của Microsoft Thậm chí nếu những ví dụ đó là chính xác thì Chính phủ cũng không quan tâm xem liệu có hay không những sáng tạo đổi mới công nghệ khác được khuyến khích bởi một thị trường rộng lớn dành cho những ứng dụng phần mềm mới có thể được tạo ra trên cơ sở nền tảng hệ điều hành Windows
Bốn mươi năm qua, đã có rất nhiều sự tiến bộ công nghệ trong ngành công nghiệp máy tính – Internet Những tiến bộ đó, Becker đã chỉ ra, không hề chậm lại khi Microsoft tạo dựng vị thế của hãng trong hệ điều hành trong suốt 20 năm cuối của giai đoạn này Có lẽ các đối thủ của Microsoft, những người phàn nàn tại toà, hy vọng Bộ Tư pháp bảo vệ họ khỏi sự cạnh tranh mạnh mẽ của Microsoft hơn là thúc đẩy sự cạnh tranh thực sự?
Như chúng tôi đã nói ở phần đầu của ví dụ này, chúng tôi muốn rằng có thể cho các bạn câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này nhưng chúng tôi không thể Trên thực tế, những câu trả lời cho tất cả những gì liên quan trong tình huống này được minh chứng là rất khó khăn Cuối cùng, thẩm phán của phiên toà, thẩm phán Thomas Penfield Jackson, đã thấy Microsoft phạm tội độc quyền hoá bất hợp pháp và yêu cầu tách Microsoft thành hai hãng Tại phiên toà phúc thẩm, Toà phúc thẩm Hoa Kỳ đã huỷ bỏ quyết định chia tách và yêu cầu thẩm phán Jackson không tham gia tiếp tục vụ kiện Vào tháng 11 năm 2001, Microsoft và
Bộ Tư pháp đạt được một thoả thuận và được thông qua tại một phiên toà khác vào tháng
11 năm 2002 được xử bởi thẩm phán Colleen Kollar-Kotelly Rõ ràng rằng, câu hỏi về sự độc quyền bất hợp pháp đã được minh chứng là khá thách thức với tất cả những ai quan tâm Bạn nên cố gắng có kết luận của chính mình và bàn luận những lập luận của mình với các bạn cùng lớp và giáo viên Vụ kiện này có lẽ sẽ cũng được tranh cãi trong nhiều năm
Nguồn: Alan Reynolds, “US v Microsoft”, The Wall Street Journal, 4/4/1999; “Big Friendly Giant”, The Economist, 30/1/1999; John R.Wilke và Keithe Perine, “Final Government Witness Testifies Against Microsoft in Antitrust Trial”, The Wall Street Journal, 6/1/1999;
“Lessons from Microsoft”, The Economist, 6/3/1999; Garry S.Becker, “Uncle Sam Has No Business Busting up Microsoft”, Business Week, 19/1/2000; Don Clack, Mark Wigfield, Nick
Wingfield và Rebecca Buckman, “Judge Approves Most of Pact, in Legal Victory for
Microsoft”, The Wall Street Journal, 1/11/2002.
6.2 Tối đa hóa lợi nhuận của hãng độc quyền bán thuần túy trong ngắn hạn 6.2.1 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận
Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng độc quyền giống điều kiện tối đa hóa lợi nhuận chung của các hãng mà chúng ta đã nghiên cứu trong bài 4
MR = MC
Trang 10Hình 6.3 Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận của hãng độc quyền
Giả sử hãng sản xuất tại mức sản lượng Q1 < Q* Xét riêng tại mức sản lượng thứ Q1 Nếu hãng bán được thì doanh thu tăng thêm MR AQ 1 Để sản xuất thêm sản lượng thứ Q1 thì chi phí thêm MC BQ 1
Ta thấy MR > MC tức là doanh thu tăng thêm lớn hơn chi phí bỏ thêm để sản xuất sản lượng thứ Q1
Suy ra lợi nhuận tăng là AB (khoảng cách theo chiều dọc giữa MC và MR) Bất kỳ sản lượng nào có MR > MC thì việc sản xuất và bán thêm sản lượng sẽ làm tăng lợi nhuận của hãng
Từ Q1 đến Q* là các mức sản lượng có MR > MC hãng sản xuất và bán thêm sản lượng thì lợi nhuận sẽ tăng lên
Xét riêng tại mức sản lượng thứ Q2
Nếu hãng bán được thì doanh thu tăng thêm
Ta thấy NQ2 MQ2 MC MR, hay lợi nhuận giảm
Tại đơn vị sản lượng thứ Q2 là giảm lợi nhuận của hãng là
MN( khoảng cách theo chiều dọc giữa MC và MR)
Bất kỳ sản lượng nào có MC > MR thì việc sản xuất và bán thêm sản lượng sẽ làm giảm lợi nhuận của hãng
Từ Q2 về Q* là các mức sản lượng có MC > MR hãng sản xuất và bán thêm sản lượng thì lợi nhuận sẽ giảm xuống
Thương hiệu độc quyền
Trang 11Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
Nếu MR < MC thì giảm Q sẽ tăng
Vậy tại Q* thì hãng tối đa hóa lợi nhuận, hãng độc quyền bán tối đa hóa lợi nhuận của mình tại điểm doanh thu biên bằng với chi phí cận biên
6.2.2 Lựa chọn sản lượng tối ưu của hãng độc quyền trong ngắn hạn
Dựa vào công thức tính lợi nhuận chúng ta có thể xác định lợi nhuận của hãng độc quyền như sau:
π = TR – TC Chúng ta có thể đưa công thức trên về dạng:
π = P.Q – ATC × Q = (P – ATC) × Q Phương trình xác định lợi nhuận này cho chúng ta biết:
Hãng có lợi nhuận kinh tế dương khi P > ATC
Hãng có lợi nhuận kinh tế bằng 0 khi P = ATC
Hãng bị thua lỗ nhưng vẫn tiếp tục sản xuất khi AVC < P < ATC
Hãng đóng cửa sản xuất khi P < AVC
Ngoài ra chúng ta có thể thấy rõ hơn thông qua đồ thị chứng minh như sau:
a Xét giá thị trường P 0 > ATC
Khi giá thị trường P0 > ATC ta xác định được mức sản lượng trên thị trường Q* Doanh
Trang 12b Xét giá thị trường P 0 = ATC
Khi giá thị trường P0 = ATC ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là Q* Doanh thu của hãng độc quyền là: *
Lợi nhuận mà hãng thu được bằng 0 hay hãng hòa vốn
Điểm E là điểm hòa vốn với mức giá thị trường P0 = ATC
Phòa vốn = ATC Vậy hãng hòa vốn khi mức giá thị trường P0 = ATC
MR
Hình 6.5 Lựa chọn sản lượng trong trường hợp P = ATC
c Xét giá thị trường AVC < P 0 < ATC
Khi giá thị trường AVC < P0 < ATC ta xác định được mức sản lượng trên thị trường là
Q* Doanh thu của hãng độc quyền là: TR = PxQ* = *
0
OP EQSTổng chi phí của hãng là TC = ATC x Q* = SOABQ *
OP EQ OABQ
S S S < 0 Vậy khi giá thị trường AVC< P0 < ATCthì hãng bị lỗ
Khi bị lỗ hãng có tiếp tục sản xuất?
Trang 13Bài 6: Thị trường độc quyền thuần túy
Do đó, hãng sẽ tiếp tục sản xuất để mức lỗ là nhỏ nhất và hãng chỉ bị thua lỗ một phần chi phí cố định Trong trường hợp này, hãng tối đa hóa lợi nhuận hàm ý phải tối thiểu
MC
E N M
P0
Tối thiểu lỗ
P
Hình 6.6 Lựa chọn sản lượng trong trường hợp AVC < P 0 < ATC
d Xét giá thị trường P ≤ AVC
Giả sử giá thị trường P0 = AVC Doanh thu của hãng độc quyền là:
TR = P x Q* = *
0
OP EQSTổng chi phí của hãng là TC = ATC x Q* = SOABQ *
OP EQ OABQ
S S S < 0 Hãng bị lỗ phần diện tích SABEP0
So sánh phần thua lỗ với chi phí cố định:
Hình 6.7 Lựa chọn sản lượng trong trường hợp P 0 = AVC
Giả sử lúc này giá thị trường giảm xuống P0 < AVC thì hãng không chỉ lỗ toàn bộ chi phí cố định mà còn mất một phần chi phí biến đổi
Q*
ATC
ATC